Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương V: Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Chương V: Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đây là nhận định sai.

Theo Điều 24 Nghị định 163/2006/NĐ-CP tài sản được cho thuê vẫn được phép dùng để thế

chấp, bên thế chấp thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp

Và về nguyên tắc tài sản đem cho đi thuê vẫn thuộc về quyền quản lý của bên vay, phù hợp

với Khoản 1 Điều 295 BLDS 2015

* Tuy nhiên quy định này không áp dụng đối với tài sản đi thuê trong quan hệ cho th tài

chính của cơng ty CTTC.

2. Tài sản đăng kí giao dịch bảo đảm phải thuộc sở hữu của người đăng kí giao dịch bảo

đảm.

Đây là nhận định sai.

Theo Khoản 1 Điều 8 Nghị định 102/2017/NĐ-CP qui định: “người yêu cầu đăng kí giao

dịch bảo đảm bao gồm: Bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, bên bán tài sản, bên mua tài sản

trong trường hợp chuyển nhượng, mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu, quản tài viên,

doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả

năng thanh toán cho người khác vay tài sản nhưng không thực hiện việc đăng ký biện pháp

bảo đảm hoặc người đại diện hợp pháp của các chủ thể này.”

 Như vậy tài sản đăng ký giao dịch bảo đảm không cần phải là sản của người đăng ký.

3. TCTD không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD cho vay.

Đây là nhận định đúng.

Theo Khoản 5 Điều 126 LTCTD 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng khơng được cấp tín

dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc cơng ty con

của tổ chức tín dụng.”

* Định nghĩa cấp tín dụng: Khoản 14 Điều 4 luật các TCTD 2010

“14. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam

kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay,

chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh tốn, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín

dụng khác.”



4. Cơng ty cho th tài chính được quyền phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn.

Đây là nhận định đúng.

Theo Khoản 2 Điều 112 LTCTD qui định công ty CTTC được phát hành chứng chỉ tiền gửi,

kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn.

5. Tài sản trong biện pháp thế chấp luôn phải là bất động sản

Đây là nhận định sai.



Theo Khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006 qui định các đối tượng phải đăng ký giao dịch

bảo đảm bao gồm:

1. Các trường hợp phải đăng ký bao gồm:

a) Thế chấp quyền sử dụng đất;

b) Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng;

c) Thế chấp tàu bay, tàu biển;

d) Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.



6. Giao dịch đảm bảo chỉ có hiệu lực pháp lý khi được đăng kí.

Đây là nhận định sai.

Theo Khoản 1 Điều 10 Nghị định 163/2006/NĐ-CP qui định giao dịch bảo đảm được giao

kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ 4 trường hợp ngoại lệ được qui định tại

các điểm Khoản này.

7. Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng.

Đây là nhận định đúng.

Theo Khoản 13 Điều 4 LTCTD 2010

8. Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.

Đây là nhận định sai.

Theo K1 Đ 10 nghị định 163/2006/NĐ-CP qui định các trường hợp ngoại lệ:

“a) Các bên có thoả thuận khác;

b) Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố

c) Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là

rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp;

d) Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm cơng chứng hoặc chứng thực trong

trường hợp pháp luật có quy định.”

9. Hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản và có cơng chứng, chứng thực mới có

hiệu lực pháp luật.

Đây là nhận định sai.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Thơng tư 39/2016/TT – NHNN thì thỏa thuận cho vay

phải được lập thành văn bản.

Về việc phải công chứng, chừng thực mới có hiệu lực PL: không bắt buộc, trong trường hợp

các bên có yêu cầu thì HĐTD có thể được công chứng theo thủ tục quy định tại Điều 40 Luật

Công chứng 2014.



*Lý luận của Hà Mã: HĐ tín dụng về nguyên tắc đã được các VBPL ngân hàng khác quy

định, điều chỉnh về trình tự, nguyên tắc, quy trình… Việc bắt buộc phải cơng chứng tạo ra sự

chồng chéo về chức năng, cản trở việc thực hiện HĐ tín dụng, tạo nên gánh nặng cho hệ

thống tài chính-ngân hàng, hành chính.

10. Tín dụng ngân hàng là một hình thức của hoạt động cho vay.

Đây là nhận định sai.

Theo Khoản 14 Điều 4 LTCTD 2010 qui định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức,

cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo ngun

tắc có hồn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh tốn, bảo

lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”

 Hoạt động cho vay là một hình thức của tín dụng ngân hàng.

11. Ngân hàng phải có nghĩa vụ cho vay nếu bên vay có tài sản thế chấp.

Đây là nhận định sai.

Theo Khoản 2 Điều 7 luật các TCTD 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngồi có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ khác nếu thấy

khơng đủ điều kiện, khơng có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật.”

Theo Khoản 5 Điều 126 LTCTD 2010 thì “Tổ chức tín dụng khơng được cấp tín dụng trên

cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc cơng ty con của tổ chức

tín dụng.”

12. Cơng chứng, chứng thực và đăng kí giao dịch bảo đảm có ý nghĩa pháp lý như nhau và

có thể thay thế cho nhau.

Đây là nhận định sai.

a) Công chứng: Theo Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014 qui định “Công chứng là việc

công chứng viên của một tổ chức hành nghề cơng chứng chứng nhận tính xác thực, hợp

pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản…”

Công chứng nhằm để kiểm tra tính hợp pháp của giấy tờ; các điều kiện về chủ thể khi giao

kết hợp đồng: năng lực hành vi dân sự, sự nhận biết của cá nhân khi giao kết hợp đồng, giao

dịch, ý chí của chủ thể.

Hợp đồng đã được cơng chứng thì đương nhiên có hiệu lực, trừ khi tòa tun vơ hiệu.

b) Đăng ký giao dịch bảo đảm: Theo Khoản 1 điều 3 nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày

23/07/2010 của chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm quy định: “Đăng ký biện pháp bảo

đảm là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về việc bên

bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm;”

Mục

đích

của

việc

đăng

ký:

+ Cơng khai hóa các giao dịch bảo đảm cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu.

+ Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm trong trường hợp dùng

một

tài

sản

để

bảo

đảm

thực

hiện

nhiều

nghĩa

vụ

+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch bảo đảm, đồng thời của các cá



nhân và tổ chức khác có liên quan; phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật … trong lĩnh

vực

ngân

hàng.

+ Góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tín dụng khơng những phát triển nhanh, ổn

định, bền vững, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét xử của tòa án đối với tranh

chấp

về

giao

dịch

bảo

đảm.

+ Việc đăng ký giao dịch bảo đảm có giá trị đối kháng với người thứ ba

13. Tổ chức tín dụng khơng được cho Giám đốc của chính tổ chức tín dụng vay vốn.

Đây là nhận định đúng.

Theo điểm a Khoản 1 Điều 126 LTCTD 2010

14. Mọi tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng đều phải tuân theo hạn mức

cấp tín dụng.

Đây là nhận định đúng.

Khoản 1 và 2 Điều 128 Luật các TCTD 2010 qui định các hạn mức cấp tín dụng của các tổ

chức tín dụng.

K7 Đ 3 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN theo định nghĩa thì hạn mức là 2 bên thỏa thuận (trong

mức mà pháp luật cho phép là 15%).

Các trường hợp ngoại lệ:

• Theo Khoản 3 Điều 128 liệt kê các ngoại lệ bao gồm: các khoản cho vay từ nguồn vốn

ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là tổ chức

tín dụng khác.

• Theo Khoản 7 Điều 128 qui định: “Trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội mà khả năng hợp vốn của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

chưa đáp ứng được nhu cầu của một khách hàng thì Thủ tướng Chính phủ quyết định

mức cấp tín dụng tối đa vượt quá các giới hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều

này đối với từng trường hợp cụ thể.”

Theo Khoản 8 Điều 128 qui định: “Tổng các khoản cấp tín dụng của một tổ chức tín dụng,

chi nhánh ngân hàng nước ngồi quy định tại khoản 7 Điều này khơng được vượt quá bốn

lần vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi.”

 Hạn chế rủi ro cho các TCTD (không để các trứng trong cùng 1 giỏ), tránh sự tùy tiện

cho vay của các NH, thủ tướng CP.

15. Một khách hàng không được vay vượt quá 15% vốn tự có tại một ngân hàng.

Đây là nhận định đúng.

Theo K1 Điều 128 LTCTD 2010 qui định “Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách

hàng khơng được vượt q 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mơ; …”

16. Tổ chức tín dụng được quyền dùng vốn huy động để đầu tư vào trái phiếu.

Đây là nhận định đúng.

Theo Khoản 3 Điều 107, Khoản 3 Điều 111 Luật các TCTD 2010 thì NHTM, CTTC được

mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.

Theo Khoản 3 Điều 116 thì cơng ty cho th tài chính được mua trái phiếu chính phủ.

HTX, quỹ tín dụng ND và cơng ty tài chính vi mơ khơng có quy định.



Theo Khoản 1 Điều 7 Nghị định 01/2011/NĐ-CP qui định: “Đối tượng mua trái phiếu là tổ

chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài.” Như vậy tất cả các tổ chức tín

dụng đều được mua trái phiếu chính phủ.

• Lý do: mục đích của cơng ty cho th tài chính là cho DN vay dưới cho thuê tài chính,

cho thuê vận hành, …nếu mua trái phiếu thì sẽ thành chủ nợ, mất sự tập trung vào mục

tiêu ban đầu là cho th tài chính.

Theo Khoản 5 Điều 3 Thơng tư 22/2016/TT-NHNN qui định: “Các tổ chức tín dụng, chi

nhánh ngân hàng nước ngồi khơng được vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngồi khác để mua trái phiếu doanh nghiệp.” TCTD vay TCTD khác là một

hình thức huy động vốn.

CSPL: Khoản 4 Điều 128 Luật các TCTD 2010 qui định: “… đầu tư vào trái phiếu do

khách hàng, người có liên quan của khách hàng đó phát hành.”

17. Con của giám đốc ngân hàng có thể vay tại chính ngân hàng đó nếu như có tài sản bảo

đảm.

Đây là nhận định sai.

CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 126 LTCTD 2010

18. Chủ thể cho vay trong quan hệ cấp tín dụng cho vay là mọi tổ chức tín dụng.

Đây là nhận định đúng.

Theo điểm b khoản 12 Điều 4 LTCTD 2010 thì cấp tín dụng là hoạt động ngân hàng. Như

vậy, có nghĩa là chủ thể cho vay trong quan hệ cấp tín dụng cho vay là mọi tổ chức tín dụng.

19. Hợp đồng tín dụng vơ hiệu thì hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng

đó đương nhiên chấp dứt hiệu lực pháp lý.

Đây là nhận định sai.

Khoản 1 Điều 15 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định:

“Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì

giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ

được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Như vậy việc hợp đồng bảo đảm có chấm dứt hiệu lực pháp lý hay khơng thì phụ thuộc vào

sự thỏa thuận của các bên.

20. Tổ chức tín dụng chỉ cho vay trên cơ sở nhu cầu vốn của khách hàng và vốn tự có của

tổ chức tín dụng đó.

Đây là nhận định sai.

Theo Điều 7 Thông tư 39/2016 quy định các điều kiện của khách hàng để TCTD xem xét,

quyết định cho vay:

“1. Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.

Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy

định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế

năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương V: Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×