Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 2.7: Sản lượng sản xuất thép trong giai đoạn 2014– 2017

Biểu đồ 2.7: Sản lượng sản xuất thép trong giai đoạn 2014– 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

96



Trung Quốc, Việt Nam. Đa số các DNSX thép ở Việt Nam có quy mơ nhỏ, cơng nghệ

sản xuất chỉ ở mức trung bình so với thế giới, và đa số chỉ tham gia ở khâu gần cuối

của chuỗi giá trị; do đó, giá trị gia tăng thấp, dẫn tới doanh thu và lợi nhuận không

cao. Mặt khác, các DN này phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu bán thành phẩm

là phôi thép nhập khẩu để sản xuất nên biên lợi nhuận chịu sự chi phối lớn từ biến

động giá thế giới. Chỉ có một số các DN có quy mô lớn, xây dựng thành các khu liên

hợp gang, thép với dây chuyền sản xuất khép kín, khai thác từ thượng nguồn nguyên

liệu như Hòa Phát, Formosa Hà Tĩnh có lợi thế cạnh tranh lớn do quản lý và tiết giảm

chi phí hiệu quả, nhờ đó sẽ ngày càng mở rộng thị phần.

Có thể nói thép là một ngành cơng nghiệp còn non trẻ của đất nước ta

nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và yêu cầu của quá

trình hội nhập khu vực và thế giới thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh của

ngành thép là hết sức cấp bách và cần thiết.

2.1.3. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý ảnh hưởng

đến hệ thống thơng tin kế tốn trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc

Tổng công ty Thép Việt Nam

2.1.3.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp sản

xuất thép

*)Tổ chức quy trình sản xuất thép

Ngành sản xuất thép có đặc điểm khác biệt hơn các ngành cơng nghiệp

khác đó là quy trình sản xuất bao gồm bốn giai đoạn: Giai đoạn khai thác và chế

biến quặng sắt, giai đoạn luyện gang, giai đoạn sản xuất ra phôi thép và giai đoạn

cán thép để sản xuất ra thép thành phẩm. Mỗi giai đoạn được bố trí tại những khu

vực sản xuất với máy móc, thiết bị và nhân lực riêng. Đặc điểm quá trình sản

xuất thép có ảnh hưởng đến thơng tin kế tốn như sau:

- Giai đoạn khai thác và chế biến quặng:

Trong giai đoạn này, than và quặng được khai thác từ các mỏ sẽ được đưa

vào dây truyền để tuyển thành than cốc và đưa vào các lò để thiêu kết thành



96



97



quặng, thành phẩm thu được là những quặng sắt vê thành viên dạng cục tròn đã

loại trừ những tạp chất, làm tăng hàm lượng sắt để làm nguyên liệu cho sản xuất

gang lỏng. Theo số liệu điều tra, Việt Nam có khoảng 216 điểm mỏ và quặng sắt

được đưa vào lưu trữ địa chất. Quặng sắt ở nước ta phân bổ không đều, nhỏ lẻ,

chỉ có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn. Còn lại rất nhỏ, chỉ có thể khai thác theo

kiểu bán chuyên nghiệp hoặc tận thu. Chỉ có một số mỏ thuộc Công ty Gang thép

Thái Nguyên khai thác tương đối bài bản và chế biến theo đúng quy trình. Đồng

thời đây cũng là DN duy nhất trong Tổng cơng ty thép Việt Nam có giai đoạn

khai thác và chế biến quặng sắt trong quy trình sản xuất thép. Đặc điểm của các

mỏ quặng khai thác như vị trí, địa hình, giao thơng của các mỏ có ảnh hưởng đến

cơng tác xây dựng dự tốn, định mức chi phí khai thác của DN. Chi phí phát sinh

trong quá trình thiêu kết quặng bao gồm đá vơi, đơlơmit, than, điện, dầu, chi phí

nhân cơng và chi phí chung được phân bổ. Giá thành sản phẩm quặng thiêu kết

bao gồm giá thành quặng khai thác và chi phí thiêu kết. Nếu khơng kiểm sốt tốt

chi phí phát sinh trong giai đoạn này thì có thể đẩy giá thành của thép thành

phẩm lên cao do chi phí khai thác quặng lớn.

- Giai đoạn Luyện gang:

Trong giai đoạn này, nguyên liệu gồm quặng thiêu kết, quặng viên và các

chất phụ gia như than cốc, đá vơi được đưa vào lò cao để nấu lỏng thành nước

gang. Một phần gang lỏng từ lò cao sẽ được chuyển sang các lò tinh luyện của

nhà máy luyện thép để sản xuất ra phơi, phần còn lại sẽ được rót vào khay trên

sàn nguội để tạo thành gang đúc bán ra thị trường. Chi phí sản xuất ở giai đoạn

này gồm chi phí nguyên vật liệu để sản xuất ra gang (chiếm khoảng 60% giá

thành) và chi phí để vận hành lò cao luyện gang như chi phí về điện, nước, khí

than lò cốc; chi phí nhân cơng trực tiếp sản xuất và các chi phí chung (chiếm

khoảng 40% giá thành). Q trình luyện gang khơng có sản phẩm dở dang, mỗi

mẻ nấu gang chỉ tạo ra gang lỏng hoặc gang đúc với thành phần hóc học riêng.

- Giai đoạn sản xuất Phôi thép:

Gang lỏng sau khi nấu sẽ được đưa tới lò đúc phơi để sản xuất ra phôi



97



98



thép, gồm 3 loại phôi là phôi thanh, phơi phiến và phơi Bloom.

Hiện nay có hai quy trình cơng nghệ sản xuất phơi thép, đó là quy trình cơng

nghệ luyện thép lò điện EAF và quy trình cơng nghệ luyện thép lò cao BOF. Theo

quy trình sản xuất cơng nghệ lò điện, từ những ngun liệu là thép phế liệu hoặc

gang lỏng, thỏi dưới nhiệt độ của lò điện chuyển thành thép lỏng. Trải qua khâu đúc

bằng khuôn hoặc bằng máy đúc liên tục thép lỏng sẽ tạo thành phơi thép. Còn quy

trình sản xuất cơng nghệ lò cao, từ những nguyên liệu là quặng sắt vê viên, than cốc,

vôi và phụ gia khác được đưa vào lò cao để nấu lỏng thành nước gang; gang lỏng từ

lò cao sẽ được chuyển sang các lò tinh luyện để tạo ra thép lỏng; thép lỏng sau khi

luyện đạt tiêu chuẩn quy định được chuyển vào lò đúc phơi để sản xuất ra phơi đảm

bảo tiêu chuẩn. Chi phí phát sinh trong giai đoạn này gồm chi phí nguyên vật liệu

(chiếm khoảng 90% giá thành); chi phí nhiên liệu như chất khử Silic Cacbit, chất

phức hợp, chất tạo xỉ, đơlơmit, vơi luyện kim, khí ga, than cốc, khí argong đường

ống, vật liệu chịu lửa… (chiếm khoảng 5% giá thành); chi phí nhân cơng; chi phí

chung phát sinh ở phân xưởng sản xuất phôi thép.

- Giai đoạn Cán thép:

Giai đoạn này sản xuất ra thép thành phẩm, phôi được đúc ở hai trạng thái:

trạng thái nóng, trạng thái này duy trì phơi ở một nhiệt độ cao sau đó đưa thẳng

vào q trình cán nóng; trạng thái nguội của phơi để xuất bán hoặc chuyển tới

các nhà máy khác để làm nóng lại, sau đó đưa vào nhà máy cán nguội để sản xuất

thép cán nguội. Chi phí phát sinh gồm chi phi ngun vật liệu chính là phơi thép

(chiếm khoảng 92% trong giá thành); chi phí vật liệu phụ như trục cán thép, trục

cán gang; chi phí nhiên liệu như dầu FO, động lực, điện, nước… (chiếm khoảng

5% trong giá thành); còn lại là chi phí nhân cơng; chi phí chung của phân xưởng

cán thép.

Như vậy, q trình sản xuất thép trải qua bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn

gồm nhiều hoạt động phức tạp gắn với nhiều loại chi phí khác nhau. Có hai quy

trình cơng nghệ sản xuất, cả hai quy trình cơng nghệ này đều là quy trình cơng

nghệ sản xuất liên tục. Chi phí SX sản phẩm thép ở hai quy trình cơng nghệ là

như nhau. Tuy nhiên trong cùng một quy trình cơng nghệ SX, chi phí NVL để SX

98



99



sản phẩm thép ở dây truyền công nghệ hiện đại giảm 25% so với dây truyền công

nghệ lạc hậu do thời gian nấu luyện kéo dài dẫn đến các chi phí đều tăng như chi

phí về điện năng tiêu thụ, chi phí về nhân cơng, chi phí về vật liệu phụ (than điện

cực, gạch và vật liệu chịu lửa…). Vì vậy, việc phân bổ chi phí phù hợp và xác

định phương pháp tính giá phí sản phẩm nhằm cung cấp thơng tin chính xác về

giá thành từng loại sản phẩm từ đó làm căn cứ phục vụ cho định giá bán sản

phẩm cũng như xác định kết quả của DN cũng là vấn đề đặt ra đối với HTTTKT

của DN.

Hiện tại, các DNSX thép thuộc TCT Thép Việt Nam hầu hết áp dụng quy

trình cơng nghệ SX thép lò điện hồ quang – đúc liên tục như: Công ty thép Miền

Nam, Công ty TNHH natsteel vina, Công ty thép tấm lá Phú Mỹ, Công ty cổ

phần thép Đà Nẵng… Chỉ có Cơng ty cổ phần gang thép Thái Nguyên là DN duy

nhất sử dụng công nghệ lò cao liên tục khép kín từ quặng sắt đến thép thành

phẩm, hay còn gọi là sản xuất thép từ thượng nguồn. Các lò điện sản xuất thép

của Việt Nam hiện rất nhỏ, trừ Nhà máy Thép Phú Mỹ được trang bị lò điện hồ

quang kiểu DANARC 70 tấn/mẻ mới được đưa vào vận hành. Các lò điện này đã

áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật như phun ô xy và than vào tạo xỉ bọt, dùng biến

thế siêu cao công suất, sử dụng các loại vật liệu chịu lửa siêu bền, ra thép đáy

lệch tâm… Một số DNSX thép lại chỉ tập trung vào sản xuất, chế biến thép ở

khâu hạ nguồn, các DN này chủ yếu tham gia sản xuất ở khâu gia công, kéo, cán

thép như Công ty TNHH thép VPS, Công ty TNHH thép Vinausteel, Công ty

TNHH thép Vina kyoei, Công ty cổ phần thép tấm lá Thống Nhất… Như vậy,

thực tế một DNSX thép có thể tham gia vào tồn bộ quy trình sản xuất thép hoặc

chỉ tham gia vào một số giai đoạn. Mức độ tham gia vào quy trình sản xuất càng

cao đòi hỏi thơng tin kế tốn càng đa dạng để đáp ứng yêu cầu quản trị của nhiều

bộ phận, nhiều giai đoạn. Điều này làm tác động đến nhu cầu thơng tin kế tốn

trong các DNSX thép.



99



100



Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất thép từ thượng nguồn

*) Nhu cầu quản lý DN:

Xuất phát từ nhu cầu quản lý của các nhà quản trị trong các DNSX thép

mà thông tin kế tốn được hình thành. Hiện nay, các DNSX thép đang đứng trước

sự cạnh tranh khốc liệt về giá cả, mẫu mã, chủng loại sản phẩm thép từ các DN

thép nước ngồi. Do đó, để có thể tạo ra sản lượng thép cao nhất với chất lượng

tốt nhất thì yếu tố quản trị chi phí sản xuất thép là một trong những yếu tố quan

trọng trong giai đoạn hiện nay. Chính bởi vậy, nhà quản trị trong DNSX thép cần

quản trị một cách đồng bộ khâu sản xuất, chế biến thép để tăng khả năng cung

cấp thơng tin chi phí đáp ứng được mọi chức năng quản trị (lập kế hoạch, chỉ

đạo, kiểm soát và ra quyết định). Nhà quản trị cần nắm bắt được những thông tin

liên quan đến chi phí sản xuất lẫn những thơng tin về cơng nghệ ứng dụng cho

sản xuất và trình độ lao động trong DNSX thép. Xuất phát từ nhu cầu đó,

HTTTKT trong các DNSX thép cần thực hiện hoạt động dựa trên tiến trình thu

nhận, xử lý, cung cấp thơng tin như sau:

- Về thu nhận thơng tin: Kế tốn cần thu thập những thơng tin về chi phí



100



101



sản xuất qua từng giai đoạn sản xuất, ví dụ: Ở giai đoạn sản xuất phơi thép thì

cần thơng tin về chi phí ngun vật liệu, chi phí nhân cơng như thế nào, cần bao

nhiêu cơng nhân tham gia vào giai đoạn đó, thơng tin về trình độ người lao động,

thơng tin về định mức chi phí sản xuất, kế hoạch sản xuất…

- Về xử lý thơng tin: Kế tốn sử dụng các phương pháp để xử lý thông tin

như phương pháp phân loại thông tin (phân loại chi phí), phương pháp tính giá,

phương pháp ghi chép sổ sách kế tốn…

- Về cung cấp thơng tin: Thông tin cung cấp là những thông tin báo cáo về

tình hình sản xuất, chế biến thép, dự tốn về kết quả sản xuất thép, báo cáo biến

động lao động trong sản xuất…

Từ nhu cầu quản lý DN, nhà quản trị có trách nhiệm lãnh đạo chính thức

thực hiện các kế hoạch và kiểm soát các nguồn lực của DN để mọi người làm

việc cùng nhau một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu chung.

*) Trình độ quản lý, nguồn lực của các DNSX thép:

- Trình độ quản lý DN: chính là năng lực, trình độ học vấn của nhà quản

trị DN. Trình độ học vấn của bộ máy quản lý tại TCT thép Việt Nam và tại các

DNSX thép thuộc TCT nhìn chung khơng thấp. Theo kết quả khảo sát, TCT thép

Việt Nam có đội ngũ quản lý có trình độ tương đối đồng đều, các cán bộ quản lý

đều có trình độ đại học trở lên. Tuy nhiên, số cán bộ quản lý được đào tạo bổ

sung về quản lý còn rất thấp, đa số đội ngũ quản lý đề trải qua kinh nghiệm thực

tiễn trước đó.

Do đặc thù TCT thép Việt Nam được cổ phần hóa trên cơ sở DN Nhà nước

nên đội ngũ quản lý mang đặc điểm tuyển chọn, bổ nhiệm theo truyền thống “sống

lâu lên lão làng” nên độ tuổi thường cao, do đó khả năng tiếp thu các cơng nghệ và

phương pháp kỹ thuật mới vào quản lý còn thấp. Đồng thời, sự nhạy bén với

những cơ hội thị trường, khả năng chuyển đổi cơ chế và phương pháp quản lý,

định hướng còn chậm chạp.

- Nguồn lực của DN: bao gồm tiềm lực về vốn và nhân lực. Nguồn nhân

lực trực tiếp tham gia vào quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin của

HTTTKT trong các DNSX thép chính là đội ngũ nhân viên kế tốn.

101



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 2.7: Sản lượng sản xuất thép trong giai đoạn 2014– 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x