Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 1.6: Quá trình kế toán [49]

Sơ đồ 1.6: Quá trình kế toán [49]

Tải bản đầy đủ - 0trang

76



- Bảng cân đối kế toán;

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;

- Thuyết minh báo cáo tài chính.

Bảng cân đối kế tốn là báo cáo tài chính cơ bản phản ánh tình hình tài

chính của cơng ty và là cơ sở để đánh giá sự an toàn của DN. Các yếu tố cơ bản

của bảng cân đối kế toán là tài sản, cơng nợ và các chủ sở hữu, có sự tương quan

và phụ thuộc lẫn nhau.

Trong bối cảnh chất lượng kinh doanh, hiệu quả kinh doanh cũng rất quan

trọng. Theo Katarina Zager cho rằng xác định hiệu quả kinh doanh như là một

khả năng đạt được các mục tiêu cụ thể. Mục tiêu kinh doanh có thể khác nhau và

điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào một tập hợp các nguyên

tắc và mục tiêu xác định. Lợi nhuận kinh doanh là mục tiêu thường được trình

bày nhất và hiểu theo cách này thì hiệu quả được đo bằng lợi nhuận và thua

lỗ. Trong khi bảng cân đối tượng trưng cho tình hình tài chính tại một thời điểm

cụ thể, thì báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh cho một khoảng thời gian cụ

thể. Các yếu tố cơ bản của báo cáo kết quả kinh doanh gồm: doanh thu, chi phí

và lợi nhuận của DN [49].

Để đo hiệu quả kinh doanh, ngoài bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả

kinh doanh, DN cần phải báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Báo

cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng

lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của DN. Các

yếu tố trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là các yếu tố của báo cáo kết quả

kinh doanh và sự biến động của các yếu tố trên bảng cân đối kế toán. Báo cáo lưu

chuyển tiền tệ trình bày các luồng tiền trong kỳ của hoạt động kinh doanh, hoạt

động tài chính. Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên

quan đến hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của DN, nó cung cấp thơng tin cơ

bản để đánh giá khả năng tạo ra tiền của DN từ các hoạt động kinh doanh để

thanh toán các khoản nợ, duy trì các hoạt động, chi trả cổ tức và tiến hành hoạt

động đầu tư mới mà không cần tới nguồn tài chính bên ngồi. Đồng thời, thơng

76



77



tin về các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, kết hợp với các thơng tin khác, sẽ

giúp cho người sử dụng dự đốn được luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong

tương lai (Hoàng Văn Ninh) [22, tr39].

BCTC là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư, Hội đồng quản trị DN,

người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và tồn bộ cán bộ, cơng nhân viên

của DN bởi các vấn đề sau đây:

- BCTC là những báo cáo cung cấp những thơng tin một cách tổng hợp

nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài

chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của DN.

- BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá

tình hình và kết quả hoạt động SXKD, thực trạng tài chính của DN trong kỳ hoạt

động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng

huy động nguồn vốn vào SXKD của DN.

- BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện

những khả năng tiềm tàng, giúp đưa ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt

động SXKD hoặc đầu tư của chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và

tương lai của DN.

- BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế,

tài chính của DN là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác

thực nhằm tăng cường quản trị DN không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,

nâng cao hiệu quả SXKD, tăng lợi nhuận cho DN.

Việc lập BCTC trước tiên phải xác định kỳ lập báo cáo, là khoảng thời

gian nhất định mà theo đó các thơng tin, dữ liệu có liên quan được thu thập để

trình bày trên BCTC. DN cần xác định rõ kỳ lập báo cáo cho từng báo cáo cụ thể.

Theo Luật kế toán, các DN phải lập BCTC vào cuối kỳ kế toán năm; trường hợp

pháp luật có quy định lập BCTC theo kỳ kế tốn khác thì DN phải lập theo kỳ kế

tốn đó.

Việc lập BCTC phải căn cứ vào số liệu sau khi khóa sổ kế tốn. BCTC

phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ

kế tốn, trường hợp BCTC trình bày khác nhau giữa các kỳ kế tốn thì phải

77



78



thuyết minh rõ lý do.

Các DN cần thiết phải lập và gửi cho các đơn vị nhận báo cáo theo đúng

thời gian đã quy định đối với từng BCTC. Đồng thời phải thực hiện cơng khai

thơng tin tài chính của đơn vị theo những nội dung đã quy định.

Trong điều kiện ứng dụng CNTT, phương tiện cung cấp thơng tin kế tốn

trên BCTC được thực hiện chủ yếu trên nền máy tính với sự hỗ trợ của phần

mềm kế toán. Dữ liệu về hoạt động SXKD sau khi được xử lý và lưu trữ trên các

tập tin cơ sở dữ liệu, kế toán thực hiện tổng hợp, làm các bút toán kết chuyển cần

thiết và bút toán điều chỉnh, thực hiện phân loại tài sản vào thời điểm cuối kỳ.

Phần mềm sẽ tự tổng hợp, cập nhật dữ liệu lên các BCTC đã được định dạng sẵn.

Báo cáo tài chính hợp nhất

Trong trường hợp DN hoạt động theo mơ hình tập đồn, cơng ty mẹ công ty con, tại công ty mẹ nhất thiết phải tổ chức bộ phận đảm nhận nhiệm vụ

lập BCTC hợp nhất cho cả tập đoàn. BCTC hợp nhất là BCTC của một tập đồn

được trình bày như BCTC của một DN. Báo cáo này được lập trên cơ sở hợp

nhất BCTC của công ty mẹ và công ty con theo quy định.

BCTC hợp nhất tổng hợp và trình bày tổng quát tình hình và kết quả hoạt

động năm tài chính của tập đồn như một DN độc lập khơng tính đến ranh giới

pháp lý của các pháp nhân riêng biệt là công ty mẹ hay công ty con trong tập

đồn; Cung cấp thơng tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá thực trạng

tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của tập đồn trong năm tài chính đã

qua và những dự đốn trong tương lai cho các đối tượng sử dụng thơng tin của

tập đồn; BCTC hợp nhất giúp nhà đầu tư, những đối tượng cần sử dụng thơng

tin tài chính của tập đồn sẽ dễ dàng nhìn thấy tình hình tài chính tổng qt của

cả tập đồn để quyết định có nên đầu tư hay khơng đầu tư vào tập đồn.

Việc xử lý thơng tin nhằm lập BCTC hợp nhất diễn ra ở công ty mẹ tương

đối phức tạp, nên khi công ty mẹ nhận được các BCTC riêng của các công ty con

và các thông tin liên quan khác, công ty mẹ phải thực hiện xử lý các thông tin

này bằng các quy trình đã thiết lập trước để có các số liệu phù hợp phục vụ việc

lập BCTC hợp nhất. Cách thức xử lý số liệu có thể thơng qua cách theo dõi, phân

78



79



loại để ghi nhận vào Bảng tổng hợp các bút toán điều chỉnh, Sổ kế toán hợp nhất

và Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất. Các BCTC riêng trước khi hợp nhất cần

thiết phải được kiểm toán bởi kiểm tốn độc lập để có những thơng tin chính xác

nhất, trung thực nhất cho quá trình lập BCTC hợp nhất (Hồng Văn Ninh) [22].

Báo cáo tài chính hợp nhất được lập trên cơ sở áp dụng chính sách kế tốn

thống nhất trong tồn tập đồn. Cơng ty mẹ có trách nhiệm hướng dẫn công ty

con thực hiện việc điều chỉnh lại BCTC dựa trên bản chất của các giao dịch và sự

kiện. Trường hợp công ty con không thể sử dụng cùng một chính sách kế tốn

với chính sách chung của tập đồn thì trong bản thuyết minh BCTC hợp nhất

phải trình bày và thuyết minh rõ về các khoản mục đã ghi nhận. Thông thường,

đối với những công ty con được thành lập mới do công ty mẹ đầu tư góp vốn thì

chính sách kế tốn thường được thống nhất với công ty mẹ ngay từ khi mới thành

lập. Đối với trường hợp các công ty con nằm trong phạm vi hợp nhất do công ty

mẹ mua lại có thể có những khác biệt về chính sách kế toán bởi lẽ trước khi trở

thành những thực thể được hợp nhất thì các cơng ty này là những pháp nhân độc

lập với những chính sách kế tốn riêng biệt. Trong trường hợp này việc xử lý

khác biệt trong chính sách kế tốn có thể được thực hiện bằng các phương pháp:

Cơng ty mẹ sử dụng quyền kiểm sốt để chi phối, tác động nhằm thay đổi chính

sách kế tốn tại cơng ty con để phù hợp với chính sách kế tốn chung của tập

đồn. Trường hợp cơng ty con khơng thể thống nhất chính sách kế tốn với chính

sách kế tốn của tập đồn thì cơng ty mẹ phải điều chỉnh những khác biệt này khi

lập BCTC hợp nhất.

Báo cáo tài chính của riêng cơng ty mẹ và của riêng công ty con phải được

lập cho cùng một kỳ kế tốn. Nếu kỳ kế tốn của cơng ty con khác với của cơng

ty mẹ thì cơng ty con phải lập thêm một BCTC có kỳ kế tốn trùng với kỳ kế

tốn của cơng ty mẹ để đảm bảo cho mục đích hợp nhất. Kỳ kế tốn của các

BCTC được lập vào các thời điểm khác nhau chênh lệch không quá ba tháng. Độ

dài của kỳ báo cáo và sự khác nhau về thời điểm lập BCTC phải thống nhất qua

các kỳ.

Cung cấp thông tin trên báo cáo KTQT

79



80



Thông tin kế tốn sau khi được thu nhận, xử lý thơng qua hệ thống chứng

từ, tài khoản, sổ sách kế toán sẽ được phản ánh trong báo cáo KTQT nhằm cung

cấp thông tin cần thiết cho nhà quản trị.

Báo cáo KTQT là sản phẩm cuối cùng của quy trình thực hiện công tác

KTQT trong DN. Báo cáo KTQT là sự tổng hợp thông tin trên các tài khoản sử

dụng trong KTQT và là sự chi tiết hóa thơng tin thu nhận theo các chỉ tiêu phù

hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong quá trình quản trị DN (Phạm

Quang) [24]. Chính vì vây, nội dung và hình thức của báo cáo KTQT phải thể

hiện được các chỉ tiêu mà nhà quản trị yêu cầu theo dõi, phân tích, đánh giá.

Báo cáo KTQT khơng có tính pháp lý và tính bắt buộc vì nó còn phụ thuộc vào

quy mơ của DN, đặc điểm hoạt động kinh doanh, trình độ nhận thức của các

cấp quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể mà thiết kế hệ thống báo cáo KTQT cho

thích hợp để nâng cao hiệu quả trong việc cung cấp thơng tin kế tốn. Do đó,

việc xây dựng hệ thống báo cáo KTQT phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Hệ thống báo cáo KTQT xây dựng đảm bảo phù hợp với yêu cầu cung

cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của từng DN cụ thể.

- Hệ thống báo cáo KTQT phải đảm bảo cung cấp đầy đủ nội dung và đảm

bảo tính so sánh được của các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý và ra quyết định

của DN.

- Hệ thống báo cáo KTQT được thiết kế phải phù hợp với hệ thống BCTC

nhưng có thể thay đổi theo yêu cầu quản lý các cấp; các chỉ tiêu xây dựng phải

phù hợp với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán.

Như vậy, hệ thống báo cáo KTQT trong DN phải được xây dựng phù hợp

với đối tượng sử dụng, nhu cầu sử dụng tại mỗi DN và thơng tin đó có thể thay

đổi theo u cầu quản trị các cấp.

Hệ thống báo cáo KTQT được thiết kế bao gồm các loại sau:

- Hệ thống báo cáo dự toán: là các báo cáo phục vụ cho chức năng lập kế

hoạch SXKD của DN, cung cấp thông tin định hướng, các chỉ tiêu dự toán giúp

DN chuẩn bị các điều kiện đảm bảo và tổ chức triển khai hoạt động. Đây cũng là

cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện. Bao gồm các báo cáo như: báo cáo dự toán

80



81



về tiêu thụ, báo cáo dự toán sản xuất, báo cáo dự tốn chi phí sản xuất kinh

doanh, báo cáo dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ…

- Hệ thống báo cáo thực hiện: cung cấp thông tin về tình hình thực hiện kế

hoạch của hoạt động kinh doanh của DN. Đây là cơ sở để kiểm sốt, đánh giá,

điều chỉnh tình hình thực hiện. Bao gồm các báo cáo như: báo cáo theo dõi tình

hình doanh thu, báo cáo sản xuất, báo cáo sản lượng tiêu thụ, báo cáo tình chi

phí, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

- Hệ thống báo cáo kiểm soát, đánh giá tình hình thực hiện và ra quyết

định: là các báo cáo phản ánh các thông tin chênh lệch giữa thực hiện với dự toán

và nguyên nhân gây ra những chênh lệch đó để nhà quản trị DN xác định được

ngun nhân và kiểm sốt, đánh giá tình hình thực hiện, cũng như tìm cách khắc

phục. Bao gồm các báo cáo như: báo cáo kiểm soát, báo cáo bộ phận, báo cáo

trung tâm trách nhiệm…Trên các báo cáo này thường thể hiện dưới dạng các

bảng so sánh giữa thực hiện với dự tốn.

Báo cáo KTQT là cơng cụ cung cấp thông tin cho nhà quản trị các cấp

trong DN. Căn cứ vào nhu cầu cụ thể của nhà quản trị mà các báo cáo này được

lập theo định kỳ hay thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ

quản trị DN. Báo cáo lập theo định kỳ thường là những báo cáo cung cấp thông

tin về hiệu quả kinh doanh của các bộ phận, báo cáo phân tích biến động chi phí

và chênh lệch chi phí… ; Báo cáo lập thường xuyên gồm những báo cáo cung

cấp thông tin liên quan đến hiệu quả sản xuất, công suất hoạt động của máy móc

thiết bị, thơng tin về mức tiêu hao nguồn nhân lực… được cập nhật và cung cấp

hàng ngày để có thể điều chỉnh kịp thời. Ngồi ra, trong một số trường hợp cụ thể

thông tin được cung cấp đột xuất cho nhà quản trị, ví dụ như thông tin liên quan

đến sự biến động bất ngờ trong DN hoặc các thông tin liên quan đến phương án

kinh doanh mà nhà quản trị đang xem xét cần có thơng tin ngay để đưa ra quyết

định lựa chọn.

HTTTKT trong điều kiện ứng dụng CNTT hỗ trợ cho việc xử lý và cung

cấp thông tin KTQT một cách hữu ích cho nhà quản trị trong việc ra quyết định.

Đối với việc sử dụng phần mềm, việc truyền tải cung cấp thơng tin cho nhà

81



82



quản trị được nhanh chóng, kịp thời hơn, nội dung thông tin cung cấp đa dạng,

phong phú hơn giúp cho nhà quản trị đánh giá tình hình tài chính DN một cách

tổng hợp, đầy đủ, tồn diện hơn.

Trong môi trường ứng dụng ERP, sẽ giúp phân tích và cung cấp thơng tin

hữu ích hơn cho các đối tượng sử dụng. Do đặc thù của ERP là sử dụng cơ sở

dữ liệu dùng chung và thông tin được thu thập nhiều chi tiết hơn về cả thông tin

tài chính và phi tài chính. Ngồi ra, thời gian tạo thông tin được rút ngắn hơn và

người sử dụng có thể tạo thơng tin trực tiếp từ cơ sở dữ liệu. Đồng thời, thông

tin được cập nhật liên tục theo quá trình thực hiện hoạt động SXKD và quy

trình lập báo cáo tương đối tự động nên việc lập BCTC có thể được lập liên tục

và thời gian nhận thơng tin tài chính được rút ngắn lại.

1.3.5. Q trình kiểm sốt thơng tin kế tốn

Kiểm sốt là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các

hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch và chỉnh sửa các sai lệch quan trọng.

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là các

qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng

nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm

soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực

và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ

thống kiểm soát nội bộ bao gồm mơi trường kiểm sốt, hệ thống kế tốn và các

thủ tục kiểm soát”.

Theo quan điểm của COSO: Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối

bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập

để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: (1) Sự

hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. (2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính. (3) Sự

tuân thủ các luật lệ và quy định. Theo đó, hệ thống kiểm sốt nội bộ gồm 5 bộ

phận:

Mơi trường kiểm soát: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt

động của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong

đó tồn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ

82



83



thống kiểm soát nội bộ hay không.

Đánh giá rủi ro: được hiểu là hoạt động nhận dạng, phân tích và quản lý

các rủi ro đe dọa mục tiêu của tổ chức.

Hoạt động kiểm soát: là các biện pháp, quy trình, thủ tục kiểm sốt đảm

bảo chỉ thị của ban lãnh đạo trong giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện cho tổ chức

đạt được mục tiêu đặt ra được thực thi nghiêm túc trong tồn tổ chức. Ví dụ:

kiểm sốt phòng ngừa và phát hiện sự mất mát, thiệt hại của tài sản, kiểm sốt

xem tổ chức có hoạt động theo đúng quy định mà tổ chức đã đề ra, theo đúng

các yêu cầu của pháp luật hiện hành hay không…

Hệ thống thông tin và truyền thông: cần được tổ chức để bảo đảm chính

xác, kịp thời, đầy đủ, tin cậy, dễ nắm bắt và đúng người có thẩm quyền.

Hệ thống giám sát và thẩm định: là quá trình theo dõi và đánh giá chất

lượng thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, được điều

chỉnh khi mơi trường thay đổi, được cải thiện khi có khiếm khuyết.

Ở phương diện quản lý, kiểm soát hay kiểm soát nội bộ là công cụ cung

cấp một đảm bảo hợp lý giúp một tổchức đạt được mục tiêu cũng như những

phản ứng hữu hiệu đối với các rủi ro xẩy ra trong quá trình quản lý (Gelinas và

Dull) [65]. Theo Henry Fayol, kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi việc

được thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được

thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần phải điều

chỉnh, đồng thời ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn [45, tr107]. Theo

GS.TS. Nguyễn Quang Quynh (2003), kiểm soát được hiểu là tổng hợp các

phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý [27].

Với ý nghĩa như vậy, kiểm soát được hiểu theo nhiều hướng khác nhau,

chẳng hạn như cấp trên kiểm sốt cấp dưới thơng qua các biện pháp hoặc chính

sách cụ thể; đơn vị này kiểm sốt đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi

phối đáng kể dựa trên quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm

sốt lẫn nhau thơng qua nội quy và quy chế. Theo TS. Nguyễn Thị Phương Hoa

(2009) đã nhận định, kiểm sốt là q trình đo lường, đánh giá và tác động lên

đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực

83



84



hiện một cách có hiệu quả [15, tr14]. Cũng nghiên cứu về kiểm sốt thơng tin,

TS. Nguyễn Tố Tâm (2014) đã đưa ra khái niệm, kiểm soát là chức năng quan

trọng trong quản lý, được thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong

quản lý theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu

của tổ chức. Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát

nhằm đạt được hiệu quả trong quản lý [28, tr12]. Kiểm sốt thơng tin là một u

cầu tất yếu để đảm bảo thông tin không bị sai lệch, thông tin không bị bóp méo.

Để kiểm sốt thơng tin cần thực hiện tổ chức kiểm sốt thơng tin phù hợp với đặc

điểm của thơng tin đó.

Như vậy, kiểm sốt thơng tin đóng vai trò quan trọng đối với các mặt hoạt

động của DN, giúp cho thông tin cung cấp được hiệu quả hơn, thiết thực hơn với

nhà quản trị. Ngoài ra, kiểm sốt có tác dụng rà sốt quy trình hoạt động của

HTTTKT từ khâu thu nhận thông tin, xử lý và cung cấp thơng tin làm cho quy

trình này được hoạt động nhuần nhuyễn liên tục, có sự phối hợp nhịp nhàng với

các bộ phận khác nhau trong đơn vị, tăng tính liên kết của HTTTKT, giúp giảm

thiểu chi phí cho q trình thu thập và truyền tải thơng tin.

Đồng thuận với quan điểm của Snezana Knezevic (2012) về vai trò của

HTTTKT trong việc ra các quyết định kinh tế, tài chính, quy trình kiểm sốt

thơng tin kế tốn theo sơ đồ sau [63]:



Kiểm sốt đầu

Kiểm

vàosốt q trình phân tích, xử lý thơngKiểm

tin sốt đầu ra



Sơ đồ 1.7: Quy trình kiểm sốt thơng tin kế trong HTTTKT [63]

- Kiểm sốt đầu vào: phải đảm bảo rằng các thông tin thu thập một cách

đầy đủ, chính xác, ngăn chặn những thơng tin đầu vào sai lầm, phản ánh trên các

chứng từ kế toán một cách phù hợp nhất. Đối với đơn vị sử dụng kế tốn thủ

cơng thì đây chính là q trình kiểm tra chứng từ, phân loại chứng từ và phản ánh

vào các sổ kế tốn có liên quan. Đối với đơn vị sử dụng CNTT thì cần kiểm sốt

q trịnh nhập dữ liệu có chính xác khơng. Độ chính xác của việc nhập dữ liệu

84



85



trong q trình kế tốn là một điều kiện tiên quyết để tính chính xác của đầu ra,

tức là trong các báo cáo tài chính. Kiểm soát đầu vào phải đảm bảo các số liệu

phản ánh trên chứng từ kế tốn có độ tin cậy, hợp pháp, hợp lệ. Đây là khâu quan

trọng nhằm đảm bảo tính chính xác của thơng tin thu thập và nó ảnh hưởng đến

chất lượng thơng tin kế tốn sau này.

- Kiểm sốt q trình xử lý thơng tin: Sau khi hoàn tất việc nhập dữ liệu,

thực hiện thủ tục phân loại, phân tích và xử lý dữ liệu. Khâu kiểm soát này nhằm

đảm bảo rằng các dữ liệu trong HTTTKT được phân tích, xử lý theo phương

pháp khoa học, phù hợp nhất với từng loại thông tin và phù hợp nhất mục đích

của thơng tin cần cung cấp, đảm bảo các thơng tin sau khi xử lý có hữu ích đối

với các nhà quản trị. Khi xử lý thông tin kế tốn cũng cần phải lựa chọn trong

những thơng tin đã được thu thập, ghi nhận những thông tin nào cần thiết cho

mục đích cung cấp thì tiến hành xử lý, những thông tin ghi nhận ban đầu không

phù hợp thì loại bỏ, tránh gây tình trạng nhiễu về thơng tin kế tốn (Lê Thị Hồng)

[16, tr73].

- Kiểm sốt đầu ra: Đầu ra từ hệ thống thông tin kế tốn là cung cấp thơng

tin cho người sử dụng thơng qua các hình thức báo cáo kế tốn. Các báo cáo tài

chính cung cấp thơng tin về DN cho mục đích quản lý, cũng như đối với những

người sử dụng nội bộ và bên ngồi (Chuẩn mực kế tốn quốc tế - Trình bày Báo

cáo tài chính IAS 1) [55]. Vào cuối mỗi kỳ kế tốn, báo cáo tài chính trước khi

được cung cấp cho người sử dụng, nó cần thiết được kiểm tra với người có trách

nhiệm về tính chính xác của các thơng tin trong sổ sách kế tốn. Các kiểm sốt

viên phải đối chiếu, xem xét, tính toán lại các chỉ tiêu được cung cấp, để đảm bảo

các thơng tin cung cấp là hữu ích nhất. Những thơng tin được trình bày trong các

báo cáo phụ thuộc vào việc báo cáo đó dành cho người dùng nội bộ hay bên

ngoài. Các báo cáo phải đáp ứng được các mục tiêu mà họ đã chuẩn bị, thông tin

kế tốn được cung cấp có liên quan cho việc ra quyết định, lập kế hoạch và kiểm

soát các quyết định kinh doanh.

Theo tác giả, q trình kiểm sốt thơng tin kế tốn của hệ thống là q

trình hướng đến việc kiểm sốt chất lượng thơng tin kế tốn để cung cấp cho

85



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 1.6: Quá trình kế toán [49]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x