Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2-5: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999

Bảng 2-5: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999

Tải bản đầy đủ - 0trang

39

Các hồ chứa nước tại Nghệ An chủ yếu được thiết kế và xây dựng từ những

năm 1970 – 1980. Đến nay do điều kiện khí hậu biến đổi, theo kịch bản biến đổi khí

hậu ở vùng Nghệ An thì nhiệt độ trung bình tăng từ 2 đến 3 0C, nhiệt độ thấp nhất

trung bình tăng từ 2,2 đến 3,00C, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,2 0C.

Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35 0C tăng từ 15 đến 30 ngày. Về lượng mưa, theo

kịch bản phát thải trung bình, lượng mưa năm tăng phổ biến từ 2 đến 7. Xu thế

chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng. Khi nhiệt độ trung

bình tăng, lượng mưa giảm trong mùa khô dẫn đến cần phải tăng hệ số tưới hay nhu

cầu tăng lên. Hệ số tưới mặt ruộng (q- l/s/ha): được tính tốn theo phương pháp của

tổ chức Nơng nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) lập ra có tên chương trình là

Cropwat:

* Xác định lượng bốc hơi mặt ruộng ETcrop

ETcrop = ET0.Kc



(2-1)



Trong đó:

- ET0: là lượng bốc hơi tiềm năng được tính theo cơng thức PermanMonteith. Trong đó ET0 là hàm số của nhiệt độ khơng khí (C0), độ ẩm khơng khí

(%), tốc độ gió (m/s), thời gian chiếu sáng (h) và độ bức xạ của mặt trời. Khi nhiệt

độ, tốc độ gió, thời gian chiếu sáng tăng dẫn đến lượng bốc hơi ET0 tăng.

- Hệ số Kc: Hệ số cây trồng

* Xác định lượng nước tưới:

- Đối với lúa nước:

Irreq = (ET0crop + P) – Peff



(2-2)



- Đối với cây trồng cạn

Irreq = ET0crop – Peff



(2-3)



Trong đó:

+ Peff: là lượng mưa hiệu quả - lượng mưa rơi trên mặt ruộng tại thời

điểm tính tốn có thể lợi dụng được thay cho mức tưới.

+ P: là lượng ngấm trên mặt ruộng, được tính bằng lượng ngấm ổn

định nhân với thời gian tính tốn.

Ngồi lượng nước tưới cho cây trồng tính từ thời điểm gieo cấy đến khi thu

hoạch, đối với lúa còn phải kể tới lượng cấp cho mạ và làm ải hoặc làm dầm.



40

Từ công thức (2-2), (2-3) ta thấy rằng khi lượng mưa trong mùa khô giảm

Peff giảm  lượng nước tưới tăng (Irreq tăng)

* Hệ số tưới mặt ruộng (q):

Sau khi xác định được lượng nước cần tưới cho từng loại cây trồng ở từng

giai đoạn (trong chương trình tính cho 10 ngày một).

q



Irreq

(l/s/ha)

86,4.T



(2-4)



Trong đó:

- T: Thời gian tưới, đơn vị là ngày.

- Irreq: Lượng nước tuới thời đoạn, đơn vị là m3.

* Tính tốn nhu cầu dùng nước của khu tưới:

Căn cứ vào kết quả tính toán hệ số tưới cho từng tháng của từng loại cây trồng,

từ sơ đồ bố trí thời vụ cây trồng của vùng tưới có thể xác định được:

Yêu cầu nước tại mặt ruộng:

Mmr =



 q .F .T

i



i



i



(m3)



(2-5)



Trong đó:

+ qi: Hệ số tưới mặt ruộng của từng loại cây trồng trong thời gian tính tốn (l/s/ha).

+ Fi: Diện tích từng loại cây trồng (ha).

+ Ti: Thời gian tính tốn (sec).

Theo kết quả tính tốn nhu cầu dùng nước cho cây trồng trên 1ha tăng từ 2-5

so với điều kiện khí hậu bình thường. Vì lượng mưa giảm trong mùa khơ nên hiện

nay theo quy phạm thiết kế cơng trình thuỷ lợi Việt Nam đã tăng tần suất đảm bảo

cấp nước từ 75 lên 85. Với tần suất đảm bảo cấp nước P85 thì lượng mưa đến

giảm sẽ dẫn đến phải tăng hệ số tưới cho cây trồng. Khi hệ số tưới tăng lên đồng

nghĩa với việc tăng nhu cầu dùng nước phục vụ sản xuất nơng nghiệp dẫn đến tăng

dung tích hữu ích hồ chứa nước.

b. Ảnh hưởng lượng nước đến hồ chứa

Theo kịch bản biến đổi khí hậu thì lượng mưa giảm trong mùa khô và tăng

trong mùa mưa. Quá trình vận hành hồ chứa tích nước trong cả mùa khô, mùa mưa

lũ lượng nước đến thừa sẽ được xả qua tràn xả lũ, mặt khác trong mùa khô nhu cầu



41

tưới cao nhất. Lượng nước đến hồ chứa giảm trong mùa khơ sẽ ảnh hưởng đến quy

trình điều tiết hồ đã thiết kế. Cụ thể là trong mùa khô thiếu nước tưới, còn trong

mùa mưa thì thừa nước. Suy giảm dòng chảy kiệt sẽ là nguyên nhân làm cho các hồ

chứa bị cạn kiệt trong mùa khơ, trong vùng có khoảng 500 hồ đập nhỏ khả năng

điều tiết kém sẽ bị suy giảm nguồn nước trong mùa kiệt, ảnh hưởng đến sản xuất và

sinh hoạt. Điển hình là năm 2010 nhiều hồ chứa mực nước hạ thấp dưới mực nước

mực chết như hồ Vực Mấu, hồ Khe Lai, hồ Tràng Đen, hồ Khe Là, hồ Sông

Sào.v.v... làm trên 20.000ha bị thiếu nước và gần 25 diện tích vụ Hè Thu không

thể gieo trồng. Giải pháp để khắc phục được điều kiện này là phải nâng cao dung

tích hữu ích của hồ để trữ đủ lượng nước cần trong mùa mưa để tưới cho mùa khơ.

c. Suy giảm dòng chảy kiệt ở hạ du và xâm nhập mặn

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài

Nguyên và Môi Trường giới thiệu tháng 6 năm 2009 đối với vùng Nghệ An. Kết

quả tính tốn phát thải thấp, trung bình và cao cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực

nước biển có thể dâng thêm 28 đến 33cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng

thêm 65 đến 100cm so với thời kỳ 1980-1990. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

và nước biển dâng, nhu cầu sử dụng nước tăng cao làm cho mặn trên các con sông

ngày càng xâm nhập sâu. Quá trình tính tốn thuỷ lực kiệt mặn, nồng độ mặn lớn

nhất là 10/00 xâm nhập rất sâu vào trong nội địa. Đến năm 2050 nồng độ mặn max

10/00 xâm nhập sâu thêm 2-3km so với giai đoạn 2030. Tình hình xâm nhập mặn làm

cho hoạt động của các trạm bơm và cống lấy nước dọc sơng rất khó khăn, nhiều

điểm khơng thể lấy được nước. Qua số liệu tính tốn đến năm 2050 mặn sẽ làm cho

23.500ha canh tác vùng Nam Hưng Nghi, vùng sông Bùng bị thiếu nguồn nghiêm

trọng. Trong đó có khoảng 5.500ha ni trồng thuỷ sản nước ngọt, nước mặn lợ

vùng cửa sông ven biển bị thiếu nguồn nước pha loãng nồng độ mặn. Đối với bộ

phận dân cư vùng cửa sơng Hồng Mai, sơng Bùng, sơng Cả sẽ không đủ nguồn

nước sinh hoạt ảnh hưởng đến đời sống ước tính khoảng 200.000-250.000 người

nguồn Tổng cục thuỷ lợi. Kết quả tính tốn thuỷ lực mùa kiệt cho thấy với mức

suy giảm dòng chảy kiệt, nhu cầu dùng nước tăng cao không những mặn xâm nhập



42

sâu và nồng độ lớn hơn mà mực nước trên các triền sông xuống thấp không đảm

bảo cho việc lấy nước. Để khắc phục nguy cơ trên cần phải kết hợp việc xây dựng

các cống ngăn mặn ở cửa sông và cải thiện mực nước kiệt trên sông thông qua các

hồ chứa. Nâng cao dung tích trữ hồ chứa để xả nước về hạ du đẩy mặn ra ngoài là

một trong những giải pháp khắc phục điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

2.3. Kết luận

Hồ chứa nước có tầm quan trọng đặc biệt rất lớn đối với phòng chống lũ, lụt,

hạn hán, tưới tiêu và các nhu cầu dùng nước khác. Về mùa mưa bão hồ cắt lũ, chậm

lũ. Về mùa kiệt cấp nước đáp ứng yêu cầu tưới, cấp nước công nghiệp, sinh hoạt,

giao thông thủy, đẩy mặn, giữ gìn mơi trường sinh thái.

Tuy nhiên có khơng ít hồ chứa nước xuống cấp nhanh, hiệu quả sử dụng thấp.

Nhu cầu dùng nước thay đổi làm cho các hồ chứa đã xây dựng không đáp ứng được

yêu cầu thực tế. Mặt khác, do biến đổi khí hậu làm thay đổi bất lợi lưu lượng tới hồ

làm cho khả năng tháo không đảm bảo đã gây ra sự cố mất an tồn hồ chứa. Bởi

vậy, khi tính tốn thiết kế hồ chứa cần kể đến tác động của biến đổi khí hậu và nước

biển dâng, đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống đầu mối cơng trình là vấn

đề hết sức quan trọng và đặc biệt có ý nghĩa.



43



CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO DUNG TÍCH HƯU ÍCH

CỦA HỒ CHỨA NƯỚC Ở NGHỆ AN

3.1. Đặc điểm tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội Nghệ An

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên

Nghệ an là một tỉnh đầu phía Bắc miền trung, vị trí ở 18030’ đến 20001’ vĩ độ

bắc, 103050’-106030’ kinh độ đơng, tổng diện tích đất tự nhiên 1.648.723 ha, trong

đó: Miền núi và trung du 1.401.415 ha (chiếm 85% diện tích tồn tỉnh), Diện tích

rừng 737.628 ha, diện tích đất nơng nghiệp là 195.944 ha, chiều dài bờ biển gần

100km.

Do địa hình có nhiều đồi núi (phía tây của Tỉnh là vùng đồi núi trùng điệp)

nên có mật độ sông suối tương đối dày (0,6-0,7 km/km2), sông Cả là sơng lớn nhất

của tỉnh: có diện tích lưu vực 27.380 km2, dài 400km (thuộc lãnh thổ Viêt Nam) và

nhiều con sơng nhánh.

Thời tiết khí hâu:



44

- Tình hình mưa: Lượng mưa năm trung bình tư 1.800-2.200mm. Tập trung

vào các tháng mùa lũ (từ tháng 8 đến tháng 10) chiếm 50-70% lượng mưa cả năm

gây ra lũ chính vụ và từ tháng 4 đến tháng 5 thường xẩy ra lũ tiểu mãn.

- Lượng mưa ngày lớn nhất đã xuất hiện 778mm ở Đô Lương ngày 27/9/1978;

ở Phúc tăng (Yên Thành) 571,6mm (ngày 26/9/1978); Quán Hài (Yên Thành)

529,6mm (ngày 27/9/1978).

- Lượng mưa đợt (3-7 ngày) đã xuất hiện 1.639mm ở Đô Lương (ngày 25/929/9/1978), ở Phúc tăng (Yên Thành) 1.664 mm (đợt mưa từ ngày 16/9-23/9 và từ

26/9-29/9/1978); ở Quỳ Hợp 1.540 mm (từ ngày 26-29/9/2009); ở Vinh 1.300 mm

(ngày 02/01/1974).

- Tình hình nhiệt độ: số giờ nắng bình quân của tỉnh là 1.600 giờ/năm; nhiệt độ

cao nhất là Tương Dương 42,70C (ngày 12/5/1966); thấp nhất là ở Quỳ Hợp -0,3 0C

(ngày 02/01/974)

- Tình hình bốc hơi: Bốc hơi bình quân các trạm đo trong tỉnh là

991,3mm/năm

- Tình hình gió bão: Hàng năm có 2-3 cơn bão đổ bộ trực tiếp hoặc có ảnh

hưởng đến Nghệ An và thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11.

Gió Lào khơ nóng xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 8. Hàng năm có khoảng 2030 ngày gió Lào, các thung lũng phía Tây có nơi tới 40 đến 50 ngày gây ra khơ

nóng và hạn hán nghiêm trọng.

3.1.2. Tình hình dân sinh kinh tế xã hội

a. Dân cư và lao động

Nghệ An là tỉnh lớn nhất so với cả nước : Dân số (đến năm 2010) khoảng 2,94

triệu người, mật độ bình quân 207 người/km 2, vùng đồng bằng ven biển tập trung

dân cư rất cao có nơi đạt tới 450 – 560 người/km 2. Dân số thành thị chiếm 15%,

nông thôn chiếm 85%.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2-5: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×