Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THÉP THUỘC TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THÉP THUỘC TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

89



hoạt động theo mơ hình mới. Kết quả hoạt động trong 5 năm của TCT đạt được

những thành tựu sau:

- Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1999 đạt 1.909,5 tỷ đồng, tăng 16,54%

so với năm 1995 (1.639,5 tỷ đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt

5,6%.

- Sản lượng thép năm 1999 đạt 465.000 tấn, tăng 28,4% so với năm 1995

(362.000 tấn); tốc độ tăng trưởng thép cán bình qn 5 năm đạt 15,4%; tính

chung 5 năm sản xuất được 2,2 triệu tấn thép các loại cung cấp cho nền kinh tế

quốc dân. Sản lượng phôi thép 5 năm đạt 1,5 triệu tấn, đáp ứng khoảng 67% nhu

cầu phôi cho sản xuất thép cán của Tổng công ty.

- Tổng doanh thu năm 1999 đạt 5.967 tỷ đồng, tăng 23,2% so với năm

1995 (4.841 tỷ đồng). Trong 5 năm, đóng góp cho ngân sách Nhà nước 1.125,3 tỷ

đồng, năm 1999 tăng 42,4% so với 1995.

Giai đoạn 2000 – 2004

Thời kỳ 2000 – 2004, TCT tổ chức triển khai các dự án đầu tư có quy mơ

lớn, tiếp tục thực hiện công tác sắp xếp, đổi mới DN sâu rộng và có nhiều bước

phát triển, đạt được các thành tựu nổi bật sau:

- Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 4.180 tỷ đồng, tăng 94,5% so

với năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 17%; năm 2004 tăng

155% so với năm 1995.

- Sản lượng thép cán năm 2004 đạt 1,03 triệu tấn, tăng 96,5% so với năm

2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 17,3%, tính chung 5 năm sản xuất

được 3,8 triệu tấn cung cấp cho nền kinh tế, năm 2004 tăng 184,5% so với năm

1995. Đặc biệt trong giai đoạn 2001 – 2004 đạt tốc độ tăng trưởng bình qn

18,5%/năm, góp phần cùng ngành thép cả nước hoàn thành sớm hai năm về chỉ

tiêu sản lượng thép cán (2,8 triệu tấn) do Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra.

- Sản lượng phôi thép 5 năm đạt 2,3 triệu tấn, đáp ứng khoảng 60,5% nhu

cầu phôi cho sản xuất thép cán của TCT; năm 2004 tăng 119,5% so với năm

1995; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2004 đạt 21,5%/năm.

- Tổng doanh thu năm 2004 đạt 13.908,1 tỷ đồng, tăng 117,6% so với năm

89



90



2000 và tăng 187,3% so với năm 1995. Trong 5 năm đóng góp cho ngân sách nhà

nước 2.050,1 tỷ đồng, năm 2004 tăng 117,7% so với năm 2000 và tăng 187,3%

so với năm 1995; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2004 đạt

22,3%/năm.

- Lợi nhuận trong 5 năm đạt 807,7 tỷ đồng, năm 2004 tăng 97,3% so với

năm 2000. Thu nhập bình quân của người lao động năm 2004 đạt 2,6 triệu

đồng/người/tháng tăng gấp 3 lần so với ngày đầu thành lập TCT năm 1995.

Cơ cấu chủng loại sản phẩm đã và đang được đa dạng hóa, bên cạnh phơi

thép và thép cán, đến năm 2005 TCT đã có các sản phẩm mới như thép hình, thép

lá, ống thép, vật liệu luyện kim và vật liệu xây dựng … Một số nhà máy mới đạt

mức tiên tiến trong khu vực và thế giới với thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến.

Tham gia đảm bảo cung cấp đủ thép xây dựng cho nền kinh tế và từng bước xuất

khẩu sang một số nước trong khu vực.

Giai đoạn 2005 - 2010

Ngày 23/11/2006, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 267/2006/QĐTTg, thành lập công ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam. Trong 6 năm (2005 2010), Tổng cơng ty ln hồn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch, đạt được các

thành tựu nổi bật sau:

- Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 12.363,6 tỷ đồng, tăng

128,48% so với năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân 6 năm đạt 19,95%.

- Sản lượng thép cán năm 2010 đạt 2,656 triệu tấn, tăng 120,41% so với

năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân 6 năm đạt 17,12%, tính chung 6 năm sản

xuất được 11,876 triệu tấn cung cấp cho nền kinh tế.

- Sản lượng phôi thép 6 năm đạt 4,824 triệu tấn, đáp ứng khoảng 70% nhu

cầu phôi cho sản xuất thép cán của Tổng cơng ty; tốc độ tăng trưởng bình qn

giai đoạn 2005-2010 đạt 10,65%/năm.

- Lợi nhuận trong 6 năm đạt 750 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của người

lao động năm 2010 đạt 6,3 triệu đồng/người/tháng tăng gấp 6 lần so với ngày đầu

thành lập Tổng công ty năm 1995.



90



91



Biểu đồ 2.1: Sản lượng sản xuất thép trong giai đoạn 2008 – 2010

(Nguồn: Tổng công ty thép Việt Nam)



Biểu đồ 2.2: Sản lượng tiêu thụ thép trong giai đoạn 2008 - 2010

(Nguồn: Tổng công ty thép Việt Nam)

Qua biểu đồ sản lượng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thép qua các năm

cho thấy, hầu hết các sản phẩm thép đều được sản xuất và tiêu thụ năm sau nhiều

hơn năm trước đó. Chỉ có khai thác quặng sắt năm 2010 là thấp hơn năm 2008 và

năm 2009, do đặc thù của việc khai thác quặng.



91



92



Đơn vị tính: tấn



Đơn vị tính: tấn



Biểu đồ 2.3: Sản lượng nhập khẩu thép

từ năm 2007 - 2010



Biểu đồ 2.4: Sản lượng xuất khẩu thép từ



2007 - 2010

(Nguồn: Tổng công ty thép Việt Nam)



Giai đoạn 2010 đến nay

Quyết định số 1517/QĐ-TTg ngày 05/09/2011 về việc điều chỉnh cơ cấu

vốn của TCT Thép Việt Nam – công ty cổ phần của Thủ tướng Chính phủ. Điều

lệ tổ chức và hoạt động của TCT Thép Việt Nam – công ty cổ phần được Đại hội

đồng cổ đông thành lập TCT Thép Việt Nam – công ty cổ phần thông qua ngày

20/09/2011.

Năng lực thực tế của VNSTEEL hiện nay:

- Tổng vốn chủ sở hữu do Công ty mẹ trực tiếp quản lý, khai thác và sử

dụng trên 2.700 tỷ đồng với tổng tài sản tại Công ty mẹ là 10.660 tỷ đồng. Trong

đó:

Tổng vốn chủ sở hữu do Cơng ty mẹ đầu tư tại các Công ty con trên 988

tỷ đồng, ước tổng tài sản là 4.500 tỷ đồng.

Tổng vốn chủ sở hữu do Công ty mẹ đầu tư tại các Công ty liên kết (bao

gồm các Công ty liên doanh, Công ty cổ phần) là gần 1.000 tỷ đồng, ước tổng tài

sản gần 20.000 tỷ đồng.

- Năng lực luyện phơi thép bình qn đạt gần 1.500.000 tấn/năm. Trong

đó luyện từ quặng là 300.000 tấn/năm.

- Năng lực sản xuất thép cán và sản phẩm sau cán bình quân đạt trên 2,5

triệu tấn/năm.



92



93



- Sản lượng tiêu thụ bình quân gần 3 triệu tấn/năm

- Tổng số lao động khoảng 17.000 người.

Đơn vị tính: tấn



Đơn vị tính: tấn



Biểu đồ 2.5: Sản lượng sản xuất thép từ

năm 2015 - 2017



Biểu đồ 2.6: Sản lượng tiêu thụ thép t



2015 - 2017

(Nguồn: Tổng công ty thép Việt Nam)



Năm 2016, VNSTEEL đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Các chỉ tiêu

đưa ra đều vượt kế họach so với năm 2015. Cụ thể: Phôi thép sản xuất đạt

2.054.000 tấn đạt 100% so với kế họach và tăng 24% so với cùng kì năm trước,

tiêu thụ ước đạt 681.200 tấn bằng 114% kế hoạch tăng 20% so với cùng kỳ năm

2015; Thép xây dựng đạt 3.046.300 tấn bằng 105% kế hoạch và tăng 9% so với

cùng kỳ, mức tiêu thụ đạt 3.028.500 tấn bằng 104% kế hoạch và tăng 12% so với

cùng kỳ; Thép cán nguội có sản lượng tiêu thụ đạt 490.000 tấn bằng 148% kế

họach và tăng 65% so với cùng kỳ; Sản xuất kinh doanh thép sau cán: Tiêu thụ

tôn mạ ước đạt 278.000 tấn, bằng 105% kế hoạch và tăng trưởng 40% so cùng

kỳ. Tiêu thụ ống thép ước đạt 40.500 tấn, bằng 90% kế hoạch. Lĩnh vực kinh

doanh kim khí: Tổng lượng tiêu thụ năm 2016 ước đạt 754.100 tấn, giảm 1% so

với năm trước và đạt 89% kế hoạch. Ngoài ra còn có các lĩnh vực phụ trợ như

gia cơng thép, gang đúc, vật liệu chịu lửa, vật liệu xây dựng,… đều hoàn thành

kế hoạch và vượt chỉ tiêu đề ra.

Năm 2017 được coi là năm thành công của TCT thép Việt Nam. Sản lượng

sản xuất phôi thép đã đạt 2.325.050 tấn, đạt 97% kế hoạch và tăng 12% so cùng

kỳ; tiêu thụ 746.950 tấn, đạt 108% kế hoạch và tăng 6% so cùng kỳ. Thép xây

dựng sản xuất 3.164.200 tấn, đạt 100% kế hoạch và tăng 1% so cùng kỳ; tiêu thụ

3.146.900 tấn, đạt 100% kế hoạch và tương đương cùng kỳ. Thép cán nguội

(CRC), tổng tiêu thụ cán nguội của TCT khá tốt trên 602.000 tấn, đạt 136% kế

hoạch và tăng 20% so cùng kỳ. Trong đó, Thép Tấm lá Phú Mỹ tiêu thụ trên

338.600 tấn, đạt 116% kế hoạch, tuy nhiên gia tăng nhiều là hàng thép gia cơng

còn lượng thép chính phẩm mới đạt 92% kế hoạch; Thép Tấm lá Thống Nhất tiêu

93



94



thụ trên 263.400 tấn, đạt 176% kế hoạch và cơng ty cũng có hiệu quả cao. Về tơn

mạ, ống thép cũng đã hồn thành vượt mức kế hoạch năm với tổng tiêu thụ

302.500 tấn, đạt 111% kế hoạch và tương đương cùng kỳ.

Trong đó, khối công ty con sản xuất 945.480 tấn, đạt 105% kế hoạch và

tăng 5% so cùng kỳ; tiêu thụ 149.460 tấn, đạt 131% kế hoạch và tăng 25% so

cùng kỳ. Trong năm 2017, các đơn vị đã đẩy mạnh tối đa công suất luyện đáp

ứng đủ nhu cầu cán thép và lượng dư tiêu thụ ngoài. Với các đơn vị chủ động

được nguồn phôi thép như Thép Miền Nam, Vicasa, Thép Thủ Đức đã có hiệu

quả kinh doanh rất tốt trong năm 2017; Khối công ty liên kết sản xuất 1.379.570

tấn, đạt 92% kế hoạch và tăng 17% so cùng kỳ; tiêu thụ ước 597.490 tấn, đạt

104% kế hoạch và tăng 2% so cùng kỳ. Đáng lưu ý là 2 đơn vị luyện thép là

Cơng ty TNHH Khống sản và Luyện kim Việt - Trung (VTM) và Thép Đà Nẵng

đều đã đẩy mạnh sản lượng vượt kế hoạch năm, tuy nhiên về hiệu quả sản xuất

kinh doanh thì chỉ có Thép Đà Nẵng tận dụng được lợi thế về việc áp thuế tự vệ

phôi thép để tăng hiệu quả kinh doanh cao.

Năng lực sản xuất thép của các công ty thuộc VNSTEEL đều có sự gia

tăng nhanh chóng về quy mơ như Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên với

công suất 600.000 tấn/năm; Công ty TNHH Vinakyoei với công suất 400.000

tấn/năm; Công ty cổ phần thép Đà Nẵng với công suất 150.000 tấn/năm…

2.1.2. Vị trí, vai trò của ngành thép Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân

Ngành thép là ngành Công nghiệp nặng cơ sở của mỗi quốc gia. Nền Công

nghiệp gang thép mạnh là sự đảm bảo ổn định và đi lên của nền kinh tế một cách

chủ động, vững chắc. Sản phẩm thép là vật tư, nguyên liệu chủ yếu, là “lương

thực” của nhiều ngành kinh tế quan trọng như ngành cơ khí, ngành xây dựng; nó

có vai trò quyết định tới sự nghiệp Cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

Ngành thép ln được Nhà nước xác định là ngành công nghiệp được ưu tiên

phát triển trong quá trình phát triển đất nước. Sự tăng trưởng của ngành thép đi

đôi với sự tăng trưởng của ngành công nghiệp và nền kinh tế.

Đa số các nước thành công về phát triển kinh tế đều xác định ngành thép

là ngành kinh tế mũi nhọn, hàng đầu và tập trung đầu tư cho nó phát triển.

94



95



Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển xây dựng ở Việt Nam ngày

một gia tăng, thị trường thép từ đó cũng được mở rộng. Theo số liệu thống kê của

Hiệp hội thép Việt Nam năm 2015, nhu cầu tiêu thụ trong nước chỉ chiếm khoảng

67% tổng lượng sản xuất ra, tương ứng với gần 10 triệu tấn, trong khi nhập khẩu

tăng mạnh 32%, tương ứng với 15,7 triệu tấn. Năm 2016, tổng sản lượng thép

sản xuất toàn ngành là 17,8 triệu tấn, sản lượng thép tiêu thụ đạt 15,4 triệu tấn.

Đến năm 2017, tổng sản lượng sản xuất thép đạt 21,062 triệu tấn, tăng 24,3% so

với năm 2016; tiêu thụ thép các loại đạt gần 18 triệu tấn, tăng 20,7% so với năm

2016; xuất khẩu thép đạt hơn 3,75 triệu tấn, tăng hơn 34% so với năm 2016. Quý

I/2018, sản lượng sản xuất thép đạt 5,77 triệu tấn, tăng 25% so với quý I/2017;

tiêu thụ đạt 4,84 triệu tấn, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, xuất

khẩu đạt 1,16 triệu tấn, tăng 38,6% so với cùng kỳ 2017. Thế mạnh của ngành

thép Việt Nam vẫn là các sản phẩm thép xây dựng, chiếm 44% tổngsản lượng sản

xuất toàn ngành.



Biểu đồ 2.7: Sản lượng sản xuất thép trong giai đoạn 2014– 2017

(Nguồn: Báo cáo ngành thép Việt Nam 2017- VietinbankSc)

Mặc dù có những sự phát triển đáng kể nhưng nhìn tổng quát, ngành thép Việt

Nam đang ở điểm xuất phát thấp, chậm hơn so với các nước trong khu vực khoảng 10

năm. Hiện tại Việt Nam chỉ có 3 dàn cán liên tục nhập từ Nhật Bản và Tây Âu có trình

độ tương đối cao của 2 liên doanh Vinakyoei và Vina-Pasco (VPS). Ngồi ra, còn có

hơn 10 máng cán thuộc loại bán liên tục, thiết bị phần lớn được sản xuất tại Đài Loan,

95



96



Trung Quốc, Việt Nam. Đa số các DNSX thép ở Việt Nam có quy mơ nhỏ, cơng nghệ

sản xuất chỉ ở mức trung bình so với thế giới, và đa số chỉ tham gia ở khâu gần cuối

của chuỗi giá trị; do đó, giá trị gia tăng thấp, dẫn tới doanh thu và lợi nhuận không

cao. Mặt khác, các DN này phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu bán thành phẩm

là phôi thép nhập khẩu để sản xuất nên biên lợi nhuận chịu sự chi phối lớn từ biến

động giá thế giới. Chỉ có một số các DN có quy mơ lớn, xây dựng thành các khu liên

hợp gang, thép với dây chuyền sản xuất khép kín, khai thác từ thượng nguồn ngun

liệu như Hòa Phát, Formosa Hà Tĩnh có lợi thế cạnh tranh lớn do quản lý và tiết giảm

chi phí hiệu quả, nhờ đó sẽ ngày càng mở rộng thị phần.

Có thể nói thép là một ngành cơng nghiệp còn non trẻ của đất nước ta

nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và yêu cầu của quá

trình hội nhập khu vực và thế giới thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh của

ngành thép là hết sức cấp bách và cần thiết.

2.1.3. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý ảnh hưởng

đến hệ thống thông tin kế tốn trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc

Tổng cơng ty Thép Việt Nam

2.1.3.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp sản

xuất thép

*)Tổ chức quy trình sản xuất thép

Ngành sản xuất thép có đặc điểm khác biệt hơn các ngành cơng nghiệp

khác đó là quy trình sản xuất bao gồm bốn giai đoạn: Giai đoạn khai thác và chế

biến quặng sắt, giai đoạn luyện gang, giai đoạn sản xuất ra phôi thép và giai đoạn

cán thép để sản xuất ra thép thành phẩm. Mỗi giai đoạn được bố trí tại những khu

vực sản xuất với máy móc, thiết bị và nhân lực riêng. Đặc điểm q trình sản

xuất thép có ảnh hưởng đến thơng tin kế toán như sau:

- Giai đoạn khai thác và chế biến quặng:

Trong giai đoạn này, than và quặng được khai thác từ các mỏ sẽ được đưa

vào dây truyền để tuyển thành than cốc và đưa vào các lò để thiêu kết thành



96



97



quặng, thành phẩm thu được là những quặng sắt vê thành viên dạng cục tròn đã

loại trừ những tạp chất, làm tăng hàm lượng sắt để làm nguyên liệu cho sản xuất

gang lỏng. Theo số liệu điều tra, Việt Nam có khoảng 216 điểm mỏ và quặng sắt

được đưa vào lưu trữ địa chất. Quặng sắt ở nước ta phân bổ khơng đều, nhỏ lẻ,

chỉ có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn. Còn lại rất nhỏ, chỉ có thể khai thác theo

kiểu bán chuyên nghiệp hoặc tận thu. Chỉ có một số mỏ thuộc Cơng ty Gang thép

Thái Nguyên khai thác tương đối bài bản và chế biến theo đúng quy trình. Đồng

thời đây cũng là DN duy nhất trong Tổng công ty thép Việt Nam có giai đoạn

khai thác và chế biến quặng sắt trong quy trình sản xuất thép. Đặc điểm của các

mỏ quặng khai thác như vị trí, địa hình, giao thơng của các mỏ có ảnh hưởng đến

cơng tác xây dựng dự tốn, định mức chi phí khai thác của DN. Chi phí phát sinh

trong q trình thiêu kết quặng bao gồm đá vơi, đơlơmit, than, điện, dầu, chi phí

nhân cơng và chi phí chung được phân bổ. Giá thành sản phẩm quặng thiêu kết

bao gồm giá thành quặng khai thác và chi phí thiêu kết. Nếu khơng kiểm sốt tốt

chi phí phát sinh trong giai đoạn này thì có thể đẩy giá thành của thép thành

phẩm lên cao do chi phí khai thác quặng lớn.

- Giai đoạn Luyện gang:

Trong giai đoạn này, nguyên liệu gồm quặng thiêu kết, quặng viên và các

chất phụ gia như than cốc, đá vôi được đưa vào lò cao để nấu lỏng thành nước

gang. Một phần gang lỏng từ lò cao sẽ được chuyển sang các lò tinh luyện của

nhà máy luyện thép để sản xuất ra phơi, phần còn lại sẽ được rót vào khay trên

sàn nguội để tạo thành gang đúc bán ra thị trường. Chi phí sản xuất ở giai đoạn

này gồm chi phí nguyên vật liệu để sản xuất ra gang (chiếm khoảng 60% giá

thành) và chi phí để vận hành lò cao luyện gang như chi phí về điện, nước, khí

than lò cốc; chi phí nhân cơng trực tiếp sản xuất và các chi phí chung (chiếm

khoảng 40% giá thành). Quá trình luyện gang khơng có sản phẩm dở dang, mỗi

mẻ nấu gang chỉ tạo ra gang lỏng hoặc gang đúc với thành phần hóc học riêng.

- Giai đoạn sản xuất Phôi thép:

Gang lỏng sau khi nấu sẽ được đưa tới lò đúc phơi để sản xuất ra phơi



97



98



thép, gồm 3 loại phôi là phôi thanh, phôi phiến và phôi Bloom.

Hiện nay có hai quy trình cơng nghệ sản xuất phơi thép, đó là quy trình cơng

nghệ luyện thép lò điện EAF và quy trình cơng nghệ luyện thép lò cao BOF. Theo

quy trình sản xuất cơng nghệ lò điện, từ những nguyên liệu là thép phế liệu hoặc

gang lỏng, thỏi dưới nhiệt độ của lò điện chuyển thành thép lỏng. Trải qua khâu đúc

bằng khuôn hoặc bằng máy đúc liên tục thép lỏng sẽ tạo thành phơi thép. Còn quy

trình sản xuất cơng nghệ lò cao, từ những ngun liệu là quặng sắt vê viên, than cốc,

vôi và phụ gia khác được đưa vào lò cao để nấu lỏng thành nước gang; gang lỏng từ

lò cao sẽ được chuyển sang các lò tinh luyện để tạo ra thép lỏng; thép lỏng sau khi

luyện đạt tiêu chuẩn quy định được chuyển vào lò đúc phơi để sản xuất ra phơi đảm

bảo tiêu chuẩn. Chi phí phát sinh trong giai đoạn này gồm chi phí nguyên vật liệu

(chiếm khoảng 90% giá thành); chi phí nhiên liệu như chất khử Silic Cacbit, chất

phức hợp, chất tạo xỉ, đơlơmit, vơi luyện kim, khí ga, than cốc, khí argong đường

ống, vật liệu chịu lửa… (chiếm khoảng 5% giá thành); chi phí nhân cơng; chi phí

chung phát sinh ở phân xưởng sản xuất phôi thép.

- Giai đoạn Cán thép:

Giai đoạn này sản xuất ra thép thành phẩm, phơi được đúc ở hai trạng thái:

trạng thái nóng, trạng thái này duy trì phơi ở một nhiệt độ cao sau đó đưa thẳng

vào q trình cán nóng; trạng thái nguội của phôi để xuất bán hoặc chuyển tới

các nhà máy khác để làm nóng lại, sau đó đưa vào nhà máy cán nguội để sản xuất

thép cán nguội. Chi phí phát sinh gồm chi phi nguyên vật liệu chính là phơi thép

(chiếm khoảng 92% trong giá thành); chi phí vật liệu phụ như trục cán thép, trục

cán gang; chi phí nhiên liệu như dầu FO, động lực, điện, nước… (chiếm khoảng

5% trong giá thành); còn lại là chi phí nhân cơng; chi phí chung của phân xưởng

cán thép.

Như vậy, quá trình sản xuất thép trải qua bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn

gồm nhiều hoạt động phức tạp gắn với nhiều loại chi phí khác nhau. Có hai quy

trình cơng nghệ sản xuất, cả hai quy trình cơng nghệ này đều là quy trình cơng

nghệ sản xuất liên tục. Chi phí SX sản phẩm thép ở hai quy trình công nghệ là

như nhau. Tuy nhiên trong cùng một quy trình cơng nghệ SX, chi phí NVL để SX

98



99



sản phẩm thép ở dây truyền công nghệ hiện đại giảm 25% so với dây truyền công

nghệ lạc hậu do thời gian nấu luyện kéo dài dẫn đến các chi phí đều tăng như chi

phí về điện năng tiêu thụ, chi phí về nhân cơng, chi phí về vật liệu phụ (than điện

cực, gạch và vật liệu chịu lửa…). Vì vậy, việc phân bổ chi phí phù hợp và xác

định phương pháp tính giá phí sản phẩm nhằm cung cấp thơng tin chính xác về

giá thành từng loại sản phẩm từ đó làm căn cứ phục vụ cho định giá bán sản

phẩm cũng như xác định kết quả của DN cũng là vấn đề đặt ra đối với HTTTKT

của DN.

Hiện tại, các DNSX thép thuộc TCT Thép Việt Nam hầu hết áp dụng quy

trình cơng nghệ SX thép lò điện hồ quang – đúc liên tục như: Công ty thép Miền

Nam, Công ty TNHH natsteel vina, Công ty thép tấm lá Phú Mỹ, Cơng ty cổ

phần thép Đà Nẵng… Chỉ có Cơng ty cổ phần gang thép Thái Nguyên là DN duy

nhất sử dụng cơng nghệ lò cao liên tục khép kín từ quặng sắt đến thép thành

phẩm, hay còn gọi là sản xuất thép từ thượng nguồn. Các lò điện sản xuất thép

của Việt Nam hiện rất nhỏ, trừ Nhà máy Thép Phú Mỹ được trang bị lò điện hồ

quang kiểu DANARC 70 tấn/mẻ mới được đưa vào vận hành. Các lò điện này đã

áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật như phun ô xy và than vào tạo xỉ bọt, dùng biến

thế siêu cao công suất, sử dụng các loại vật liệu chịu lửa siêu bền, ra thép đáy

lệch tâm… Một số DNSX thép lại chỉ tập trung vào sản xuất, chế biến thép ở

khâu hạ nguồn, các DN này chủ yếu tham gia sản xuất ở khâu gia công, kéo, cán

thép như Công ty TNHH thép VPS, Công ty TNHH thép Vinausteel, Công ty

TNHH thép Vina kyoei, Công ty cổ phần thép tấm lá Thống Nhất… Như vậy,

thực tế một DNSX thép có thể tham gia vào tồn bộ quy trình sản xuất thép hoặc

chỉ tham gia vào một số giai đoạn. Mức độ tham gia vào quy trình sản xuất càng

cao đòi hỏi thơng tin kế tốn càng đa dạng để đáp ứng yêu cầu quản trị của nhiều

bộ phận, nhiều giai đoạn. Điều này làm tác động đến nhu cầu thơng tin kế tốn

trong các DNSX thép.



99



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THÉP THUỘC TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x