Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn: theo Seror R. (2012) [68]

Nguồn: theo Seror R. (2012) [68]

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



1.3.2. Đánh giá tổn thương nội tạng nặng

1.3.2.1. Tổn thương thận

 Lupus tổn thương thận có HC thận hư: phù, proteine niệu >3,5g/24g, giảm

albumin máu, tăng lipid máu (tăng cholesterol).

 Giảm chức năng thận: giảm độ thanh thải Creatinin >25% trong 3 tháng

theo dõi.

 Protein niệu > 2g/ngày trong 3 tháng theo dõi.

 Viêm cầu thận tiến triển nhanh.

 Sinh thiết thận (theo phân loại mơ học) nếu có [29].

1.3.2.2. Tổn thương huyết học nặng

 Có bằng chứng về tán huyết tự miễn nặng: Hb < 7g/dl và có Coombs test

hoặc Screening test (+).

 Giảm tiểu cầu nặng < 50 G/l có hoặc khơng kèm theo xuất huyết (sau khi

đã loại trừ do nguyên nhân khác) và không đáp ứng với điều trị corticoid

liều cao (1-2mg/kg/ngày) [32], [37].

1.3.2.3. Tổn thương thần kinh trung ương

 Lâm sàng có các biểu hiện rối loạn thần kinh – tâm thần hoặc động kinh.

 Có bằng chứng tổn thương não trên MRI (tổn thương mạch máu do bệnh

SLE).

 Loại trừ tổn thương thần kinh tâm thần do nguyên nhân khác: viêm nhiễm,

rối loạn chuyển hóa, nhiễm độc, do thuốc…[21], [34].

1.3.2.4. Tổn thương phổi

 Tổn thương bệnh phổi mô kẽ

 Xuất huyết phế nang

 Loại trừ tổn thương phổi do nguyên nhân nhiễm khuẩn: lao, vi trùng sinh

mủ, viêm phổi không đặc hiệu, virus, nấm… [69].



26



1.3.2.5. Tổn thương tim

 Viêm cơ tim: tăng men tim, thay đổi ECG, siêu âm tim

 Loại trừ viêm cơ tim do nguyên nhân khác [27].

1.3.2.6. Tổn thương khác: viêm thần kinh thị giác, xuất huyết võng mạc, tổn

thương đồng thời nhiều cơ quan nội tạng…[36].

1.4. ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc chính trong điều trị là giảm tình trạng viêm, điều này có

liên quan đến hầu hết triệu chứng của bệnh và đạt được mục tiêu lui bệnh

[70], [71], [72].

1.4.1. Nguyên tắc điều trị chung

 Kháng viêm không steroid: Thông thường các thuốc kháng viêm không

stetoid được chỉ định cho các trường hợp lupus thể tổn thương khớp đơn

thuần [72].

 Corticosteroid: Được chỉ định trong hầu hết các trường hợp bệnh lupus có

tổn thương nội tạng. Liều dùng và đường dùng tùy theo mức độ nặng của

bệnh. Liều dùng thông thường 1 – 2 mg methylprednisolone /kg/ngày là có

thể kiểm sốt được tình trạng bệnh. Trong các trường hợp bệnh tiến triển

nặng đe dọa tính mạng thì corticosteroid liều rất cao truyền tĩnh mạch (liệu

pháp xung) được chỉ định dùng đơn thuần hoặc phối hợp với các thuốc ức

chế miễn dịch khác [73].

 Thuốc kháng sốt rét tổng hợp: Thường dùng là hydroxychloroquin và

được xem như là thuốc điều trị cơ bản vì tác dụng chống tái phát và kéo

dài thời gian sống cho người bệnh, được khuyến cáo dùng cho tất cả các

dạng lâm sàng của bệnh lupus [74].

 Methotrexate: Được chỉ định dùng cho các trường hợp lupus có tổn

thương khớp. Liều dùng thông thường 10 - 15mg/tuần. Methotrexate giúp

giảm được liều corticosteroid cần dùng cho bệnh nhân và làm giảm các đợt

tiến triển của bệnh [75].



27



 Thuốc ức chế miễn dịch: Thuốc có tác dụng làm giảm viêm và ức chế sản

xuất kháng thể tự miễn, giảm liều corticosteroid cần dùng do các

corticosteroid có nhiều tác dụng phụ. Cyclophosphamide và azathioprine

là hai thuốc thường dùng nhất. Mycophenolate mofetil là thuốc ức chế

miễn dịch khác được dùng cho các trường hợp nặng [71].

 Các điều trị sinh học mới: Anti-CD20 (Rituximab) có tác dụng ức chế tế

bào B sản xuất ra các kháng thể tự miễn. Các thuốc ức chế tế bào B khác

như Epratuzumab (anti-CD22), Belimumab (anti-BLyS; B-lymphoyte

stimulator), Atacicept (anti-BLyS và anti-Proliferation-inducing ligand), ức

chế các phân tử hoạt hóa tế bào T như Abatacept (anti-CD80/CD86), ức

chế các cytokine như Sifalimumab, Rontalizumab (anti type I interferon),

Tocilizumab (anti–IL6). Tính hiệu quả và an toàn của các thuốc sinh học ở

bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống hiện vẫn còn đang được nghiên cứu rộng

rãi và mở ra hướng triển vọng mới cho bệnh lý này [70], [76].

1.4.2. Điều trị lupus ban đỏ hệ thống nặng

1.4.2.1. Lupus tổn thương huyết học nặng

Hầu hết các trường hợp tổn thương về huyết học do bệnh lupus thông

thường đáp ứng tốt với liều corticoid (tương đương prednisolone)

1mg/kg/ngày; trong một số ít trường hợp tổn thương nặng thì có thể dùng liều

cao hơn hoặc truyền TM liều cao.

 Thiếu máu tan máu tự miễn: Thông thường thiếu máu do tán huyết tự

miễn nhẹ hoặc trung bình thì có thể đáp ứng tốt với corticoid liều 1mg

-2mg/kg/ngày. Trong trường hợp thiếu máu do tán huyết tự miễn nặng (Hb

< 7g/dl, Coombs test +) thì có thể truyền corticoid liều cao (pulse therapy),

thông thường liều dùng 250- 1000mg/ngày truyền TM trong 3 ngày sau đó

chuyển sang liều 1mg/kg/ngày. Trong trường hợp không đáp ứng với liều

điều liều rất cao corticoid thì có thể xem xét dùng các thuốc ức chế miễn



28



dịch (cyclophosphamide, azathioprine, mucophenonate mofetil) hoặc

thuốc sinh học (rituximab) [77].

 Giảm tiểu cầu: Giảm tiểu cầu nhẹ (100-150G/l) thường đáp ứng với điều

trị corticoid liều thông thường, giảm tiểu cầu nặng dưới 50G/l (gặp khoảng

10% bệnh nhân lupus) hoặc giảm rất nặng dưới 20 G/l. Trong trường hợp

giảm tiểu cầu rất nặng thì nguy cơ xuất huyết là rất lớn và cần có biện

pháp điều trị kịp thời. Giảm tiểu cầu nặng kèm theo xuất huyết thì có chỉ

định truyền khối tiểu cầu. Thông thường giảm tiểu cầu đáp ứng tốt với

corticoid, một số trường hợp có thể dùng corticoid liều xung (pulse

therapy) có phối hợp/hoặc khơng với thuốc ức chế miễn dịch. Trong một

số ít trường hợp kém hoặc khơng đáp ứng thì các chỉ định khác như IVIG

hoặc rituximab cần được xem xét [37].

1.4.2.2. Lupus tổn thương tim

Tổn thương tim trong SLE rất đa dạng và phần lớn đáp ứng với điều trị

với corticoid. Tràn dịch màng tim đáp ứng tốt với điều trị corticoid liều 0,51mg/kg/ngày (liều tương đương prednisolone), trong một số trường hợp tràn

dịch màng tim nặng và có dấu hiệu ép tim thì có chỉ định dẫn lưu dịch màng

tim. Viêm cơ tim cũng là một tổn thương nặng do SLE, tổn thương này có thể

đáp ứng với liệu pháp corticoid liều xung (pulse therapy), cần phải kiểm soát

tốt huyết áp và điều trị suy tim nếu có để tránh nguy cơ phù phổi cấp [27].

1.4.2.3. Tổn thương hô hấp

Tùy theo mức độ tổn thương mà điều trị cũng khác nhau. Viêm (tràn

dịch) màng phổi đáp ứng tốt với trị liệu corticoid, trong trường hợp tràn dịch

màng phổi nặng kèm theo biểu hiện khó thở thì cần phải dẫn lưu dịch màng

phổi. Các tổn thương khác ở phổi như bệnh phổi mô kẽ hoặc tổn thương phế

nang thì cần phải chẩn đốn phân biệt với các nguyên nhân khác đặc biệt là

vấn đề nhiễm khuẩn (vi trùng, lao, virus, nấm). Trong trường hợp tổn thương



29



nặng bệnh phổi mô kẽ nặng (kèm theo biểu hiện suy hơ hấp) hoặc xuất huyết

phế nang thì cần xem xét chỉ định corticoid liều xung (pulse therapy) có phối

hợp/hoặc khơng với thuốc ức chế miễn dịch [24], [78].

1.4.2.4. Tổn thương thần kinh trung ương

Tổn thương thần kinh trung ương (TKTƯ) được xem như một biểu hiện

nặng của SLE. Việc điều trị phụ thuộc vào loại tổn thương được chẩn đốn

xác định và mức độ hoạt tính của SLE. Các tổn thương nặng như viêm tủy

sống hoặc tổn thương nhu mơ não do viêm mạch lupus thì cần có chỉ định trị

liệu corticoid liều xung có/hoặc khơng phối hợp với thuốc ức chế miễn dịch

[33].

Các nghiên cứu trước đây cho rằng chỉ có những hội chứng với bệnh

học thần kinh cụ thể được coi là một phần của hội chứng lupus có tổn thương

TKTƯ (Central Nervous Systum Lupus – CNS) (động kinh, đột quỵ, liệt) gặp

khoảng 25% bệnh nhân lupus [53]. Trong thập kỷ qua với việc phát hiện sớm

(thông qua CT, MRI và PET scan) và việc điều trị tích cực đã làm giảm được

tỉ lệ tử vong và di chứng do tổn thương này gây ra. Các hội chứng lâm sàng

chủ yếu thấy ở tổn thương TKTƯ lupus là:

 Tổn thương do viêm mạch: Đây là tình trạng viêm các mạch máu của

não do hoạt động lupus. Đây là hội chứng nghiêm trọng nhất liên quan đến

lupus, và là một trong những hội chứng thần kinh trung ương cụ thể.

Thông thường, corticosteroid liều cao và/hoặc cyclophosphamide

(endoxan, cytoxan) là cần thiết để điều trị hội chứng này [34], [38].

 Hội chứng Antiphospholipid: Bất cứ bệnh nhân có kháng thể kháng

phospholipid đều có nguy cơ phát triển cục máu đơng, có thể hình thành

trong mạch não, hoặc đi đến não sau khi hình thành ở mạch máu lớn hoặc

ở tim hay ở nơi khác trong cơ thể [34]. Điều trị bao gồm việc điều trị

thông thường của một cơn đột quỵ, và thuốc điều trị lupus đợt tiến triển



30



nếu có; vì vậy tất cả những bệnh nhân có nồng độ của kháng thể kháng

phospholipid cao nên được điều trị dự phòng (aspirin và / hoặc coumadin)

để ngăn ngừa đột quỵ và các biến chứng cục máu đông khác [26].

 Lupus viêm tủy: Corticosteroids và / hoặc thuốc ức chế miễn dịch thường

được sử dụng để điều trị trong trường hợp do viêm mạch, thuốc chống

đông máu như heparin và coumadin thường được dùng trong trường hợp

nghi ngờ do tắc mạch hoặc bệnh nhân có hội chứng kháng phospholipid.

Viêm đa dây thần kinh mất myeline mạn tính (CIDP) và hội chứng

Guillain-Barre do lupus có thể gây ra rối loạn chức năng tủy sống có thể

đáp ứng với điều trị immunoglobulin tĩnh mạch (IVIG) [70].

 Hội chứng não hữu cơ: Khi bệnh nhân lupus có đột quỵ hoặc bệnh lupus

viêm mạch, các tổn thương có thể để lại sẹo, để lại di chứng giảm vận

động, rối loạn cảm giác hoặc tâm thần hoặc thậm chí co giật. Tình trạng

này xảy ra do tổn thương vĩnh viễn của thần kinh trung ương được gọi là

hội chứng não hữu cơ. Trong trường hợp này bệnh nhân cần được điều trị

triệu chứng và/hoặc với các thuốc chống động kinh [71].

1.4.2.5. Tổn thương thận

Tổn thương thận rất thường gặp trong bệnh SLE. Các triệu chứng lâm

sàng của bệnh thận lupus rất đa dạng, từ thể nhẹ nhất là protein niệu đơn độc

không triệu chứng cho đến tiểu máu hoặc nặng nhất là suy thận tiến triển

nhanh. Chẩn đoán xác định bệnh thận lupus phải dựa vào kết quả sinh thiết

thận và cũng có thể phát hiện qua sinh thiết những bệnh nhân bị bệnh thận

lupus nhưng khơng có biểu hiện lâm sàng của lupus. Phân loại bệnh thận

lupus ngày nay được dựa theo phân độ của Hội thận học Hoa kỳ năm 2003 và

phân độ này cũng dựa chủ yếu vào kết quả sinh thiết thận [79]. Bệnh thận

lupus là một bệnh cảnh nặng nề, khó điều trị, tiên lượng chủ yếu phụ thuộc

vào kết quả đáp ứng của bệnh nhân đối với thuốc, mà các thuốc điều trị



31



thường độc cho thận và phải dùng dài ngày. Phác đồ điều trị hiện nay là phối

hợp corticoid với cyclophosphamide, azathioprine hoặc ciclosporin,

mycophenolate mofetil. Bệnh nhân bị lupus cần phải được tầm soát bệnh thận

lupus để điều trị sớm [29]. Trong nhiều thập kỷ gần đây việc áp dụng điều trị

tốt đã giúp cho 46-95% bệnh nhân lupus không bị suy thận sau 5 năm. Mục

tiêu điều trị tấn cơng là nhanh chóng đạt được đợt lui bệnh về lâm sàng. Điều

này rất quan trọng vì nó liên quan đến tiên lượng về lâu dài của bệnh nhân.

Tiếp theo là phải điều trị duy trì tình trạng lui bệnh này được ổn định, hạn chế

tái phát [29].

Điều trị bệnh thận lupus dựa vào phân loại:

 Đối với bệnh thận lupus nhẹ (loại I và II): Thường không cần can thiệp đặc

hiệu.

 Đối với viêm thận lupus có tăng sinh tế bào (loại III và IV), nếu khơng

điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch thì sẽ tiến triển nhanh đến suy thận

mạn.

 Điều trị loại V: Thường thì loại V sẽ phối hợp với loại III hoặc loại IV làm

cho tiến triển đến suy thận nhanh hơn. Hầu hết các tác giả đồng ý điều trị

loại V phụ thuộc vào việc nó phối hợp với loại III hay loại IV mà điều trị

như với các loại này [5]. Trong các thử nghiệm gần đây,

cyclophosphamide phối hợp với corticoid cho kết quả tốt hơn và tỷ lệ tái

phát thấp hơn khi dùng corticoid đơn thuần. Thường các tác giả thích dùng

cyclophosphamide truyền tĩnh mạch hơn đường uống vì độc tính của thuốc

ít hơn (nguy cơ nhiễm trùng, suy buồng trứng, rụng tóc, viêm bàng quang

xuất huyết). Nếu kéo dài điều trị thì sẽ làm cho tỷ lệ tái phát giảm đi. Hội

thấp khớp học Hoa kỳ (ACR) đề nghị dùng liều cao cyclophosphmide

(0,5-1 g/m2) truyền tĩnh mạch 1 lần mỗi tháng, trong vòng 6 tháng, sau đó

1 lần mỗi 3 tháng trong vòng 2 năm, phối hợp với methylprednisolone tĩnh



32



mạch (1g/ ngày trong 3 ngày) lúc bắt đầu điều trị. Sau đó dùng đường

uống với liều 0,5-1mg/kg/ngày. Phác đồ này đang được sử dụng rộng rãi

trong điều trị viêm thận lupus nặng. Dù nhiều bệnh nhân đáp ứng tốt với

phác đồ trên, nhưng cũng có một số bệnh nhân không đáp ứng hoặc một số

bị tác dụng phụ của thuốc cho nên đã có một số tác giả nghiên cứu các

phác đồ khác phối hợp hoặc thay thế. Houssiau F.A. và cs. trong nghiên

cứu 90 bệnh nhân ở nghiên cứu “Bệnh thận Lupus Châu Âu” đã so sánh

liều cao cyclophosphamide truyền tĩnh mạch mỗi tháng trong 6 tháng, sau

đó mỗi 3 tháng phối hợp với azathioprin đường uống với cách dùng 6 liều

cố định 500mg cyclophosphamide truyền TM mỗi 2 tuần, sau đó dùng

azathioprin đường uống. Sau một thời gian theo dõi trung bình 72 tháng,

tác giả này thấy khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm về biến chứng suy

thận mạn hoặc thay đổi nồng độ creatinin máu. Tất cả những bệnh nhân

của nghiên cứu này có viêm thận tăng sinh nhưng chỉ có 22% bị suy thận

và 28% có hội chứng thận hư [80].

Trong nghiên cứu của Chan T.M. và cs. ở Hồng Kông năm 2005 [81],

bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: một nhóm dùng MMF 2g/ngày trong 6

tháng và 1 g/ngày trong 6 tháng tiếp theo. Hoặc uống cyclophosphamide

2,5mg/kg/ngày trong 6 tháng rồi azathioprin 2,5mg/kg/ ngày trong 6 tháng

tiếp theo. Sau 1 năm, tất cả các bệnh nhân được dùng azathioprine liều thấp 11,5mg/ kg/ngày. Mặc dù không thấy khác biệt về đáp ứng sớm ở 2 nhóm (lui

bệnh hồn tồn trong 81% bệnh nhân dùng MMF và 76% bệnh nhân dùng

cyclophosphamide/azathioprine) nhưng theo dõi về sau thấy nhóm dùng

MMF có tái phát sớm hơn, có lẽ liên quan đến liều lượng MMF được dùng.

Nghiên cứu này cho thấy MMF có thể được dùng để khởi đầu và phối hợp với

corticoid sẽ an toàn hơn liệu pháp sử dụng cyclophosphamide với

azathioprine.



33



Ở Châu Âu đã tiến hành nghiên cứu so sánh giữa MMF và azathioprine

trong điều trị duy trì bệnh thận lupus. Mặc dù điều trị MMF trong bệnh lý này

vẫn còn ít nghiên cứu, số lượng bệnh nhân không cao và thời gian theo dõi

ngắn, nhưng MMF tỏ ra có hiệu quả trong cả điều trị tấn cơng và duy trì của

bệnh thận lupus. Các tác dụng độc tính của thuốc ít hơn các phác đồ khác, tác

dụng phụ thường gặp là rối loạn dạ dày ruột như buồn nôn, nôn mửa, đi chảy,

các đợt nhiễm trùng nhẹ và hiếm hơn là giảm bạch cầu máu. Các vấn đề liên

quan đến điều trị như: liều tối ưu, thời gian điều trị duy trì, tỷ lệ lui bệnh, thất

bại, việc phối hợp với corticoid như thế nào, các tác dụng độc tính của thuốc

về lâu dài đang được nghiên cứu [29].

Chiến lược điều trị mới cho bệnh thận lupus có tăng sinh tế bào là phối

hợp các thuốc ức chế miễn dịch: dùng cyclophosphamide liều thấp, các thuốc

ức chế calcineurin (như cyclosporin hoặc tacrolimus), rituximab cũng đang

được nghiên cứu. Những thuốc ức chế miến dịch này đang được dùng thử

nghiệm trong bệnh thận Lupus loại V. Hu và cộng sự đã dùng phối hợp

cyclosporin A với corticoid trên 24 bệnh nhân loại V, cho thấy 52% bệnh nhân

lui bệnh hoàn toàn (protein niệu dưới 0,4g/ngày, creatinin máu bình thường),

43% bệnh nhân lui bệnh một phần (giảm 50% lượng protein niệu). Sau khi

điều trị cyclosporin A, có 1 bệnh nhân khơng đáp ứng và 1 bệnh nhân không

theo dõi được. Cyclosporin A được dùng khởi đầu với liều 5mg/kg/ngày trong

3 tháng sau đó giảm dần xuống 2mg/kg/ngày trong 6-36 tháng sau đó. Các

bằng chứng cải thiện triệu chứng về lâm sàng và sinh thiết thận cho thấy

thuốc này có tác dụng cả trong thể tăng sinh tế bào và cả trường hợp bệnh

nhân đề kháng với cyclophosphamide [82].

Tse K.C. và cs. đã nghiên cứu hiệu quả của tacrolimus trên 6 bệnh nhân

bệnh cầu thận màng do lupus có protein niệu dai dẳng, theo dõi trong vòng 2

năm thì có 5 bệnh nhân cải thiện protein niệu trên 50%, 1 bệnh nhân có biểu



34



hiện ngộ độc thuốc sau 10 tháng dùng tacrolimus. Tacrolimus có thể được

xem là thuốc chọn lựa ở nhưng bệnh nhân lupus tổn thương thận đề kháng

điều trị. Tuy nhiên cần có những nghiên cứu lớn hơn và dài ngày hơn để

khẳng định điều này [83].

Moroni



G.







cs.



nghiên



cứu



hồi



cứu



cho



thấy



dùng



methylprednisolone và chlorambucil luân phiên mỗi 6 tháng cũng làm ổn định

việc lui bệnh và liệu pháp này tốt hơn dùng corticoid đơn độc trong việc dự

phòng suy thận. Ở những bệnh nhân bị bệnh cầu thận màng do lupus, khơng

có phối hợp của loại III và loại IV, thì điều trị với azathioprine và corticoid sẽ

có 67% bệnh nhân lui bệnh hoàn toàn, 22% bệnh nhân lui bệnh một phần và

11% đề kháng với điều trị [84].

Một nghiên cứu khác dùng MMF cho 13 bệnh nhân bệnh cầu thận

màng do lupus trong 6 tháng, thì 77% lui bệnh hoàn toàn hoặc một phần.

Rituximab ức chế các tế bào B nhưng không ảnh hưởng đến các tương

bào. Nhờ ức chế tế bào B nên rituximab có thể ngăn cản tế bào tiết các tự

kháng thể. Liều lượng của rituximab được đề nghị khá thay đổi, nhưng nhìn

chung khoảng 375mg/m2 mỗi tuần chia 2-4 liều. Hầu hết các bệnh nhân sẽ ức

chế hoàn toàn được tế bào B trong vòng 1-3 tháng. Các bệnh nhân này cũng

có những cải thiện về mặt lâm sàng như hết đau khớp, giảm tràn dịch các

màng, viêm mạch ở da, viêm ở các niêm mạc và các triệu chứng về thần kinh.

Trên bệnh thận thì sự cải thiện ít hơn. Trong 45 bệnh nhân viêm thận lupus

loại III và IV, có 33,3% bệnh nhân đáp ứng với rituximab, hầu hết các bệnh

nhân này được đánh giá đáp ứng thông qua triệu chứng của bệnh lupus như

creatinin máu và protein niệu. Đây là một kết quả khả quan, tuy nhiên vì khác

nhau giữa bệnh cảnh lâm sàng, liều lượng thuốc, và phối hợp với corticoid và

các thuốc ức chế miễn dịch khác nên việc đánh giá tác dụng của rituximab

trong bệnh thận lupus là rất khó [85].



35



Rituximab là một thuốc có hiệu quả trong việc giải quyết hầu hết các

triệu chứng của lupus và rất có ích trong ở những bệnh nhân dung nạp thuốc

tốt. Tuy vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn để xác định về hiệu quả của

rituximab dùng đơn độc hay phối hợp với thuốc khác, và phối hợp với thuốc

nào thì tốt nhất [85].

Chiến lược điều trị mới gồm có: dùng các kháng thể đơn dòng của các

dấu chỉ điểm tế bào B, epratuzumab, lọc huyết tương loại bỏ các kháng thể

dsDNA gây bệnh, dùng abetimus, ức chế sự đồng kích thích tế bào T của tế

bào B bằng abatacept, BG9588, IDEC-131, ức chế sự kích thích của tế bào B

bằng belimumab. Các kết quả ban đầu rất hứa hẹn, tuy nhiên cần phải có

những nghiên cứu lớn hơn để có thể chấp nhận và áp dụng rộng rãi các này

[76].

1.4.3. Các trị liệu khác

Thay huyết tương (hoặc lọc kháng thể): Một số nghiên cứu đối với các

bệnh nhân lupus tiến triển nặng và kém đáp ứng với điều trị MP xung kết hợp

với thuốc ức chế miễn dịch thì chỉ định lọc huyết tương cũng là một biện pháp

điều trị phối hợp được xem xét [86].

Tế bào gốc: Đã có nhiều cơng trình nghiên cứu phương pháp điều trị tế

bào gốc cho thấy cải thiện khoảng 50% các trường hợp không đáp ứng với

các liệu pháp điều trị thông thường. Đây cũng là một hướng điều trị mới đầy

hứa hẹn cho các trường hợp bệnh nhân không đáp ứng với các điều trị chuẩn

thông thường [87].

Các phương pháp điều trị khác: việc dự phòng các đợt bùng phát của

bệnh cũng hết sức quan trọng, hạn chế tiếp xúc ánh nắng mặt trời và dùng

kem chống nắng khi cần, nếu bệnh nhân cần sử dụng thuốc ngừa thai thì

khuyên chỉ dùng loại chỉ có thành phần progesteron, khơng hút thuốc lá, giữ

dìn sức khỏe, chủng ngừa một số bệnh nhiễm khuẩn thông thường, tư vấn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn: theo Seror R. (2012) [68]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×