Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGOẠI TỆ TRONG NƯỚC TRONG CÔNG TÁC CHỐNG ĐÔ LA HÓA HIỆN NAY

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGOẠI TỆ TRONG NƯỚC TRONG CÔNG TÁC CHỐNG ĐÔ LA HÓA HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

loạt giải pháp nhằm chống đơ-la hóa nền kinh tế bằng các quy phạm pháp luật. Cụ thể

ngày 02/10/2015, NHNN ban hành Thông tư 15/2015/TT-NHNN hướng dẫn giao dịch

ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trong nước giữa các Tổ chức tín dụng (TCTD) được

phép hoạt động ngoại hối với nhau và giữa TCTD được phép hoạt động ngoại hối với

khách hàng, trong đó khuyến khích các ngân hàn thương mại sử dụng công cụ phái

sinh kỳ hạn trong giao dịch với khách hàng. Ngày 17/12/2015, NHNN ban hành Quyết

định 2589/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức, cá

nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngồi. Theo đó, mức lãi suất áp dụng đối

với tiền gửi của tổ chức (trừ TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) đều là 0%.

NHNN ban hành Thông tư 24/2015/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của

TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú trong

đó quy định kể từ sau ngày 31/3/2016, một trong bốn nhóm đối tượng có nhu cầu vay

ngoại tệ thuộc diện bị cấm bao gồm trường hợp doanh nghiệp chỉ muốn vay ngoại tệ

sau đố bán đi lấy tiền đồng để hưởng mức chênh lệch lãi suất cao. Có thể khẳng định,

đây là những giải pháp mạnh nhằm tiếp thục thực hiện chủ trương chống “đơ-la hóa”

của Chính phủ, khuyến khích doanh nghiệp và người dân chuyển sang nắm giữ VNĐ

để hưởng lợi tức cao hơn thay vì đầu cơ tích trữ USD.

2.2 Xoá bỏ giấy phép hoạt động kiều hối và giấy phép lập bàn thu đổi ngoại tệ,

chuyển sang kinh doanh có điều kiện

2.2.1 Quy định pháp luật điều chỉnh

Hiện nay chính sách quản lý và sử dụng kiều hối được thực biện theo các quy

định tại ND89/2016/ND-CP ngày 01/7/2016 của CP quy định điều kiện đối với hoạt

động đại lý đổi ngoại tệ, hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ của tổ

chức kinh tế; QĐ21/2008/QĐ-NHNN ngày 11 tháng 7 năm 2008 của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước ban hành quy chế đại lý đổi ngoại tệ; TT11/2016/TT-NHNN ngày 29

tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một

số văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại

tệ, hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, bàn đổi ngoại tệ của cá nhân; QĐ số 170/1999/QĐTtg ngày 19/8/1999 về việc khuyến khích người Việt Nam ở nước ngồi chuyển tiền

về nước ( sửa đổi bổ sung tại QD78/2002/QD-TTg). Với xu thế hội nhập của nền kinh

tế, mạng lưới cung cấp dịch vụ nhận và chi trả kiều hối tại Việt Nam cũng đa dạng,

phong phí hơn. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp được tham gia cung ứng dịch vụ kiều hối

nhằm thu hút kiều hối từ nước ngoài chuyển về hệ thống TCTD dc phép kinh doanh.

5



Khái niệm bàn đổi ngoại tệ bước đầu xuất hiên tại Quyết định số 103/QĐ-NH7

ngày 03/4/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành "Quy chế hoạt

động của bàn thu đổi ngoại tệ", sau cùng được thay thế bởi Quyết định số

1216/2003/QĐ-NHNN ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2003 ban hành quy chế hoạt

động của bàn đổi ngoại tệ. Theo đó, bàn đổi ngoại tệ là tổ chức dc NHNN cho phép

thực hiện các hoạt động thu đổi ngoại tệ tiền mặt bao gồm: bàn trực tiếp và bàn đại lý 4.

Bàn trực tiếp là bàn đổi ngoại tệ của các tổ chức tín dụng dc phép hoạt động ngoại hối

trực tiếp làm dịch vụ đổi ngoại tệ. Bàn trực tiếp dc đặt tại Hội sở chính, trụ sở chi

nhánh của tổ chức tín dụng và các địa điểm khác đã đăng ký với NHNN Việt Nam chi

nhánh tỉnh (thành phố). Hiện nay, khi có nhu cầu, các tổ chức tín dụng được phép có

thể ủy quyền cho tổ chức kinh tế làm đại lý đổi ngoại tệ. Các tổ chức thuộc mọi thành

phần đều có thể làm Đại lý đổi ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng được phép hoạt động

ngoại hối, trên cơ sở hợp đồng đại lý đổi ngoại tệ giữa tổ chức tín dụng và tổ chức đó.

Tuy nhiên, tổ chức kinh tế này vẫn phải thỏa mãn các điều kiện tại NĐ89/2016/NĐ-CP

và thực hiện theo đúng hồ sơ, trình tự, thủ tục được quy định tại khoản 2 Đ.6

TT11/2016/TT-NHNN.Bàn đổi ngoại tệ chỉ dc phép mua ngoại tệ từ khách hàng ,

không được phép bán. Riêng bàn đổi ngoại tệ tại trụ sở của các ngân hàng hoặc tại cửa

khẩu quốc tế được phép bán ngoại tệ tiền mặt cho cá nhân mang hộ chiếu do cơ quan

có thẩm quyền nước ngồi cấp.5

2.2.2 Thực trạng hoạt động quản lý đại lý đổi ngoại tệ

Trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn tình trạng sử dụng ngoại tệ cho các nhu cầu

thanh toán trên thị trường hàng hóa, dịch vụ… mà hiện nay, chúng ta đang triệt để

nghiêm cấm nhu; việc xóa bỏ giấy phép hoạt động kiều hối và giấy phép lập bàn thu

đổi ngoại tệ, chuyển sang kinh doanh có điều kiện là nhu cầu khách quan và cần thiết.

Phương thức thực hiện là các tổ chức kinh tế có hoạt động cung ứng các loại hàng hóa,

dịch vụ có khả năng thu ngoại tệ tiền mặt từ các khách hàng là ngời nước ngồi khi

thanh tốn tiền hàng hóa, dịch vụ họ đã sử dụng tại đơn vị được một TCTD ủy nhiệm

làm đại lý đổi ngoại tệ trên cơ sở ký hợp đồng đại lý đổi ngoại tệ giữa TCTD và tổ

chức kinh tế được ủy nhiệm và phải đăng ký với NHNN. Vì đây là dịch vụ kinh doanh

có điều kiện nên phải tuân theo các yêu cầu của NHNN và toàn bộ nguồn ngoại tệ thu

được phải bán lại cho các TCTD hằng ngày. Nếu được thực hiện nghiêm túc sẽ đem

lại các tiện ích sau: Thứ nhất, đây là vệ tinh của các tổ chức tín dụng 6. Từ các vệ tinh

4 Khoản 3 điều 2 QĐ số 1216/2003/QĐ-NHNN về việc Ban hành quy chế hoạt động của bàn đổi ngoại tệ

5 Điều 8 QĐ21/2008/NHNN

6 Nguyễn Thị Sương Thu (2011): "Một vài suy nghĩ về tính hiệu quả của đại lý đổi ngoại tệ cho tổ chức tín

dụng", Tạp chí Ngân hàng,(số 01+02), tr.101



6



này, TCTD có thể tập trung một lượng lớn ngoại tệ, tạo nguồn vốn ngoại tệ để thực

hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong lĩnh vực ngoại hối. Thứ hai, đây là loại

hình dịch vụ được pháp luật thừa nhận. Nếu loại hình dịch vụ này phát triển mạnh, có

tổ chức, sẽ góp phần hạn chế sự phát triển của thị trường chợ đen ( thị trường ngoại tệ

khơng chính thức ) qua đó góp phần vào cơng tác quản lý sử dụng ngoại tệ trên lãnh

thổ. Thứ ba, người sở hữu ngoại tệ cũng có điểm giao dịch hợp pháp để thỏa mãn nhu

cầu đổi ngoại tệ. Việc này góp phần to lớn vào cơng tác quản lý ngoại hối nói chung và

thực hiện pháp luật về quản lý sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ nói riêng.

Tính đến nay, có 96 đại lý thu đổi ngoại tệ do NHTM ủy nhiệm (tăng 7 điểm so

với năm 2016)7. Theo quy định, các bàn đổi ngoại tệ chỉ dc mua, không được bán

ngoại tệ cho cá nhân, đồng thời, các đại lý đổi ngoại tệ phải bán toàn bộ số ngoại tệ

tiền mặt đổi dc cho tổ chức tín dụng ủy nhiệm. Tuy nhiên, một số bàn đổi ngoại tệ của

các tổ chức tín dụng ủy nhiệm lại đầu cơ, đẩy giá đô la lên cao để trục lợi. Hiện nay có

hai xu hướng trái chiều nhau về vấn đề hoạt động của các bàn ngoại tệ, đại lý đổi

ngoại tệ: 1) đã đến lúc xem xét có nên cho phép tiếp tục hoạt động hay khơng. Vì hiện

nay, với sự mở rộng của mạng lưới chi nhánh NHTM rộng khắp cả nước, đủ để đảm

bảo cho hoạt động thu đổi ngoại tệ có hiệu quả mà không cần đến quá nhiều chi nhánh.

2) để đảm bảo cho hoạt động thu đổi ngoại tệ thuận tiện, thu hút nhiều hơn ngoại tệ

tiền mặt, cần cho phép mở thêm nhiều đại lý nữa8

Theo tác giả, việc cho phép mở thêm nhiều đại lý thu đổi ngoại tệ là cần thiết,

thậm chí chúng ta cần cân nhắc nới lỏng các điều kiện thành lập. Vì trên thực tế đã nảy

sinh những bất cập nhất định khi xem xét các điều kiện hoạt động được quy định tại

Điều 4 NĐ89/2016/NĐ-CP. Đơn cử tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, cụ thể là thành phố

Hội An ( nơi được cơng nhận là di sản văn hóa thế giới ), một số cơ sở kinh doanh của

doanh nghiệp tư nhân tại địa bàn thành phố cung ứng các dịch vụ như: trang phục may

mặc, cửa hàng bán vải, sản phầm truyền thống ( lồng đèn, sản phẩm dệt tơ tăm,..) có

nhu cầu đăng ký Bàn đại lý đổi ngoại tệ. Vì thực tế đây là địa điểm thu hút lượng lớn

khách du lịch nước ngoài, theo số liệu thống kê gần đây nhất (12/2017) được đưa ra tại

kỳ họp thứ 5 của HĐND TP. Hội An (tỉnh Quảng Nam) khóa XI là 1,78 triệu lượt

khách quốc tế9. Tuy nhiên do không đáp ứng được điều kiện về địa điểm nên đương

nhiên không được cấp giấy chứng nhận đăng ký đại lý đổi ngoại tệ. Phải chăng chúng

ta nên xem xét bổ sung, thay đổi quy định về điều kiện trên, trong trường hợp tổ chức

kinh tế thỏa mãn các điều kiện quy định tại Khoản 1,3,4,5,6,7,8 NĐ89/2016 kinh

doanh tại địa điểm có nhiều khách du lịch, có nhu cầu làm đại lý đổi ngoại tệ được

NHTM thẩm định tren cơ sở nguồn thu ngoại tệ thường xuyên với số lượng nhất định

7 Hải Nam, “Ngoại tệ bớt trôi nổi”, http://thoibaonganhang.vn/ngoai-te-bot-troi-noi-65721.html,truy cập vào lúc

11:48 a.m ngày 16/5/2018

8 Nguyễn Thị Sương Thu, tlđd(6), tr.112

9 Xem thêm tại: http://baochinhphu.vn/Du-lich/Hoi-An-don-hon-32-trieu-luot-khach-du-lich/325617.vgp



7



và đảm bảo có khả năng quản lý sẽ được thực hiện dịch vụ này. Đây là nhu cầu khách

quan cần phải quan tâm.

2.3 Xoá bỏ chế độ thanh toán trực tiếp bằng ngoại tệ tại Việt Nam của các đối

tượng

Tính đến thời điểm hiện nay, về vấn đề thanh toán trực tiếp ngoại tệ tại Việt Nam,

nhằm hạn chế việc sử dụng ngoại hối ( đặc biệt là đồng đô-la Mỹ) trên thị trường Việt

Nam, Quốc hội cũng như NHNN cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật

điều chỉnh vấn đề trên. Cụ thể, ngày 13 tháng 12 năm 2005 Ủy ban thường vụ Quốc

hội ban hành Pháp lệnh Ngoại hối có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 ( nay đã

được sửa đổi bổ sung bởi Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18 tháng 3 năm

2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội); Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết

thi hành Pháp lệnh ngoại hối (nay được thay thế bởi NĐ70/2014/NĐ-CP); ; Thông tư

32/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh

thổ Việt Nam ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2013

Trước thời điểm TT32/2013/TT-NHNN có hiệu lực, trong q trình giải quyết

các tranh chấp phát sinh liên quan đến việc giá ghi trong hợp đồng kinh tế, tồn tại hai

quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, Pháp lệnh chỉ cấm các hành vi "giao

dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo" thực hiện bằng ngoại hối. Hơn nữa ,căn cứ vào

điểm b khoản 3 mục I Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy

định của pháp luật trongviệc giải quyết các vụ án kinh tế để giải quyết, trong nội dung

của hợp đồng kinh tế các bên thỏa thuận sử dụng ngoại tệlàm đồng tiền định giá (để

bảo đảm ổn định giá trị của hợp đồng) nhưng việc thanh tốn là bằng Đồng Việt Nam,

thì hợp đồng kinh tế không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Pháp

lệnh Hợp đồng kinh tế và do đó khơng bịcoi là vơ hiệu tồn bộ. Thậm chí căn cứ Luật

sở hữu trí tuệ, giá cả hàng hóa nhiều khi còn được coi là bí mật kinh doanh nếu giá cả

hàng hóa đó khơng thuộc các trường hợp phải đăng ký, kê khai hay niêm yết theo quy

định pháp luật về giá. Do đó, giá ghi trên hợp đồng bằng ngoại tệ không vi phạm quy

định về quản lý sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Ngược lại, quan điểm thứ

hai cho rằng, mọi giao dịch dc thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam phải bằng đồng Việt

Nam10. TT32/2013 cũng đã giải quyết được vướng mắt này khi quy định tại Điều 4

TT32/2013

10 Th.S Nguyễn Thùy Trang “Một số vướng mắc khi áp dụng các quy định pháp luật về ngoại hối hiện nay”, Tạp

chí Ngân hàng, số 10, tháng 5/2011



8



Về thực trạng kiểm soát giao dịch thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ

tiền mặt, tại khoản 10 Điều 4 TT32/2013, nhằm xóa bỏ hàng rào thuế quan với các

nước trong khu vực, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa phát triển và nâng cao tính chuyển

đổi của đồng VN, Nhà nước cho phép các đối tượng nêu trên được phép nhận thanh

toán bằng đồng ngoại tệ và đồng Việt Nam từ việc cung cấp hàng hóa và cung ứng

dịch vụ. Điều này đồng nghĩa với với việc người dân khu vực này được thoải mái sử

dụng ngoại tệ tiền mặt để thanh toán tại các tổ chức trên. Kết quả là đồng tiền được sử

dụng chủ yếu là USD.

2.4 Thu hẹp đối tượng được phép vay ngoại tệ, chỉ cho vay phục vụ xuất khẩu

Theo IMF, khi một quốc gia cho phép tổ chức tín dụng nhận tiền gửi bằng ngoại

tệ và cho vay bằng ngoại tệ, đồng nghĩa với việc quốc gia đó chấp nhận tình trạng đơ

la hóa tín dụng. Do vậy, để hạn chế, NN cần hướng đến mục tiêu: chấm dứt nhận tiền

gửi và cho vay bằng ngoại tệ. Hiện nay chúng ta mới chỉ trong giai đoạn hạn chế cho

vay ngoại tệ bằng cách thu hẹp đối tượng được vay và làm giảm tính hấp dẫn của các

khoản gửi tiết kiệm (Luật bảo hiểm tiền gửi không cho phép nhận bảo hiểm đối với tài

sản là ngoại tệ, kim loại quý). Cả hai chính sách này đều gặp phải sự phản ứng từ phía

doanh nghiệp và người dân. Doanh nghiệp xuất khẩu không vay được vốn ngoại tệ thì

than khó, than khổ, vì khơng đủ vốn ngoại tệ để thanh tốn ng vật liệu nhập khẩu từ

nước ngồi. Còn người dân thì bức xúc vì nếu ngân hàng nhận tiền gửi của người dân

bằng ngoại tệ thì khơng có lý do gì họ lại khơng dc bảo hiểm khi có rủi ro.

Cụ thể, về vấn đề này, ngày 27/12/2017 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước ban hành

Thông tư 18/2017/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số

24/2015/TT-NHN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh

ngân hàng nước ngồi đối với khách hàng vay là người cư trú. Quy định này được thực

hiện đến hết ngày 31/12/2018. Thơng tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2018.

Theo đó, mục tiêu chuyển dần quan hệ vay mượn ngoại tệ sang quan hệ mua bán đơn

thuần trong toàn hệ thống NH là khá nhất quán và kiên định. Theo đó, lãi suất huy

động USD ở mức 0% còn lãi suất cho vay ngoại tệ này đang dao động từ 2,8 6%/năm. Mục tiêu của việc duy trì lãi suất 0% đối với USD là NHNN muốn chuyển

tất cả giao dịch qua đồng nội tệ, để chống đơ la hóa. Điều này khiến nhiều doanh

nghiệp lo lắng vì tới đây họ sẽ khơng được dùng "phao" tín dụng ngoại tệ trong hoạt

động của mình nữa. Hay cụ thể hơn, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không thể vay

ngoại tệ rồi đổi sang tiền đồng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh

xuất khẩu. Trong khoảng 2 năm trở lại đây, lãi suất cho vay USD tại các ngân hàng

khá ổn định, phổ biến ở mức 2,8 - 6%/năm, tùy kỳ hạn. Trong khi đó lãi suất cho vay

9



các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thông thường bằng VND ở mức 6,8 - 9%/năm đối

với kỳ hạn ngắn hạn; 9,3 - 11%/năm đối với kỳ hạn trung và dài hạn. Với sự chênh

lệch lãi suất giữa USD và VND như hiện nay, doanh nghiệp được vay ngoại tệ sẽ được

hưởng lợi lớn hơn. Họ có thể vay ngoại tệ với lãi suất thấp rồi bán lấy tiền đồng để

mua các nguyên liệu trong nước, máy móc thiết bị, sau đó, doanh nghiệp lại xuất khẩu

hàng hóa lấy ngoại tệ để trả nợ ngân hàng.



10



KẾT LUẬN

Bằng việc đưa ra những cái nhìn tổng quan về đơ la hóa và thực trạng áp dụng các biện

pháp quản lý sử dụng ngoại tệ trong nước, tiểu luận đã làm sáng tỏ về khái niệm,

ngun nhân dẫn đến tình trạng đơ la hóa nền kinh tế cũng như đánh giá tính hiệu quả

và chỉ ra bất cập trong hoạt động quản lý hiện nay. Quy định hạn chế sử dụng ngoại

hối trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện theo Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày

26/12/2013 cùng với các biện pháp khác để hạn chế sử dụng ngoại tệ trong nước đã có

những tác động tích cực góp phần ngăn chặn đáng kể tình trạng đơ la hóa trong nước.

Tuy nhiên, với thực trạng như đã phân tích, việc ban hành hành và áp dụng các văn

bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối còn nhiều bất cập, chưa đảm bảo được

yêu cầu đề ra theo QĐ98/2007/QĐ-Ttg phê duyệt đề án nâng cao tính chuyển đổi của

đồng Việt Nam; khắc phục tình trạng đơ-la hóa nền kinh tế. Như vậy, với đề tài “ Thực



trạng áp dụng các biện pháp quản lý sử dụng ngoại tệ trong nước nhằm

chống tình trạng đơ-la hóa nền kinh tế Việt Nam hiện nay ”, tiểu luận này sẽ

giúp ích trong việc xác định, nhận dạng các bất cập, hạn chế của quy định pháp luật

cũng như việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn quản lý. Qua đó khơng chỉ

giúp người làm cơng tác nghiên cứu mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có góc

nhìn sâu sát với thực tiễn, từ đó đưa ra các biện pháp cũng như cách thức phù hợp.

Tiểu luận này hy vọng có thể là nguồn tài liệu bổ ích cho các cơng trình nghiên cứu

khác có liên quan.



11



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Văn bản quy phạm pháp luật

1. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ( Luật số 46/2010/QH12) ngày 16/6/2010;

2. Luật Các tổ chức tín dụng ( Luật số 47/2010/QH12) ngày 16/6/2010;

3. Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội ngày 13/12/2005;

4. Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại

hối;

5. Quyết định số 98/2007/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề

án nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam,khắc phục tình trạng đơ-la hóa

nền kinh tế;

6. Nghị định số 70/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/7/2014 về việc quy định

chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ

sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối;

7. Nghị định số 89/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/7/2016 về việc quy định

điều kiện đối với hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, hoạt động cung ứng dịch vụ

nhận và chi trả ngoại tệ của tổ chức kinh tế;

8. Quyết định số 1216/2003/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày

09 tháng 10 năm 2003 ban hành quy chế hoạt động của bàn đổi ngoại tệ;

9. Quyết định số 21/2008/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày

11 tháng 7 năm 2008 về việc ban hành quy chế đại lý đổi ngoại tệ;

10. Quyết định số 2589/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 17/12/2015 về

mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức, cá nhân tại TCTD,

chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 06/2014/TTNHNN ngày 17 tháng 3 năm 2014;

11. Thông tư 32/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày 26

tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng

ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam;

12. Thông tư 06/2014/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày

17/3/2014 về việc quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đô la Mỹ của tổ

chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng;



13. Thơng tư số 15/2015/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày

02/10/2015 về việc hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trong

nước giữa các Tổ chức tín dụng (TCTD) được phép hoạt động ngoại hối;

14. Thông tư số 24/2015/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày

8/12/2015 về việc quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú;

15. Thông tư số 11/2016/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

ngày 29 tháng 6 năm 2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm

pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ, hoạt động đại

lý đổi ngoại tệ, bàn đổi ngoại tệ của cá nhân;

16. Thông tư số 18/2017/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nước ngày

27/12/2017 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 24/2015/TTNHNN ngày 08 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt

Nam quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú.

B. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt:

17. Bùi Thị Quỳnh Trang (2016), “Chống đơ-la hóa nền kinh tế: Thực trạng và một

số kiến nghị”, Tạp chí Tài chính ( kỳ 2 số 06 năm 2016)

18. Đinh Xuân Cường, TS. Nguyễn Thị Nhung (2017) “Thị trường ngoại hối Việt

Nam sau hơn 1 năm thực hiện cơ chế tỷ giá trung tâm”, Tạp chí ngân hàng số

11, tháng 6/2017

19. Nguyễn Ngọc Cảnh (2017) “Chính sách quản lý ngoại hối về thu hút và sử

dụng kiều hối tại Việt Nam”, ( số 01 + 02)

20. Nguyễn Thị Sương Thu (2011): "Một vài suy nghĩ về tính hiệu quả của đại lý

đổi ngoại tệ cho tổ chức tín dụng", (số 01+02)

21. Th.S Nguyễn Thùy Trang “Một số vướng mắc khi áp dụng các quy định pháp

luật về ngoại hối hiện nay”, Tạp chí Ngân hàng, số 10, tháng 5/2011

Tài liệu tiếng Anh:

22. Balino T. , A.Bennet and E. Borensztein “Monetary Policy in Dollarized

Economies”, IMF Occasional Paper No.171, Washington D.C;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGOẠI TỆ TRONG NƯỚC TRONG CÔNG TÁC CHỐNG ĐÔ LA HÓA HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×