Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ chế gây bệnh của NNV

Cơ chế gây bệnh của NNV

Tải bản đầy đủ - 0trang

thấy: NNV nhiễm vào nguồn nước, từ thức ăn tươi sống, sau đó vi rút xâm

nhập vào trong cơ thể cá qua da, mang, miệng, ruột, dạ dày, gan, thận, tuyến

sinh dục... Cuối cùng vi rút tấn công vào mô đích là hệ thống thần kinh (não,

tủy sống) và võng mạc. Tại các mơ đích vi rút sinh trưởng, phát triển và gây

hoại tử hệ thần kinh của vật chủ. Nếu vi rút chưa tấn cơng vào não thì cá vẫn

sống sót sau dịch bệnh. Tuy nhiên trứng cá có thể nhiễm vi rút thông qua

tuyến sinh dục và nguồn nước.

Quá trình hoại tử các nơron thần kinh được quan sát thấy ở hầu hết các

loài cá bị nhiễm NNV. Thể vùi nội bào cũng được tìm thấy ở nhiều loài cá đặc

biệt là ở cá mú chấm nâu. Những tổn thương mô bệnh học liên quan tới nhiễm

Betanodavirus chứng minh một cách rõ ràng rằng vi rút tấn công trước tiên

vào hệ thần kinh trung ương và võng mạc, nơi có vị trí tái bản của nó. Tuy

nhiên còn có những quan điểm khác nhau về con đường cũng như phương

thức lây truyền của NNV trong cơ thể cá.

Ngoài ra ở khoang mũi cũng có khả năng là một đường xâm nhập của

vi rút khi phát hiện thấy kháng nguyên ở thùy khứu giác, bên cạnh đường qua

mang, miệng, da (Peducasse và cs, 1999) [53].

Một số tác giả cho biết với kỹ thuật kiểm tra kháng thể huỳnh quang

gián tiếp (IFAT) đã phát hiện thấy vi rút ở những cơ quan khác nhau của

những cá thể cá sống sót sau dịch bệnh như: tuyến sinh dục, gan, thận, ruột,

dạ dày nhưng lại không phát hiện thấy vi rút ở hệ thần kinh trung ương và

võng mạc. Kết quả đó củng cố thêm giả thuyết về quá trình nhiễm vi rút vào

trứng cá qua con đường sinh sản (Ransangan và cs, 2013; Roy và cs, 2010)

[56][59].

1.5. Một số biện pháp phòng bệnh hoại tử thần kinh cho cá mú

VNN đã được phát hiện hơn 20 năm, nhưng những hiểu biết về cơ chế

gây bệnh và dịch tễ học vẫn còn hạn chế, đó cũng có thể là một lý do mà cho

đến hiện nay chưa có loại vắc-xin nào đạt được hiệu quả mong muốn. Vì vậy



những biện pháp đảm bảo vệ sinh, tránh các nguồn lây nhiễm vẫn được coi

như là biện pháp chủ yếu để tránh gây thiệt hại lớn.

Phương pháp kiểm soát thường áp dụng là loại trừ sự có mặt của vi rút từ

các trại sản xuất giống hoặc ở khu vực nuôi vừa bằng cách khử trùng nước

đồng thời là loại trừ vi rút ở cá bố mẹ từ trại giống và vùng nuôi. Một trong

những hóa chất diệt vi rút được dùng nhiều nhất là iodphors có hiệu quả ngay

cả ở nồng độ thấp từ 25-100 ppm (Frerichs và cs, 2000) [32]. Dung dịch

hypochlorite cũng có hiệu quả khá tốt trong khi sử dụng formalin cho kết quả

thấp. Một số thuốc khác được người ni cá dùng để kiểm sốt bệnh do NNV

gây ra và một số bệnh kế phát khác như Oxytetracilline, Flophenicol, PVP

iodine (Arimoto và cs, 1996) [18].

Khử trùng trứng đã thụ tinh bằng ozone với hàm lượng 1g O 3/lít nước

trong 1 phút có thể trung hòa hồn tồn vi rút bám trên bề mặt của trứng do

đó giảm khả năng nhiễm bệnh cho ấu trùng (Grotmol và cs, 2000) [31].

Theo Munday và cs, 2002 nước đi vào bể ương nên được xử lý với

ozone và không tái sử dụng nước. Tuy nhiên, nếu điều kiện khơng cho phép

thì chỉ nên tái sử dụng tối đa 1/2 lượng nước của bể. Nhiều tác giả cũng

khuyến cáo nên xử lý nước với tia UV trước khi đưa vào bể nuôi [45].

Cá bố mẹ được sàng lọc để kiểm tra sự hiện diện của vi rút, vừa kiểm

tra bằng RT-PCR vừa sàng lọc huyết thanh bằng kháng thể đặc hiệu (Breuil và

cs, 2000; Watanabe và cs, 2000) [21][67]. Ngoài ra, các tác giả cũng khuyến

cáo rằng trứng cá nên rửa bằng nước biển với ozon ở hàm lượng 0,2 µg/ml

đối với cá măng sọc (Arimoto và cs, 1996) [16] và 4 µg/ml đối với cá chim

(Grotmol và cs, 2000) [34]. Nakai và cs (1995) [46] cũng khuyến nghị nên

ngâm trứng cá măng sọc với PVP iodine 50 µg/ml trong 10 phút để hạn chế

sự lây nhiễm của vi rút trên trứng. Phương pháp kiểm sốt khác là ni tách

ấu trùng và cá măng sọc giống, nước được diệt khuẩn bằng tia UV ở 1.0x10 5

µW/s.cm2 hoặc ozon ở 0,1 µg/ml từ 2 đến 5 phút, xử lý các dụng cụ với

chlorine nồng độ 50 µg/ml trong 10 phút. Chế độ vệ sinh nghiêm ngặt ở



các trại giống như không tái sử dụng nước, dùng hóa chất sát trùng nước biển

và khử trùng các bể trong suốt chu kỳ ấp nở trứng đã đem lại thành công ở

trang trại sản xuất giống cá chẽm. Chọn lọc cá giống không bị nhiễm vi rút,

mua cá giống đã qua kiểm dịch tại các cơ sở có uy tín và được kiểm sốt chất

lượng chặt chẽ; khử trùng ao, lồng nuôi và các dụng cụ trước khi đưa vào

nuôi.

Để hạn chế sự lan truyền của vi rút theo vùng và giữa các châu lục thì

việc sàng lọc NNV bằng các kỹ thuật chẩn đốn có độ nhạy cao là cần thiết.

Một vài nhóm nghiên cứu trên thế giới đã và đang thử nghiệm dùng vắc-xin

phù hợp để kiểm soát bệnh cho cá. Theo một số báo cáo của Nakai, 2000

[47], Tanaka và cs, 2001 [65], Husgard và cs, 2001 [38] về việc thử nghiệm

sử dụng protein vỏ tái tổ hợp của Betanadovirus để phòng bệnh cho cá ni.

Tuy nhiên hiện vẫn chưa có báo cáo chứng minh được sự biểu hiện protein

mã hóa của NNV cũng như hiệu quả của vắc-xin DNA thế hệ mới

(Sommerset và cs, 2005) [64].

1.6. Kháng nguyên tái tổ hợp và tình hình sử dụng vắc-xin phòng bệnh cho cá

1.6.1. Kháng nguyên tái tổ hợp của tác nhân gây bệnh

Kháng nguyên là những chất lạ từ bên ngoài, sau khi xâm nhập vào cơ

thể sẽ kích thích cơ thể sản sinh kháng thể dịch thể và tế bào mẫn cảm đặc

hiệu chống lại sự xâm nhập và gây bệnh của mầm bệnh.

Kháng nguyên được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất vắc-xin phòng

chống bệnh truyền nhiễm cho động vật thường là kháng nguyên của vi sinh

vật. Thành phần hóa học của kháng nguyên vi sinh vật đều là protein,

lipopolysaccarid, polysaccarid. Trong các loại kháng ngun của vi sinh vật

thì kháng ngun có bản chất là protein và lipopolysaccarid có tính kháng

ngun mạnh và tính đặc hiệu cao (Nguyễn Bá Hiên và Trần Thị Lan Hương,

2010) [4].



Kháng nguyên tái tổ hợp là kháng nguyên (protein miễn dịch) được

sản xuất bằng kỹ thuật di truyền. Công nghệ gen cho phép sản xuất nhiều loại

protein tái tổ hợp khác nhau không những với số lượng lớn mà còn có chất

lượng protein tốt hơn. Cơng nghệ DNA tái tổ hợp cho phép sản xuất số lượng

lớn protein vi rút và được dùng trong sản xuất vắc-xin phòng bệnh do vi rút

gây ra. Về mặt lý thuyết, gen mã hóa bất kỳ protein miễn dịch nào đều có thể

được tạo dòng biểu hiện trong tế bào nhận như nấm men, vi khuẩn, động vật

có vú bằng kỹ thuật DNA tái tổ hợp. Số lượng các gen mã hóa kháng nguyên

bề mặt của tác nhân gây bệnh đặc biệt là vi rút đã được sử dụng để tạo kháng

nguyên tái tổ hợp làm nguyên liệu sản xuất vắc-xin phòng bệnh cho người và

động vật.

Ở cá có hệ thống miễn dịch đặc hiệu vì vậy khi đưa kháng nguyên vào

cơ thể, chúng có khả năng sản sinh ra kháng thể để chống lại các kháng

nguyên, bảo vệ cá tránh tác hại của tác nhân gây bệnh. Áp dụng cơ chế này

mà kháng nguyên thường được sử dụng để sản xuất vắc-xin phòng bệnh nguy

hiểm cho cá và đã đem lại những thành công nhất định.

Trên thế giới, việc sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp để sản xuất vắc-xin

kiểm soát một số bệnh nguy hiểm cho cá nuôi đã được nghiên cứu từ những

năm 1980. Việc ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất ra số lượng lớn

kháng nguyên bằng con đường tái tổ hợp đã giúp tiết kiệm chi phí sản xuất,

an tồn với cá ni. Cơng nghệ DNA tái tổ hợp được sử dụng để sản xuất

kháng nguyên phòng bệnh do vi rút cho cá đã và đang phát triển rất mạnh mẽ.

Có nhiều phương pháp để sản xuất kháng nguyên bằng các kỹ thuật

DNA tái tổ hợp gồm:

- Các kháng nguyên protein tinh khiết được sản xuất từ các gen vi rút nhân bản

trong một loạt các hệ thống vector biểu hiện.

- Tổng hợp hóa học hoặc sử dụng vector phù hợp để sản xuất peptide tương

ứng với các epitope.



- Sử dụng các vector vi khuẩn hay vi rút sống để cung cấp các gen kháng hoặc

kháng nguyên vi rút.

- Vắc-xin DNA tinh khiết, DNA plasmid biểu hiện gen gây bệnh dưới một

promoter eucaryotic được tiêm. Tất cả các công nghệ trên được sử dụng và đã

đưa lại một số thành công trong việc phát triển vắc-xin cho các loài cá như

ngăn ngừa dịch bệnh, chi phí sản xuất khơng cao, duy trì khả năng miễn dịch

của cá trong thời gian dài.

Theo Chen và cs (2014), tác nhân Betanodavirus gây bệnh hoại tử

thần kinh ở nhiều lồi cá biển nhưng chỉ có một số ít lồi có khả năng kháng

lại tác nhân vi rút này. Việc nghiên cứu về đặc điểm các phản ứng miễn dịch ở

cá biển bao gồm cả hệ thống miễn dịch tự nhiên và miễn dịch đặc hiệu. Đây là

cơ sở để áp dụng các phương pháp kích thích miễn dịch, sử dụng vắc-xin

phòng VNN cho cá biển (Chen và cs, 2014) [27].

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng miễn dịch ở cá

- Yếu tố di truyền: Mỗi loài cá có khả năng đáp ứng miễn dịch khác nhau nên

trước khi sản xuất vắc-xin cho từng lồi thì cần tìm hiểu khả năng đáp ứng

miễn dịch của lồi đó.

- Nhiệt độ nước có liên quan đến khả năng đáp ứng miễn dịch của cá. Sử dụng

vắc-xin cho cá có hiệu quả tốt nhất trong khoảng nhiệt thích ứng của cá. Nếu

nhiệt độ thấp hoặc cao hơn mức thích ứng của cá thì việc sử dụng vắc-xin hầu

như khơng có hiệu quả.

- Chất lượng nước ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe cá, nếu nguồn nước bị

ảnh hưởng của thuốc trừ sâu, kim loại nặng hay ô nhiễm chất hữu cơ sẽ ảnh

hưởng không tốt đến sức khỏe cá và có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp

ứng miễn dịch ở cá.

- Phương pháp sử dụng vắc-xin có ảnh hưởng đến hiệu quả của vắc-xin. Tùy

theo loài và giai đoạn phát triển của cá mà có thể áp dụng các phương pháp

đưa vắc-xin vào cơ thể như ngâm, tiêm hay cho ăn vắc-xin ...



- Yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sức khỏe và khả năng

đáp ứng miễn dịch của cá. Vì vậy cần quan tâm cho cá ăn đủ chất, đủ lượng

không chỉ trong suốt q trình ni, mà cần đặc biệt quan tâm trước và sau

khi sử dụng vắc-xin nhằm tạo điều kiện cho hệ miễn dịch của cá đạt mức cao

nhất.

- Sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất tùy tiện khơng chỉ ảnh hưởng đến tình

trạng sức khỏe cá mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng miễn

dịch ở cá. Ví dụ như việc sử dụng thuốc oxytetracycline có thể làm giảm đến

90% khả năng đáp ứng miễn dịch của cá. Vì vậy trước và sau khi sử dụng

vắc-xin không nên dùng thuốc kháng sinh để giảm khả năng sinh đáp ứng

miễn dịch ở cá.

1.6.2. Tình hình sử dụng vắc-xin phòng bệnh cho cá trên thế giới

Trên thế giới, hiện có 6 loại bệnh trên cá do vi rút nhân RNA gây ra bao

gồm vi rút gây thiếu máu ở cá hồi họ Orthomyxoviridae (ISAV), vi rút gây

hoại tử cơ quan tạo máu họ Rhabdoviridae (IHNV), vi rút trong máu cá chép

vào mùa xuân (SVCV), vi rút gây xuất huyết (VHSV), vi rút gây hoại tử thần

kinh họ Nadoviridae (NNV) và vi rút gây hoại tử tuyến tụy họ Birnaviridae

( IPNV). Ngồi ra có 5 loại bệnh do vi rút nhân DNA gây ra cho cá bao gồm

vi rút gây hoại tử xuất huyết họ Iridoviridae (EHNV), iridovirus trên cá vền

biển (RSIV), iridovirus trên cá tầm trắng (WSIV), Herpesviridae

Oncorhynchus masou virus (HOMV), vi rút trên cá Hồi Salmonid herpesvirus

2 (SaHV2) và herpesvirus gây bệnh trên cá da trơn (CCHV) (OIE, 2005) [15].

Hiện nay trên thế giới đã có một số loại vắc-xin vơ hoạt có nguồn gốc

từ vi rút được sử dụng để phòng các bệnh như hoại tử tuyến tụy (IPNV), hoại

tử cơ quan tạo máu (IHNV), nhiễm trùng xuất huyết (VHSV), vi rút đường

máu cá chép vào mùa xuân (SVCV). Tuy nhiên, khi nuôi cấy vi rút trên tế bào

thường chi phí cao, khả năng tinh khiết khó vì vậy chi phí sản xuất vắc-xin

thường đắt và không được lựa chọn. Gần đây, sử dụng công nghệ DNA tái tổ

hợp để sản xuất vài loại vắc-xin protein từ vi rút để phòng bệnh cho cá rất khả

thi và đưa lại hiệu quả kinh tế cao (Christie và cs, 1997; Lorenzen và cs,

2005) [26][43].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ chế gây bệnh của NNV

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×