Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

sexfasciatus thường sống cả ở vùng nước lợ và nước mặn nơi có độ

mặn



dao động từ 10-32‰, chất đáy rất đa dạng từ đáy cứng, cát đến đáy bùn.

Cá con thường tìm thấy ở vùng triều ven bờ, cửa sơng và rừng ngập mặn.

Theo Viện Hải dương học Nha Trang, vùng biển Việt Nam có khoảng

30 lồi, trong đó có nhiều lồi có giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu cao như: cá

mú chấm đỏ (E. akaara), cá mú vạch (E. brunneus), cá mú chấm tổ ong (E.

merra), cá mú mỡ (E. tauvina), cá mú đen (E. heeberi), cá mú cáo (E.

megchir), cá mú chấm nâu (E. coioides). Vùng biển Bắc bộ có cá mú mỡ, cá

mú đen, cá mú cáo, cá mú chấm nâu. Vùng biển Trung bộ có cá mú đỏ, vùng

biển Đơng và Tây Nam bộ có cá mú đỏ, cá mú mỡ. Ngồi ra cũng có nhiều

loại có giá trị cao nhưng chưa được đưa vào nuôi phổ biến, chủ yếu là do

đánh bắt như cá mú nghệ (E. lanceolatus) (Lê Anh Tuấn, 2004) [11].

1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng

Sự tăng trưởng cá mú khác nhau giữa các lồi. Cá ni sau 1 năm, với

cá mú chấm đỏ (E. akaara) đạt khoảng từ 0,3 - 0,4 kg, cá mú chấm xanh

(E. malabaricus), cá mú chấm nâu (E. coioides) là 0,8 kg, cá mú mỡ (E.

tauvina) là 1,0 - 1,2 kg; cá mú nghệ (E. lanceoratus) là 3 - 4 kg, đây cũng là

loài lớn nhất trong họ cá mú. Hiện nay đã khai thác được cá mú ngồi tự

nhiên có những con đạt khối lượng tới 150 kg.

Cá bột sau 1 ngày tuổi có chiều dài trung bình 2,18 mm, miệng đóng,

chưa có sắc tố, khối nỗn hồng vẫn còn. Sau 3 ngày tuổi, miệng mở, cá bắt

đầu ăn thức ăn ngoài, lúc này ống tiêu hố chưa hồn chỉnh. Khi cá đạt 12

ngày tuổi, dài 3,57 mm; miệng, mắt, ống tiêu hố hồn chỉnh, bắt đầu phát

triển sắc tố thân. Sau 18 ngày tuổi, chiều dài cá từ 5-8 mm, gai lưng thứ 2 dài,

giai đoạn này cá rất nhạy cảm với các yếu tố bên ngoài, thời điểm này tỷ lệ

hao hụt rất lớn. Cá 32 ngày tuổi, chiều dài 8-10 mm; vây phát triển hồn

thiện và có sắc tố đen trên tất cả các tia vây, gai lưng thứ 2 và cơ thể ngắn

lại. Cá 39 ngày tuổi dài 10-12 mm, các vây hoàn chỉnh, tỷ lệ gai lưng thứ 2

giảm đáng kể. Cá 54 ngày tuổi dài 16,5 mm, gai lưng ngắn, hình dáng và sắc

tố giống cá trưởng thành. Thơng thường cá mú chấm đỏ (E. akaara) lúc 1



tuổi dài 18 cm, 2 tuổi dài 18 -24 cm, 3 tuổi dài 23-28 cm, khối lượng 0,5 kg,

4 tuổi dài 26- 33 cm khối lượng 0,7-1,0 kg, 5 tuổi dài 31-34 cm (Nguyễn Thị

Vui, 2012) [14].

1.1.4. Đặc điểm sinh sản

Cá mú có khả năng chuyển đổi giới tính, thơng thường lúc nhỏ là cá

cái, khi trưởng thành chuyển thành cá đực. Cá thường sinh sản vào ban

đêm theo tuần trăng. Trứng đẻ ra được thụ tinh ngay trong mơi trường

nước, đường kính trứng khoảng 0,76-0,82 mm và có giọt dầu nhỏ giúp trứng

nổi trong nước. Trứng sau khi thụ tinh sẽ xảy ra quá trình phân cắt tế bào và

sự phát triển phôi. Ở độ mặn 30‰, hàm lượng oxy trên 5 mg/l, nhiệt độ 2630oC và sau thời gian từ 15 đến 25 giờ trứng sẽ nở ra cá bột.

1.1.5. Đặc điểm về hệ miễn dịch ở cá mú

Ở cá xương nói chung và cá mú nói riêng có các hàng rào cơ học như

dịch nhờn, da và mang bảo vệ giúp cơ thể cá chống lại sự xâm nhập của tác

nhân gây bệnh (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009) [12].

Cá mú có hệ miễn dịch khơng đặc hiệu gồm: các yếu tố ức chế sinh

trưởng như tranferin, interferon, lisin có trong bổ thể, protein có trong phản

ứng C và lectin. Bên cạnh đó cá mú còn có hàng rào bảo vệ cấp tế bào như:

đại thực bào, bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm.

Cá mú có hệ miễn dịch đặc hiệu, cơ thể cá có khả năng sinh miễn dịch

khi được tiếp xúc với các kháng nguyên và tạo được kháng thể có khả năng

bảo hộ với mầm bệnh tương ứng.

Cơ thể cá mú có các tế bào tham gia vào q trình bảo vệ đặc hiệu như cơ

quan lympho, trong đó thận được xem là cơ quan lympho ngoại vi của cá, là

nơi xảy ra quá trình bắt giữ, xử lý và trình diện kháng nguyên cho hệ thống

đáp ứng miễn dịch của cá mú. Các tế bào lympho tham gia vào q trình đáp

ứng miễn dịch cũng có nguồn gốc và chức năng gần giống như động vật trên

cạn.



Quá trình đáp ứng miễn dịch dịch thể ở cá: khi kháng nguyên xâm nhập

vào trong cơ thể cá thì được đưa vào hệ thống tế bào bạch cầu, chủ yếu là đại

thực bào vây bắt và trình diện kháng nguyên, xử lý và trình diện yếu tố quyết

định kháng nguyên lên bề mặt làm kích hoạt các tế bào lympho T. Tế bào

lympho T kích thích lên tế bào lympho B chuyển thành tương bào sản sinh

kháng thể. Tương bào xuất hiện và tăng số lượng trong lách và thận sau một

tuần từ khi có kháng ngun kích thích. Kháng thể trong huyết thanh thường

xuất hiện khi số lượng tương bào đạt giá trị cao nhất sau khoảng 10-15 ngày;

lượng Immunoglobin (Ig) tăng lên mạnh mẽ và đạt cực đại vào 20-30 ngày

sau khi tiêm kháng nguyên. So với động vật có vú, pha mẫn cảm ở cá kéo dài

hơn và thời gian duy trì hàm lượng kháng thể cũng dài hơn.

Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở mang: mang cá có vai trò hấp thụ kháng

ngun, đặc biệt kháng ngun khơng hòa tan. Mang cá có khả năng sản xuất

kháng thể tại chỗ cho nên mang có vai trò quan trọng đối với cá.

Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở da: Immunoglobulin đã được phát hiện

trong dịch nhớt được tiết ra trên da cá. Sự có mặt của lympho, tương bào và

đại thực bào ở biểu bì đã khẳng định có sự đáp ứng miễn dịch cục bộ trên da

cá (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009) [12].

Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở dịch nhầy: dịch nhầy có chứa globulin miễn

dịch chủ yếu là IgM và các yếu tố hòa tan khác như ngưng kết tự nhiên, lysin,

lysozym, bổ thể. Khi tiến hành ngâm hoặc cho tiếp xúc với kháng nguyên

bằng cách cho ăn sẽ hình thành kháng thể trong dịch nhầy song không làm

tăng kháng thể trong huyết thanh (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009)

[12].

1.2. Ýnghĩa kinh tế và tình hình ni cá mú

Theo Liên minh ni trồng thủy sản tồn cầu (GAA), sản lượng cá mú

ni trên tồn thế giới năm 2009 ước đạt hơn 70.000 tấn, sản lượng tăng dần

trong những năm gần đây và năm 2018 dự kiến đạt gần 160.000 tấn [67].

Hiện nay có khoảng 22 lồi cá mú được ni ở các nước Đông Nam Á và



Đông Á. So với một số quốc gia khác thì nghề ni cá mú ở Việt Nam còn

khá khiêm tốn.



(Nguồn: Global Aquaculture Alliance) [67]

Hình 1.2. Sản lượng cá mú nuôi ở một số quốc gia trên thế giới

Theo Tổng cục Thủy sản, cá biển là một trong 5 đối tượng ni chính

hiện nay. Năm 2016, diện tích ni cá biển ở ao đầm của Việt Nam đạt 6.300

ha và 1.164.643 m3 lồng, sản lượng cá biển ni đạt 28.293 tấn. Các lồi cá

ni phổ biến nhất là cá mú (chiếm 50%), cá giò (30%) và cá vược (7-8%)

[72]. Cá mú là đối tượng ni có giá trị kinh tế rất cao. Giá thị trường đối với

lồi cá mú đen và cá mú chấm nâu có khối lượng từ 800 g đến 1000 g là

200.000 - 300.000 đồng/kg. Với cá mú chấm đỏ có giá dao động 400.000500.000 đồng/kg [73][74].

Thị trường cá mú trên thế giới rất có tiềm năng, nhiều nước trong khu

vực Đơng Nam Á và lân cận có giá trị xuất khẩu cá mú cao như Indonesia,

Philippin, Đài Loan, Singapore, Úc. Giá cá mú tại Hồng Kông khá cao và phụ

thuộc vào từng lồi đánh bắt tự nhiên hoặc ni. Cá mú được nuôi ở nhiều

nước thuộc khu vực Đông Nam Á bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines,

Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Việt Nam.



Ở Việt Nam nhu cầu tiêu thụ cá mú trong nước và xuất khẩu cao, vì

vậy trong tự nhiên cá đang bị khai thác quá mức. Nghề nuôi cá mú ở nước ta

đã hình thành và đang phát triển mạnh với hai vùng ni tập trung: ở phía Bắc

là 2 tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và ở phía Nam là các tỉnh Bình Định, Phú

n, Khánh Hòa. Theo Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn, Việt Nam có

khoảng 6.800 lồng ni cá biển; trong đó có 80% là ni cá mú và 500 ha ao

đìa ni cá mú, sản lượng cá mú nuôi hàng năm đạt trên 3.000 tấn, trong đó

ni lồng chiếm 2/3 sản lượng, các lồi cá mú thường được nuôi ở Việt Nam

như: cá mú chấm xanh (E. malabaricus), cá mú chấm nâu (E. coioides), cá

mú chấm đỏ (E. akaara), cá mú bleeker (E. bleekeri), cá mú sáu sọc (E.

sexfasciatus), cá mú tảo (E. moara), cá mú mỡ (E. tauvina), cá mú chấm đen

(E. fuscoguttatus). Hai loài là cá mú son (Cephalopholis miniata) và cá mú

chấm nhỏ (Plectropomus leopardus) thường được khai thác tự nhiên. Giá trị

thương phẩm từ cá mú nuôi hàng năm ước đạt hơn 300 tỉ đồng (Lê Thị Thu

Thảo và cs, 2011) [10].

Tại Việt Nam nguồn cá mú giống chủ yếu được đánh bắt ngoài tự nhiên

hoặc nhập khẩu từ Đài Loan, Philippines... Năm 2005, Viện Nghiên cứu nuôi

trồng thủy sản II đã ương giống cá mú đen chấm đỏ thành công. Hiện tại, một

số trung tâm giống cũng tự sản xuất được một lượng giống nhất định nhưng

số lượng cá giống còn rất ít so với nhu cầu để cung cấp cho các vùng nuôi cá

thương phẩm.

Cá mú được nuôi nhiều trong các lồng tre hay bè gỗ, được đặt cố định

hay thả nổi ở các vùng biển ít gió bão, sóng nhẹ như các vịnh, đầm, phá.

Ngồi ra hiện nay cá mú còn được ni trong các ao đầm nước lợ ven biển.

Cá giống được thả với có kích cỡ khoảng 8-12 cm, ni từ 6 đến 8 tháng thì

đạt khối lượng khoảng 0,5-1,5 kg/con, khối lượng cá xuất bán tùy yêu cầu

của thị trường.

Tuy có giá trị kinh tế rất cao như vậy song cá mú thường hay bị một số

bệnh như đốm đỏ, bệnh hoại cơ, bệnh đường ruột... các bệnh này đều do vi

khuẩn gây nên. Đặc biệt bệnh nguy hiểm mà cá mú mắc phải và có tỷ lệ tử

vong lớn nhất là bệnh hoại tử thần kinh do vi rút gây ra. Hiện nay, chưa có



vắc-xin phòng ngừa loại vi rút này và biện pháp phòng bệnh chủ yếu vẫn là

đảm bảo vệ sinh và cách ly các nguồn lây nhiễm vi rút.

1.3. Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh ở cá mú trên thế giới và Việt Nam

1.3.1. Đặc điểm của bệnh hoại tử thần kinh ở cá biển

Bệnh hoại tử thần kinh do vi rút gây ra là một trong những bệnh nguy

hiểm đối với cá biển trên toàn thế giới. Theo các nghiên cứu cho thấy bệnh

này đã gây ra trên 70 loài thủy sản nước mặn và nước ngọt trong đó có 32 lồi

cá biển, cá mú là lồi rất mẫn cảm với bệnh này (Munday và cs, 2002; Doan

và cs, 2017) [44][31].

Tác nhân gây bệnh được xác định là Betanodavirus thuộc họ

Nodaviridae (Nishizawa và cs, 1997; Setty và cs, 2012) [48][62]. Vi rút

thường cư trú nhiều nhất là ở hệ thần kinh trung ương như não và võng mạc

mắt. Ngồi ra vi rút còn được tìm thấy ở tuỷ sống, tuyến sinh dục, gan, dạ dày

và ruột (Đỗ Thị Hòa và cs, 2004; Breuil và cs, 2000; Muroga, 1995; Nakai và

cs, 1995; Munday và cs, 2002; Grotmol và cs, 2000) [2][21][45][46][44][34].

Khi cá bị VNN thì có một số dấu hiệu bệnh lý tùy theo từng giai đoạn

phát triển của cá. Khi cá còn nhỏ (dưới 20 ngày tuổi) dấu hiệu bệnh lý không

thể hiện rõ ràng tuy nhiên bệnh gây ra tỷ lệ chết cao (trên 80%). Khi cá ni

được 20 đến 45 ngày tuổi thì cá có một số biểu hiện như cá bơi gần mặt nước,

màu sắc cơ thể đen xám, bóng hơi căng phồng.

Khi cá ni được 4 tháng tuổi thì dấu hiệu bệnh lý thể hiện rõ ràng: cá

bơi khơng định hướng, bơi xoay tròn theo hình xoắn ốc, màu sắc cơ thể nhợt

nhạt, cá bỏ ăn, cuối cùng cá rơi vào trạng thái hôn mê, nằm ở đáy lồng, đáy bể

hoặc đáy ao. Giải phẫu cá bệnh cho thấy bóng hơi căng phồng, trong ruột

khơng có thức ăn chỉ chứa dịch hơi xanh và nâu, gan nhợt nhạt.



Hình 1.3. Dấu hiệu bệnh lý của cá mú bị VNN

(Nguồn: Đỗ Thị Hòa và cs, 2004 [2])

A: Cá bỏ ăn, màu sắc cơ thể đen tối



B: Cá bơi tách đàn



C: Giải phẫu cá bệnh, bóng hơi căng



D: Cá bơi ngửa, bơi xoay tròn



VNN có phạm vi phân bố rộng, xuất hiện ở nhiều nước từ châu Mỹ đến

châu Âu: Pháp, Đức, Italy. Ở Châu Á bệnh này đã được báo cáo xuất hiện tại

Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan

và Việt Nam. Các loài cá mú dễ bị nhiễm bệnh bao gồm: E. coioides, E.

malabaricus; E. bruneus; Cromileptes altivelis.

Cá bột, cá hương khi bị nhiễm VNN tỷ lệ chết tới 80%, cá cỡ 2,5 -7,5

cm chết tới 100%, khi cá đạt kích cỡ lớn hơn 15 cm thì tỷ lệ chết giảm dưới

20%. Bệnh hoại tử thần kinh đã thực sự trở thành mối đe dọa đối với nghề

nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới và Việt Nam.



1.3.2. Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh ở cá mú trên thế giới

Trong một vài năm trở lại đây, nhiều nước đã chủ động cho sinh sản

nhân tạo cá mú thành công nên càng thúc đẩy nghề nuôi cá thương phẩm phát

triển. Những số liệu thống kê cho thấy 95% cá nuôi lồng bè và 80% cá ni

ao có ảnh hưởng bởi dịch bệnh trong đó cả 2 loại tác nhân Nodavirus và

Iridovirus đã gây thất thoát 62,44% tổng giá trị sản lượng cá nuôi (Munday và

cs, 2002; Nakai và cs, 2000; Roy và cs, 2010) [44][47][59].

Ở Nhật Bản năm 1994 - 1995, VNN đã gây chết từ 80- 90% cá bột và

cá giống lồi E. akaara. Fukuda đã khẳng định Betanodavirus chính là tác

nhân gây bệnh cho cá E. septemfasciatus, bệnh thường xảy ra khi nhiệt độ

nước biển cao từ 30-35oC (Fukuda và cs, 1996) [33].

Tại Thái Lan vào năm 1995, cá mú lồi E. malabaricus ni cỡ từ 2,515 cm bị VNN có triệu chứng bơi quay tròn với tỷ lệ chết lên tới 100% ở cỡ

cá nhỏ, 20% ở cỡ cá lớn (Danayadol và cs, 1995) [30].

Tại Singapore năm 1998, Chew lim và cs đã phân lập được

Betanodavirus từ loài cá mú mỡ E. tauvina với cỡ cá 2-5 cm và xác định đó

chính là ngun nhân gây chết 86 - 91% cá giống. Cá bị bệnh khơng có dấu

hiệu hoại tử hay lở loét bên ngoài cũng như trong cơ thể, cá có biểu hiện bơi

xoay tròn khơng định hướng, một số nhảy lên mặt nước, hoạt động yếu dần và

chết (Hegde và cs, 2003) [36].

Tại Đài Loan, năm 1994 lần đầu tiên VNN đã gây thành dịch trên các

loài cá mú E. fuscoguttatus, E. akaara và E. owoara. Bệnh đã bùng phát trở

lại năm 1995 và làm chết tới 60% sản lượng cá nuôi (Chi và cs, 2003) [24].

Tại Hàn Quốc, VNN đã gây chết tới 80% cá mú chỉ trong vài tuần.

Bệnh có thể xuất hiện ở hầu hết các giai đoạn phát triển của cá nhưng tỷ lệ

nhiễm bệnh nặng nhất là giai đoạn ấu trùng dưới 20 ngày tuổi. Năm 1998,

Sohn và Park tổng kết rằng bệnh này đã ảnh hưởng đến 7 loài cá mú nuôi ở

Hàn Quốc, bệnh thường xảy ra vào mùa hè và tỷ lệ chết lên tới 80% (Sohn và

cs, 1998) [63].

Tại Indonesia (năm 2001), VNN đã xuất hiện và gây tác hại trên một số

loài cá mú: E. malabaricus, E. fuscoguttatus và E. coioides ở giai đoạn ấu



trùng và tiền trưởng thành. Gần đây, bệnh này lại được phát hiện trên loài E.

coioides và E. bleekeri, tỷ lệ chết lên tới 100% trong vòng 2 tuần từ khi dấu

hiệu bệnh lý đầu tiên xuất hiện (Zafran và cs, 2001) [71].

Năm 2013, Betanodavirus đã nhiễm trên cá E. coioides, Chromileptes

altivelis nuôi ở Malaysia và gây ra tổn thất lớn đối với nghề ni cá mú ở

nước này. Do đó, để hạn chế dịch bệnh, các chính sách an tồn sinh học cần

phải được thực hiện ở tất cả các cơ sở nuôi trồng thủy sản trong cả nước

(Ransangan và cs, 2013) [56].

- Đặc điểm dịch tễ của VNN: bệnh trên cá mú có liên quan đến vùng

ni có nhiệt độ nước cao. Betanodavirus nhiễm trên cá ở nhiều vùng khác

nhau trên thế giới ngoại trừ Châu Phi. Sự phân bố của một số loài cá mú

nhiễm Betanodavirus theo khu vực địa lý được trình bày ở Bảng 1.1.

Bảng 1.1. Vùng địa lý và sự phân bố một số loài cá mú có biểu hiện

bệnh hoại tử thần kinh

Quốc gia

Đài Loan



Lồi cá



Nguồn tham khảo



Cá mú chấm đỏ E. akaara



Chi và cs, 2003 [24]



Cá mú vàng E. awoara



Lai và cs, 2001 [42]



Indonesia



Cá mú chuột Cromileptes altivelis



Zafran và cs, 2001 [71]



Malaysia



Cá mú mỡ E. tauvina



Bondad và cs, 2000 [19]



Singapore



Cá mú mỡ E. tauvina



Hegde và cs, 2003 [36]



Thái Lan



Cá mú chấm xanh E. malabaricus



Danayadol và cs, 1995 [30]



Nhật Bản



Cá mú tảo E. moara



Nakai và cs, 1995 [46]



Cá mú bảy vạch (E. septemfasciatus) Fukuda và cs, 1996 [33]

Cá mú bảy vạch (E. septemfasciatus) Nishizawa và cs, 2012 [49]

Hàn Quốc



Cá mú bảy vạch (E. septemfasciatus) Sohn và cs, 1998 [63]



Philipine



Cá mú cọp E. fuscogutatus



Pakingking và cs, 2010 [51]



Có hai phương thức lan truyền bệnh: lan truyền theo chiều ngang và lan

truyền theo chiều dọc.



Phương thức truyền bệnh theo chiều ngang: vi rút từ những cá bị bệnh

lây lan sang những con khoẻ qua tiếp xúc trực tiếp hoặc vi rút được lan truyền

gián tiếp thông qua thức ăn, dòng chảy bị ơ nhiễm. Vi rút cũng có thể theo

dịch tiết của cá bệnh vào mơi trường nước và chúng xâm nhập vào cá khỏe

qua mang, da và miệng cá hoặc lây lan qua các dụng cụ chun dùng trong

ni cá như lưới, vợt, dây sục khí...

Theo nghiên cứu của Chi và cs (2003) [24], những con cá tạp nhỏ được

thu từ các trại nuôi mà bị nhiễm VNN khi dùng làm thức ăn thì cá ni có thể

nhiễm vi rút. Các tác giả đã chính thức phân lập được vi rút từ nguồn thức ăn

hàng ngày cho cá gồm: Artemia salina, Tigriopus japonicas, Acetesinte

medius và khẳng định thức ăn là một trong những nguồn lây nhiễm vi rút.

Ngồi ra, cá ni trong cùng một bể ăn thịt lẫn nhau cũng được xem

như một con đường lây nhiễm VNN. Có vài nhân tố ảnh hưởng đến phương

thức lan truyền theo chiều ngang như mật độ nuôi cá, nhiệt độ nước và độc

lực của các chủng vi rút ở các điều kiện nuôi dưỡng (Tanaka và cs, 2001)

[65].

Phương thức truyền bệnh theo chiều dọc: vi rút gây bệnh được truyền

từ bố mẹ sang con qua trứng và tinh trùng, đã chứng minh khi phát hiện thấy

vi rút ở tuyến sinh dục và trứng đã thụ tinh ở Pseudocaranx dentex bằng

phương pháp ELISA. Sau đó một số báo cáo chứng tỏ sự lây truyền theo

chiều dọc đã được phát hiện ở cá mú 7 vạch, cá măng sọc, cá bơn, cá chim.

Sự lây nhiễm vi rút vào buồng trứng cũng được cơng bố ở lồi Dicentrarchus

labrax (Arimoto và cs, 1993) [17].

Vi rút gây bệnh trên cá mú có thể chịu đựng ngưỡng pH rất rộng từ 2

đến 9 và duy trì sống được ở nhiệt độ nước 15 oC trong vòng hơn 1 năm

(Frerichs và cs, 2000) [32]. Vi rút thích nghi được ở những vùng nước ấm

hoặc bệnh chỉ xảy ra vào mùa hè 20-30oC. Sau khi tiêm vào phần cơ của cá

hỗn dịch vi rút từ não và mắt của cá bị bệnh loài E. septemfasciatus và E.

akaara, Tanaka và cs (2001) [65] đã kết luận rằng cả tỷ lệ chết và triệu chứng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×