Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

những quy định chưa tương thích với pháp luật quốc tế... dẫn đến hiệu quả áp dụng quy

định Luật phá sản năm 2004 vào thực tiễn không cao.

3.2 Nhận xét đánh giá Luật phá sản 2014

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2015:

- Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh

doanh trong 6 tháng đầu năm là 4708 doanh nghiệp, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm

2014, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mơ nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ

đồng. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục

giải thể, chấm dứt hoạt động có 1676 cơng ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm

35,6%); 1287 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 27,3%); 1044 doanh

nghiệp tư nhân (chiếm 22,2%) và 701 công ty cổ phần (chiếm 14,9%).

- Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong 6 tháng đầu

năm là 27051 doanh nghiệp, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 8898 doanh

nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 18153 doanh nghiệp ngừng hoạt động

chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc khơng đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp gặp khó

khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, có 9588 cơng ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên

(chiếm 35,4%); 8917 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 33%); 4746 công

ty cổ phần (chiếm 17,5%) và 3800 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 14,1%).

Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm là

8507 doanh nghiệp, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2014. Nhìn chung, tình hình doanh

nghiệp gia nhập thị trường trong 6 tháng đầu năm nay có sự cải thiện rõ rệt so với cùng

kỳ năm trước, thể hiện sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và tính hiệu quả của các

giải pháp chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các Bộ, ngành trong việc cải thiện môi

trường đầu tư kinh doanh và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp16.

3.2.1 Những tiến bộ của Luật phá sản 2014 so với Luật phá sản 2004

Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay việc ban hành Luật phá sản (sửa đổi) là cần

thiết và cấp bách, nhằm thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn liền với chuyển

đổi mơ hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp; đồng thời tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, tiếp tục

từng bước hoàn thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật kinh tế nói chung và Luật Phá

sản nói riêng; khắc phục các quy định của Luật phá sản chưa phù hợp, gây khó khăn cho

việc áp dụng, cũng như các vấn đề mới phát sinh vướng mắc trong quá trình thực tiễn;

bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, cá nhân, cơ

16



Theo Báo cáo của Tổng cục thống kê về tình hình kinh tế xã hội 6 thang đầu năm 2015;



38



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

quan, tổ chức, đảm bảo thủ tục thương lượng, mở thủ tục phá sản, phục hồi doanh

nghiệp, thủ tục, trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản công khai, rõ ràng, dễ hiểu,

dễ áp dụng và phù hợp quy định pháp luật.

So với các Luật phá sản 2004 thì Luật phá sản năm 2014 có những điểm mới nổi

bật sau:

Thứ nhất: Về tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

Luật phá sản năm 2014 khơng còn dùng khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”

mà dùng khái niệm “mất khả năng thanh toán” cụ thể như sau :

- Tiêu chí xác định mất khả năng thanh tốn là “khơng thực hiện nghĩa vụ thanh

tốn” mà khơng phải là “khơng có khả năng thanh tốn”.

- Thời điểm được xác định là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh

tốn mà khơng phải là “khi chủ nợ có yêu cầu”.

Thứ hai: Mở rộng hơn các đối tượng được nộp đơn xin yêu cầu tuyên bố phá

sản. So với Luật Phá sản 2004 thì Luật phá sản năm 2014 quy định theo hướng mở rộng

phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục

phá sản để đảm bảo quyền lợi của mình. Trước đây, trong Luật Phá sản 2004 thì người

lao động phải nộp đơn thơng qua đại diện thì trong luật mới người lao động có quyền tự

mình nộp đơn mà không cần phải thông qua đại diện. Đối với công ty cổ phần, Luật Phá

sản 2014 quy định cổ đơng hoặc nhóm cổ đơng sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông

trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn đồng thời cũng cho phép cổ

đơng hoặc nhóm cổ đơng sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục

ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn nếu điều lệ cơng ty có quy định.

Thứ ba: Về quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá

sản và chế định Quản tài viên.

Luật phá sản năm 2014 quy định cá nhân, doanh nghiệp được hành nghề quản lý,

thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản gồm: Quản tài viên và Doanh nghiệp

quản lý, thanh lý tài sản.

Quản tài viên là luật sư, kiểm tốn viên, người có trình độ cử nhân luật, kinh tế,

kế tốn, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo

được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản gồm: Công ty hợp danh có tối thiểu hai

thành viên hợp danh là Quản tài viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty hợp

danh là Quản tài viên; Doanh nghiệp tư nhân có chủ doanh nghiệp là Quản tài viên, đồng

thời là Giám đốc.

39



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Bên cạnh đó, Luật phá sản năm 2014 còn quy định về những cá nhân không được

hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, về thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Thứ tư: Về trình tự giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Luật phá sản năm 2014 thay đổi thủ tục tương tự như quy định tại Luật phá sản

doanh nghiệp năm 1993, theo đó quy định thủ tục tuyên bố phá sản thực hiện trước thủ

tục thanh lý tài sản. Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thủ tục thi hành quyết định

tuyên bố doanh nghiệp phá sản.

Trong Quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản thì tòa án tun bố chấm dứt

hoạt động của doanh nghiệp phá sản; đình chỉ giao dịch liên quan đến doanh nghiệp;

chấm dứt thực hiện nghĩa vụ tính lãi đối với doanh nghiệp, giải quyết hậu quả của giao

dịch bị đình chỉ; tun bố giao dịch vơ hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu,

chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, giải quyết quyền lợi của người lao

động; chấm dứt quyền hạn của đại diện doanh nghiệp; Thanh lý tài sản và bán đấu giá tài

sản còn lại của doanh nghiệp; Phương án phân chia giá trị tài sản trước và sau khi tuyên

bố phá sản của doanh nghiệp theo thứ tự phân chia tài sản quy định tại Điều 54; chuyển

yêu cầu giải quyết tranh chấp cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền; cấm đảm nhiệm chức

vụ sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản theo quy định tại Điều 130; giải quyết vấn

đề khác theo quy định pháp luật.

Thứ năm: Về mặt thẩm quyền giải quyết phá sản của tòa án.

Luật phá sản năm 2014 tiếp thu tinh thần của Luật phá sản năm 2004 nhưng có

cải tiến hơn khi quy định tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản

đối với doanh nghiệp có trụ sở chính tại quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó

trong khi theo luật cũ, tòa án cấp huyện chỉ được giải quyết phá sản đối với hợp tác xã.

Tòa án nhân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký

kinh doanh tại tỉnh đó và vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ

tục phá sản ở nước ngoài; doanh nghiệp mất khả năng thanh tốn có chi nhánh, văn

phòng đại diện ở nhiều quận, huyện thuộc tỉnh khác nhau; vụ việc phá sản thuộc thẩm

quyền của tòa án cấp huyện nhưng tòa án cấp tỉnh lấy lên giải quyết.

Thứ sáu: Về thủ tục thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản.

Thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Tòa án cho thấy, ngay sau

khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thẩm phán thường giải thích quyền và nghĩa

vụ của các bên và để các bên tự tiến hành thương lượng. Trong nhiều trường hợp, các bên

thương lượng được với nhau và người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã rút đơn yêu

40



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

cầu mở thủ tục phá sản. Để có căn cứ pháp lý cho việc tự thương lượng này, Luật phá sản

năm 2014 bổ sung quy định về phương thức thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản doanh nghiệp trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục

phá sản là chủ nợ. Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy rằng cơ chế thương lượng là biện

pháp hữu hiệu để giúp các bên giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.

Việc thương lượng thành có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, xã hội. Tại thời điểm

trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá

sản có quyền thương lượng với người yêu cầu mở thủ tục phá sản không phải với tất cả

các chủ nợ. Trong trường hợp các bên khơng thống nhất đề nghị Tồ án tạo điều kiện để

các bên thương lượng về việc giải quyết đơn u cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án tiến

hành thụ lý giải quyết theo quy định của Luật Phá sản 2014. Trong trường hợp thương

lượng thành công bên yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Thứ bảy: Về xác định tiền lãi đối với các khoản nợ.

Do Luật Phá sản 2004 chưa có quy định cụ thể về việc xác định khoản lãi đối với

các khoản nợ đến hạn và chưa đến hạn, đặc biệt là các khoản nợ mới phát sinh trong quá

trình giải quyết thủ tục phá sản đã dẫn đến tình trạng áp dụng khơng thống nhất về việc

tính lãi đối với các khoản nợ, nên không bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong quá

trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản. Để khắc phục tình trạng này, Luật Phá sản

2014 đã bổ sung quy định về xác định tiền lãi đối với khoản nợ, theo đó, kể từ ngày ra

quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ vẫn được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận

nhưng được tạm dừng việc trả lãi. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến

hành thủ tục phá sản theo quy định của Điều 86 Luật Phá sản 2014, đình chỉ thủ tục phục

hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 95 của Luật Phá sản

2014, thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện trả lãi theo thỏa

thuận; đối với các khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm

tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của các khoản nợ đó được xác định

theo thỏa thuận nhưng khơng trái với quy định của pháp luật; kể từ ngày ra quyết định

tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ khơng được tiếp tục tính lãi.



Thứ tám: Về Hội nghị chủ nợ

Về hội nghị chủ nợ cũng có nhiều điểm mới, theo quy định của Luật Phá sản

2014, điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ chỉ căn cứ trên số nợ. Theo đó, số chủ nợ

tham gia hội nghị chủ nợ không phải là điều kiện để coi hội nghị chủ nợ hợp lệ. Điều này

41



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

có nghĩa là hội nghị chủ nợ có thể hợp lệ khi chỉ cần một chủ nợ tham gia mà đại diện

cho ít nhất 51% số nợ khơng có bảo đảm. Mặt khác, việc tham gia có thể là khơng trực

tiếp. Theo hướng này, điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ thông qua phương án thu hồi

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã cũng quy định chỉ theo số nợ.

Thứ chín: Những quy định về lãnh đạo doanh nghiệp sau khi phá sản.

Luật Phá sản 2014 quy định, sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, người

giữ chức vụ giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của

các công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước không được cử đảm đương các chức vụ đó

ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào. Kể cả những người đại diện phần vốn góp của Nhà

nước ở doanh nghiệp khác như cơng ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần... mà doanh

nghiệp đó bị tun bố phá sản, thì cũng khơng được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở

bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước. Đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân,

thành viên hợp danh của công ty hợp danh, giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các

thành viên Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản,

thì khơng được quyền thành lập doanh nghiệp, khơng được làm người quản lý doanh

nghiệp từ một đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.

Tuy nhiên, Luật cũng quy định rõ các trường hợp sẽ khơng áp dụng các quy định

trên, đó là trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng.

Thứ mười: Về giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định tuyên bố doanh

nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

Theo quy định tại Điều 92 Luật Phá sản năm 2004 về giải quyết khiếu nại, kháng

nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì: để giải quyết khiếu nại, kháng nghị

quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp chỉ

định một tổ gồm ba Thẩm phán xem xét, giải quyết và Quyết định giải quyết khiếu nại,

kháng nghị của Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật

kể từ ngày ra quyết định. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết có những Quyết định giải

quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án cấp

trên trực tiếp có thể mắc phải sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có

tình tiết mới thì sẽ khơng được xem xét lại dẫn đến ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp

pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời làm giảm lòng tin của người dân và xã hội

vào hoạt động xét xử của Tòa án.

Do vậy, Luật Phá sản năm 2014 quy định việc xem xét đơn đề nghị, kháng nghị

theo thủ tục đặc biệt như sau:

“Điều 113. Xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt

42



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết

định giải quyết đề nghị, kháng nghị theo Điều 112 của Luật này mà có đơn đề nghị xem

xét lại của người tham gia thủ tục phá sản, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

hoặc kiến nghị của Tòa án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại

quyết định đó khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật phá sản;

b) Phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên bố

phá sản mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản khơng thể biết được khi

Tòa án ra quyết định.

2. Trường hợp có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân tối cao

yêu cầu Tòa án đã ra quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của Luật

này chuyển hồ sơ vụ việc phá sản cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét giải quyết.

3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, kiến nghị, Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao có quyền ra một trong các quyết định sau đây:

a) Không chấp nhận đề nghị xem xét lại, kiến nghị và giữ nguyên quyết định tuyên

bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân cấp dưới;

b) Huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân

dân cấp dưới, quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của Tòa án nhân dân

cấp trên trực tiếp và giao hồ sơ về phá sản cho Tòa án nhân dân cấp dưới giải quyết lại.

4. Quyết định giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối

cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.”

Thứ mười một: Về tuyên bố doanh nghiệp phá sản theo thủ tục rút gọn

Luật Phá sản năm 2004 không quy định thủ tục tuyên bố phá sản rút gọn. Luật

Phá sản năm 2014 quy định việc giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn đối với các

trường hợp sau:

- Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định này mà doanh nghiệp

mất khả năng thanh tốn khơng còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi

phí phá sản;

- Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp mất khả năng

thanh tốn khơng còn tài sản để thanh tốn chi phí phá sản.

Trường hợp Tòa án nhân dân xét thấy doanh nghiệp thuộc trường hợp nêu trên, Tòa

án nhân dân thơng báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết về việc Tòa án giải quyết

theo thủ tục rút gọn. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân thơng báo, Tòa

43



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

án nhân dân xem xét, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản hoặc tiếp tục giải quyết

theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết.

Thứ mười hai: Về xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt

Theo quy định tại Điều 92 Luật Phá sản năm 2004 về giải quyết khiếu nại, kháng

nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì quyết định giải quyết khiếu nại,

kháng nghị của Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật

kể từ ngày ra quyết định. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết có những Quyết định giải

quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án cấp

trên trực tiếp có thể mắc phải sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có

tình tiết mới thì sẽ không được xem xét lại dẫn đến ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp

pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời làm giảm lòng tin của người dân và xã hội

vào hoạt động xét xử của Tòa án. Do vậy, Luật Phá sản 2014 quy định việc xem xét đơn

đề nghị, kháng nghị theo thủ tục đặc biệt tại Điều 113 về xem xét đơn đề nghị, kiến nghị

theo thủ tục đặc biệt.

3.2.2 Một số điểm còn bất cập và kiến nghị góp phần hồn thiện pháp luật phá

sản

Một là, so với Luật Phá Sản 2004, Luật Phá Sản 2014 không mở rộng phạm vi điều

chỉnh đến các cá nhân và hộ gia đình, và chỉ áp dụng cho doanh nghiệp, hợp tác xã và

liên hiệp hợp tác xã. Trong điều kiện kinh tế thị trường, tất cả chủ thể kinh doanh có quan

hệ kinh tế, thương mại, có quyền bình đẳng ngang nhau và đều có thể bị lâm vào tình

trạng phá sản. Hộ gia đình và cá nhân có đăng ký kinh doanh khơng phải là một ngoại lệ.

Nếu không đưa hai đối tượng này vào trong phạm vi điều chỉnh của Luật phá sản thì vấn

đề đặt ra là khi các chủ thể đó lâm vào tình trạng phá sản, việc giải quyết sẽ được thực

hiện theo luật nào, quyền lợi của chủ nợ, các chủ thể khác có liên quan sẽ được đảm bảo

và giải quyết như thế nào? Do đó, khơng thể vì khả năng quản lý của Nhà nước còn hạn

chế mà bỏ một đối tượng ra khỏi sự điều chỉnh của pháp luật. Hiện nay các chủ tư nhân

có doanh số kinh doanh, hoạt động vay vốn có thể lớn hơn nhiều doanh nghiệp, khi phá

sản cũng gây ra nhiều rắc rối nên thời gian tới cần thiết phải bổ sung hộ gia đình, cá nhân

có đăng ký kinh doanh vào đối tượng áp dụng của Luật Phá sản.

Hai là, chậm ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thi hành Luật cũng như điều

chỉnh các quy định mới. Chẳng hạn: Nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản phá sản trong

Luật Phá sản năm 2014 được trao chủ thể hoạt động chuyên nghiệp với hai loại hình hành

nghề là quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp

tác xã mất khả năng thanh tốn trong q trình giải quyết phá sản. Dĩ nhiên, điều kiện

44



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

hành nghề của mỗi loại cũng được pháp luật quy định khác nhau. Luật Phá sản năm 2014

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, vậy từ thời điểm Luật có hiệu lực đến ngày

Nghị định 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản có hiệu

lực ngày 06/4/2015 thì trong suốt gần 03 tháng Quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề

quản lý, thanh lý tài sản hoạt động theo cơ chế nào? Cần ban sớm ban hành các văn bản

hướng dẫn thi hành Luật Phá sản 2014 để khi áp dụng vào thực tiễn được triển khai một

cách đồng bộ, thống nhất.

Ba là, Vẫn có sự khơng thống nhất giữa quy định về các trường hợp tòa án tuyên bố

phá sản liên quan đến việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Thực

vậy, Khoản 2 Điều 107 Luật Phá sản 2014 chỉ nêu duy nhất trường hợp doanh nghiệp

không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong khi Khoản 2 Điều

96 Luật Phá sản 2014 nêu thêm một giả thiết nữa là khi hết thời hạn thực hiện phương án

phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vẫn mất khả năng thanh tốn. Cần quy

định thống nhất trường hợp tòa án tuyên bố phá sản liên quan đến việc thực hiện phương

án phục hồi hoạt động kinh doanh là “không thực hiện” hoặc “hết thời hạn thực hiện”

phương án phục hồi kinh doanh thì tòa án sẽ ra tun bố phá sản doanh nghiệp

Bốn là, tại Điều 37 Luật Phá sản 2014 để ngõ khả năng thương lượng giữa chủ nợ

nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán về việc

rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Cần phải quy định cụ thể hơn các biện pháp mà hai

bên có thể đàm phán để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp

như: chuyển nợ thành phần vốn góp hoặc cổ phần, thay đổi vị trí ưu tiên thanh tốn của

khoản nợ có bảo đảm hay khoản nợ khơng có bảo đảm, chuyển khoản nợ có bảo đảm

thành khoản nợ khơng có bảo đảm và ngược lại, tăng hoặc giảm vốn góp...

Năm là, Luật Phá sản 2014 chỉ đề cập đến trường hợp doanh nghiệp chủ động

chấm dứt hợp đồng đang có hiệu lực tại các Điều 61 và Điều 62. Cần có quy định về giá

trị pháp lý của các điều khoản trong hợp đồng ký với doanh nghiệp cho phép phía bên kia

đơn phương chấm dứt hợp đồng khi phát hiện doanh nghiệp mất khả năng thanh tốn

vốn.

Sáu là, vẫn còn q ít quy định về trách nhiệm pháp lý của người quản lý doanh

nghiệp trước và trong thủ tục phá sản. Cần quy định rõ hơn trách nhiệm của người quản

lý doanh nghiệp trước và trong thủ tục phá sản.



45



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn



KẾT LUẬN

Tự do cạnh tranh và phá sản là những thuộc tính vốn có của kinh tế thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào không đáp ứng được những đòi hỏi

nghiệt ngã của thương trường, của sức ép cạnh tranh sẽ bị đào thải. Để loại bỏ những

doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh tốn các khoản nợ đến hạn,

đồng thời phòng ngừa, khắc phục những hậu quả, rủi ro mà những doanh nghiệp này có

thể gây ra cho nền kinh tế, mỗi quốc gia đều phải xây dựng và thực thi một cơ chế phá

sản có hiệu quả. Tuy nhiên, do tính chất nhạy cảm và mức độ ảnh hưởng rộng tới nhiều

đối tượng khác nhau trong đời sống kinh tế nên cơ chế phá sản ln đòi hỏi sự can thiệp

mềm dẻo, linh hoạt của nhà nước, phù hợp với những yêu cầu thực tiễn mà hoạt động

kinh doanh đặt ra. Bên cạnh những mục tiêu dài hạn mà pháp luật phá sản hiện đại

46



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

thường hướng đến (tái cấu trúc nền kinh tế thông qua việc đào thải các doanh nghiệp thua

lỗ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế và xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của người

lao động…) còn có mục tiêu quan trọng nhất - điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ.

Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay việc ban hành Luật Phá sản 2014 là cần thiết

và cấp bách, nhằm thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn liền với chuyển đổi mơ

hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp; đồng thời tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, tiếp tục từng

bước hoàn thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật kinh tế nói chung và Luật Phá sản

nói riêng; khắc phục các quy định của Luật Phá sản 2004 chưa phù hợp, gây khó khăn

cho việc áp dụng, cũng như các vấn đề mới phát sinh vướng mắc trong quá trình thực

tiễn; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, cá nhân,

cơ quan, tổ chức, đảm bảo thủ tục thương lượng, mở thủ tục phá sản, phục hồi doanh

nghiệp, thủ tục, trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản công khai, rõ ràng, dễ hiểu,

dễ áp dụng và phù hợp quy định pháp luật.

Luật Phá sản 2014 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động lập

pháp nói chung và pháp luật về kinh doanh nói riêng. Luật Phá sản là một trong những

công cụ pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong việc tiếp tục thể chế hóa

chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, Nhà

nước ta; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đang trong tình trạng sản xuất, kinh

doanh khó khăn, thua lỗ có cơ hội để rút khỏi thị trường một cách có trật tự, góp phần tái

phân phối tài sản; thúc đẩy sự lưu thông vốn trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ nợ. Đồng thời, Luật Phá sản cũng

là cơ sở pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Tòa án nhân dân giải quyết hậu

quả pháp lý của các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản./.



47



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn



PHỤ LỤC

PHỤ LỤC I

SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN DOANH

NGHIỆP NĂM 1993



48



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×