Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

1.1.1 Khái niệm phá sản

“Phá sản” hay “vỡ nợ” là tình trạng xảy ra khá phổ biến trong nền kinh tế thị

trường, đặc biệt khi các doanh nghiệp gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt, sự khan hiếm

nguồn vốn hay sự quản lý tài chính lỏng lẻo.

Ở góc độ kinh tế: phá sản là tình trạng mất cân đối giữa thu và chi tại một doanh

nghiệp hay một công ty mà biểu hiện rõ rệt nhất ở sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khả

năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Ở Châu Âu: khi nói về khái niệm phá sản, người ta thường dùng thuật ngữ

“Bankruptcy” hoặc “Banqueroute”1. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng La Mã “Banca

Rotta”, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy.”

Theo từ điển tiếng Việt: phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và

thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán

hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ 2.

Theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật phá sản 2014: Phá sản là tình trạng của

doanh nghiệp khả năng thanh tốn và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật phá sản 2014: Doanh nghiệp mất khả

năng thanh toán là doanh nghiệp khơng thực hiện nghĩa vụ thanh tốn khoản nợ trong

thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh tốn.

Từ những phân tích nêu trên có thể nói thủ tục phá sản là tập hợp những quy định

về trình tự, thủ tục, cách thức do cơ quan nhà nước ban hành để doanh nghiệp mất khả

năng thanh tốn tiến hành u cầu Tòa án nnhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.

1.1.2 Các tác động của phá sản trong nền kinh tế thị trường

Về mặt kinh tế: Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể dẫn

đến những tác động tiêu cực. Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia

vào q trình phân cơng lao động của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lượng bạn

hàng ngày càng đơng, thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các

doanh nghiệp bạn hàng theo “hiệu ứng domino” - phá sản dây chuyền.

Về mặt xã hội: Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định về

mặt xã hội bởi nó làm tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày

càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, thậm chí các tội phạm.



1



Khuất Thu Huyền, “Phá sản và pháp luật phá sản tại Việt Nam” – Chuyên đề khoa học xét xử, Viện Khoa học Xét

xử, Tòa án nhân dân tối cao, 2010.

2

“Phá sản” theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, năm 2003, tr.762.



4



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Về mặt chính trị: Phá sản dây chuyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền

kinh tế quốc gia, thậm chí khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân trực tiếp

dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị.

Như vậy, xét ở ba mặt trên, phá sản với tính cách là một hiện tượng xã hội tiêu cực

cần được hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa. Để hạn chế các tác động tiêu cực, phá sản

cần phải được coi là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của chính phủ đối với doanh

nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Yêu cầu này cần phải được thể hiện một cách nhất

quán trong pháp luật phá sản qua các nội dung như: tiêu chí xác định một doanh nghiệp

lâm vào tình trạng phá sản, vấn đề hồi phục doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thứ

tự ưu tiên thanh tốn các khoản nợ khi tuyên bố phá sản…

1.1.3 Phân biệt giải thể và phá sản

Xét về mặt hiện tượng thì phá sản và giải thể doanh nghiệp có thể đều đưa đến một

hậu quả pháp lý là chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp và phân chia tài sản còn lại cho

các chủ nợ, giải quyết các nghĩa vụ tài chính với của doanh nghiệp với nhà nước và

những người có liên quan.

Tuy nhiên, xét về mặt bản chất phá sản và giải thể có sự khác biệt rất rõ rệt như

sau:

Về quy định trong luật: Giải thể quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014, còn phá

sản quy định trong Luật Phá sản 2014.

Về lý do phá sản hoặc giải thể: Nếu như giải thể có nhiều lý do như mục tiêu kinh

doanh đạt được hoặc không mong muốn kéo dài hay không muốn tiếp tục hoạt động kinh

doanh; hoặc hết hoạt động đầu tư, kinh doanh theo giấy phép hay bị thu hồi giấy phép

thành lập và hoạt động do vi phạm pháp luật thì phá sản chỉ có một lý do duy nhất là mất

khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Về thẩm quyền giải quyết: Nếu giải thể chính do chủ doanh nghiệp hoặc cơ quan

nhà nước có thẩm quyền (chẳng hạn: cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập) thì

phá sản do cơ quan duy nhất có quyền quyết định đó là Tòa án.

Về thủ tục tiến hành: Giải thể là một thủ tục hành chính bởi chủ doanh nghiệp tự

quyết định việc giải thể hoặc theo quyết định, phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền còn phá sản là một thủ tục tư pháp có tính tố tụng cao: chủ nợ gửi đơn lên tòa án

xin giải quyết phá sản doanh nghiệp và tuyên bố doanh nghiệp phá sản.

Về xử lý quan hệ tài sản: Khi giải thể chủ doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp trực

tiếp thanh toán tài sản, giải quyết nghĩa vụ tài chính với các bên liên quan còn phá sản thì

5



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

việc thanh toán tài sản, phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp được thực hiện

thơng qua một cơ quan trung gian sau khi có quyết định tuyên bố phá sản.

Về hậu quả pháp lý: Nếu như giải thể bao giờ cũng dẫn đến việc chấm dứt hoạt

động và bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh thì việc phá sản có nhiều trường hợp xảy

ra như doanh nghiệp bị chấm dứt hoạt động, xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh hoặc có

thể tái cơ cấu, thay đổi chủ sở hữu và vẫn tiếp tục hoạt động.

Về quy định của pháp luật đối với người quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp: Đối

với trường hợp doanh nghiệp bị tòa án tuyên bố phá sản thì những người giữ chức vụ

lãnh đạo trong các doanh nghiệp nhà nước không được đảm đương các chức vụ lãnh đạo

tại các doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp nhà nước mà họ quản lý bị

phá sản. Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản có thể bị cấm

thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 03 năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tun bố phá

sản. Trong khi đó thì chủ doanh nghiệp chấm dứt do giải thể được toàn quyền thực hiện

các hoạt động đầu tư, kinh doanh trở lại bằng việc thành lập các doanh nghiệp mới mà

không bị hạn chế gì.

1.2 Khái quát chung về thủ tục phá sản

1.2.1 Khái niệm

Giống như các thực thể sống, doanh nghiệp cũng có các giai đoạn ra đời, phát

triển, suy vong, và chấm dứt hoạt động. Trong quãng đời của mình, doanh nghiệp có

nguy cơ bị Tồ án tun bố phá sản bất cứ khi nào lâm vào tình trạng phá sản.

Thủ tục là những quy định, quy ước về trình tự, cách thức tiến hành để làm tốt một

việc gì đó. Ví dụ: Để đăng ký kết hơn thì thủ tục tiến hành thì cả hai cùng phải đến Uỷ

ban nhân dân phường, xã, thị trấn của một trong hai bên nam hoặc nữ; nếu là nơi cư trú

của người nữ thì người nữ chỉ cần mang theo sổ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân

còn người nam khác xã khơng có hộ khẩu tại đó thì phải trình thêm giấy xác nhận độc

thân của địa phương nơi mình cư trú.

Thuật ngữ “Phá sản” thường được sử dụng để chỉ những doanh nghiệp bị lâm vào

tình trạng hỗn loạn về tài chính và mất khả năng thanh tốn các khoản nợ. Có nhiều mức

độ phá sản khác nhau, bao gồm từ tình trạng bị mất khả năng thanh toán tạm thời cho đến

những trường hợp chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp với tư cách một thực thể kinh

doanh.

Từ những phân tích nêu trên có thể nói thủ tục phá sản là tập hợp những quy định

về trình tự, thủ tục, cách thức do cơ quan nhà nước ban hành để doanh nghiệp mất khả

năng thanh toán tiến hành yêu cầu Tòa án nnhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản

6



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

1.2.2 Đặc điểm của thủ tục phá sản

Về bản chất, phá sản hay vỡ nợ xuất phát từ tình trạng mất khả năng thanh toán

các khoản nợ đến hạn phải trả của con nợ có liên quan. Do đó, nó tạo nên nghĩa vụ của

con nợ và quyền (truy đòi nợ) của các chủ nợ. Để giải quyết tình trạng này, giữa chủ nợ

và con nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau: hoặc là tự giải

quyết thông qua thương lượng, đàm phán, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc

tập thể nào đó, đơi khi là chính quyền địa phương nơi con nợ cư trú hay nơi con nợ tiến

hành các hoạt động kinh doanh. Quá trình giải quyết “phá sản”, đảm bảo nghĩa vụ của

chủ nợ và “giải thoát” trách nhiệm cho con nợ yêu cầu phải có sự can thiệp của pháp luật

để hài hòa lợi ích của cả hai. Thủ tục phá sản có một số đặc điểm nhất định sau:

Thứ nhất: Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể. Bởi vì các chủ nợ của

doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, khơng

tự xé lẻ ra để đòi nợ riêng. Họ cùng tham gia vào nhóm chung để tiến hành đòi nợ hay

đảm bảo quyền lợi của mình, gọi là hội nghị chủ nợ. Ngồi ra, khi giải quyết vấn đề phá

sản của doanh nghiệp, thì tồn bộ tài sản của doanh nghiệp đó được bán thanh lý, đưa vào

quỹ chung và trả cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định mà Luật Phá sản quy

định. Do vậy, trong bất cứ trường hợp nào, phá sản cũng là một thủ tục mang tính tập thể

cao.

Thứ hai: Thủ tục phá sản khơng chỉ nhắm đến mục đích đòi nợ mà còn chú trọng đến

việc giúp đỡ để con nợ có thể phục hồi hoạt động kinh doanh. Xu hướng chung của pháp luật

phá sản là chú trọng giải quyết hai vấn đề cơ bản sau:

- Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh tốn. Vì

nếu doanh nghiệp thốt khỏi tình trạng phá sản thì quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ

nợ mới không bị đe dọa, môi trường đầu tư, kinh doanh của nhà nước vì thế mà cũng

được cải thiện.

- Thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản để bù đắp các khoản nợ.

Thứ ba: Kết thúc thủ tục phá sản thường là sự chấm dứt tồn tại của một chủ thể

kinh doanh. Phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt, theo đó các chủ nợ và người có

quyền, nghĩa vụ liên quan tiến hành thủ tục tố tụng tư pháp để yêu cầu tòa án can thiệp

nhằm thu hồi các khoản nợ của mình. Có những trường hợp doanh nghiệp phục hồi các

hoạt động kinh doanh một cách thành công nhưng nhìn chung hậu quả pháp lý của phá

sản là các doanh nghiệp liên quan bị chấm dứt tồn tại, tồn bộ tài sản của doanh nghiệp

đó bị thanh lý để trả cho các chủ nợ. Trong trường hợp này, phá sản có ý nghĩa khá tiêu

cực.

7



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Thứ tư: thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp và khá phức

tạp. Điều này thể hiện ở việc tòa án phải tham gia vào hầu hết các thủ tục giải quyết phá

sản, từ ra quyết định mở thủ tục phá sản đến giám sát hoạt động của các doanh nghiệp

mất khả năng thanh toán, rà soát, xem xét phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, xử

lý tài sản của doanh nghiệp có tranh chấp…Do tính chất đặc biệt phức tạp của mình, tố

tụng phá sản đòi hỏi phải có luật riêng và luôn là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt.

1.3 Khái quát chung về pháp luật phá sản

1.3.1 Khái niệm

Hệ thống pháp luật Việt Nam: là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc,

định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau,

được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật và được thể hiện trong các

văn bản do cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ban hành theo những hình thức,

thủ tục nhất định3.

Pháp luật phá sản là một tổng thể thống nhất các quy phạm pháp luật nhằm hướng

đến việc giải quyết đúng đắn yêu cầu tuyên bố phá sản, trong đó Luật phá sản đóng vai

trò trung tâm vì nó quy định những vấn đề có tính nguyên tắc của thủ tục giải quyết một

vụ phá sản.

Luật phá sản 2014 quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá

sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo tồn tài sản trong q trình giải quyết

phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định

tuyên bố phá sản; áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy

định của pháp luật4.

1.3.2 Vai trò của pháp luật phá sản

Thứ nhất: Là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp

của các chủ nợ.

Vì trong kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ít doanh

nghiệp nào có thể tránh khỏi. Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên có quyền đòi nợ thơng

qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khở kiện ra tòa án. Tuy

nhiên việc đòi nợ bằng con đường kiện tụng nhiều khi không giải quyết một cách thỏa

đáng quyền lợi hợp pháp của các nhà kinh doanh. Do đó, thủ tục phá sản là một cơ chế

đòi nợ đặc biệt để các chủ nợ có thể sử dụng đòi nợ. Tính ưu việt của cơ chế này là việc

đòi nợ được bảo đảm bằng việc tòa án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ và

3

4



https: //vi.wikipedia.org/wiki/Hệ-thống-pháp-luật-Việt-Nam;

Điều 1, 2 Luật phá sản 2014;



8



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

thơng qua đó mà bán tồn bộ tài sản của nó để trả cho các chủ nợ. Đều này được thể hiện

qua hàng loạt các quy định liên quan đến quyền của chủ nợ như: quyền nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản, quyền khiếu nại, quyền đại diện, quyền đề xuất phương án phục hồi

hoạt động kinh doanh....

Thứ hai: Bảo vệ lợi ích của con nợ, tạo cơ hội để con nợ rút khỏi thị trường một

cách trật tự.

Hoạt động kinh doanh là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Mặt khác, một

doanh nghiệp bị phá sản thì có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu đối với xã hội mà trước

hết là đối với lao động và các chủ nợ. Chính vì vậy, khi các doanh nghiệp bị lâm vào tình

trạng phá sản thì vấn đề đầu tiên mà Nhà nước quan tâm giải quyết không phải là việc

tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay và phân chia tài sản của nó cho các chủ nợ mà là tìm

mọi cách để giúp đỡ doanh nghiệp thốt khỏi tình trạng khó khăn này.

Thứ ba: Góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của người lao động.

Chính vì phá sản mà người lao động phải mất việc làm, lâm vào tình trạng thất

nghiệp. Do vậy muốn bảo vê người lao động trước hết là phải làm sao để doanh nghiệp

không bị phá sản. Cơ chế phục hồi doanh nghiệp là thực hiện chủ trương này vì trên thực

tế cứu được doanh nghiệp là cứu được người lao động. Nhưng khi người lao động làm

việc mà không được trả lương trong một thời gian dài thì họ có quyền nộp đơn u cầu

mở thủ tục phá sản để được giải quyết quyền lợi.

Thứ tư: Góp phần bảo đảm trật tự, an tồn xã hội.

Khi mà con nợ có quá nhiều chủ nợ nhưng lại có q ít tài để thanh tốn nợ thì

việc các chủ nợ tranh giành nhau tài sản của con nợ là điều rất có thể xảy ra. nếu cứ để

các các chủ nợ “mạnh ai nấy làm”, tùy nghi “xiết nợ” một cách vơ tổ chức thì trật tự, an

tồn xã hội sẽ khơng được bảo đảm. Vì vậy, căn cứ vào pháp luật phá sản tòa án sẽ thay

mặt nhà nước đứng ra giải quyết một cách công bằng, khách quan xung đột về lợi ích

giữa các chủ nợ và con nợ và điều đó sẽ góp phần đảm bảo trật tự, an tồn trong xã hội.

Thứ năm: Góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoat động sản xuất,

kinh doanh có hiệu quả hơn.

- Pháp luật phá sản là công cụ răn đe buộc các nhà kinh doanh phải năng động,

sáng tạo nhưng cũng phải thận trọng khi hành nghề.

- Pháp luật phá sản là cơ sở pháp lý để xóa bỏ các doanh nghiệp kinh doanh kém

hiệu quả, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư.

1.3.3 Sự hình thành pháp luật phá sản

9



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

1.3.3.1 Sự hình thành pháp luật phá sản một số nước trên thế giới

Về tên gọi: Văn bản pháp luật điều chỉnh các thủ tục phá sản và giải quyết mối

quan hệ chủ nợ - con nợ được gọi thông dụng nhất là Luật Phá sản.

Tuy nhiên, ở mỗi nước khác nhau lại có cách gọi tên khác nhau: ở Nam Tư đã có

Luật cưỡng chế hồ giải phá sản (năm 1905); ở Anh có Luật mất khả năng thanh tốn,

Luật đình chỉ giám đốc cơng ty (năm 1986); ở Hàn Quốc có Luật tổ chức lại cơng ty…

Thời trung cổ: các quốc gia Châu Âu đã ban hành những văn bản pháp luật phá

sản đầu tiên5. Lúc đầu, phạm vi áp dụng của những luật này chỉ giới hạn trong lĩnh vực

kinh doanh thương mại, nhưng dần dần đã được đưa vào áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác

nhau của đời sống xã hội, và cho đến nay, pháp luật về phá sản đã điều chỉnh cả các quan

hệ kinh doanh của cả các pháp nhân, cá nhân, thậm chí những trường hợp phá sản do tiêu

dùng.

Trong một thời gian dài, việc phá sản chỉ đi liền với việc thanh toán tài sản của

con nợ cho người chủ nợ. Sau khi nền thương mại của người La Mã sụp đổ, thủ tục thanh

toán tài sản bị lãng quên. Người vỡ nợ bị tống giam và đối xử như tội phạm hình sự, một

hiện tượng kéo dài nhiều năm và chỉ chấm dứt vào đầu thế kỷ 19 theo hệ thống pháp luật

Anh – Mỹ.

Tại Châu Âu: cho đến những năm đầu của thế kỷ 20, vỡ nợ vẫn được pháp luật

nhiều nước Châu Âu xem như dạng tội phạm, có thể bị tù giam và bị cưỡng bức trả nợ.

Tuy nhiên theo thời gian, các quốc gia Châu Âu đã dần xây dựng luật phá sản theo hướng

giải quyết thấu đáo các khoản nợ mà con nợ phá sản để lại, kết hợp hài hòa quyền lợi của

chủ nợ - con nợ dù cán cân vẫn nghiêng chủ yếu về các chủ nợ.

Ở Hoa Kỳ: luật phá sản đầu tiên được ban hành năm 1800 với các quy định

“hướng vào chủ nợ” và do vậy nhiều trường hợp con nợ còn bị xem là tội phạm 6. Năm

1841, Mỹ ban hành thêm Luật mất năng lực trả nợ, luật này cho phép con nợ có thể đề

xuất việc phá sản lên tòa để được bảo hộ, miễn trách nhiệm do phá sản gây ra. Năm

1874, Luật phá sản sửa đổi của Hoa Kỳ được thông qua đã chuyển sang mục tiêu

“hướng vào con nợ” với quy định thêm về thủ tục hòa giải. Năm 1898 Hoa Kỳ thơng

qua Luật phá sản Liên bang, quy định về chế độ người quản lý tài sản nhằm giám sát

quá trình tiến hành tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phá sản. Năm

1938 Hoa Kỳ lại tiếp tục sửa đổi, bổ sung chi tiết các nội dung về thủ tục phục hồi

(được quy định ở chương 10 và chương 11 Luật phá sản Liên bang). Năm 1978, Mỹ

5



Chuyên đế khoa học xét xử: Tìm hiểu Luật Phá sản - Tập 1. Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao và Nhà

xuất bản Tư pháp, 2010 - Phan Thị Thu Hà - Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao;

6

TS Phạm Duy Nghĩa - Khoa Luật, ĐHQG “Đi tìm triết lý của luật phá sản” Bài tham luận tại hội thảo lấy ý kiến về

Luật phá sản DN (sửa đổi) - tổ chức ngày 20/11/2003 tại VCCI.



10



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

thông qua Luật phá sản sửa đổi với hai chương rất nổi tiếng là chương 7 (về thủ tục

thanh toán) và chương 11 (thủ tục phục hồi), được nhiều học giả đánh giá là “cuộc cách

mạng thứ hai” đối với luật phá sản. Sau đó, Luật phá sản của Hoa Kỳ được sửa đổi, bổ

sung qua các năm 1984, 1994, 1998, 2001, 2003 và 2005. Hiện nay, khái niệm về phá

sản của Mỹ và các quy định ở hai chương 7 và chương 11, đặc biệt ở chương 11 của

Luật phá sản Hoa Kỳ được nhiều nước học tập kinh nghiệm khi xây dựng luật phá sản

của mình, ví dụ như các quy định trong Luật “tái tạo công ty” của Nhật; quy định về

“chế độ tái cơ cấu” trong Luật phá sản doanh nghiệp của Trung Quốc, Đài Loan…

1.3.3.2 Sự hình thành pháp luật phá sản ở Việt Nam

Trong cả 02 bộ cổ luật nổi tiếng của Việt Nam là Hồng Đức và Gia Long, các chế

định về “bắt nợ” bao gồm cả việc bắt giữ đồ đạc, của cải và thậm chí người mắc nợ được

quy định khá rõ ràng.

- Luật Gia Long quy định: chủ nợ có thể cầm tù người mắc nợ để cưỡng bách trả

nợ (Nếu số nợ dưới 30 lạng bạc). Trường hợp này, thời gian giam giữ là một năm. Nếu

quá một năm mà quả thực con nỡ vẫn mất khả năng thanh tốn, họ sẽ khơng bị đòi nợ

nữa nhưng bị đánh trượng tùy thuộc vào số nợ nhiều hay ít. Nếu số nợ trên 30 lạng bạc và

sau khi bị giam giữ trên một năm mà con nợ vẫn mất khả năng thanh toán, chủ nợ có thể

tâu lên nhà vua để nhà vua tùy nghi quyết định.

- Về chế định thanh toán tài sản: Điều 592 Bộ luật Hồng Đức quy định “nếu

người mắc nợ là quan từ cửu phẩm trở lên, mắc nợ q nhiều mà khơng có đủ tài sản trả

hết các khoản nợ, được quyền tâu xin thanh toán tài sản, chia cho các chủ nợ tùy theo số

nợ nhiều hay ít…Người mắc nợ không được giấu diếm tài sản, trái luật bị phạt 80 trượng.

Chủ nợ nào tìm được tài sản dấu được phép xin lấy đủ nợ.”

Cũng như các nước thuộc địa khác, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ

thống pháp luật thực dân. Những quy định về khánh tận, thanh toán tư pháp phá sản cũng

đã có trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn 7. Hai đạo luật điều chỉnh phá sản đã được ban

hành tại Việt Nam trước đây là Luật Phá sản trong Luật Thương mại Trung phần tại miền

Trung Việt Nam ngày 02/06/1942 và Luật Phá sản trong Luật Thương mại miền Nam

Việt Nam năm 19738.

Tuy nhiên, sau năm 1975, trong khoảng trên dưới 10 năm, Việt Nam không chủ

trương thực hiện nền kinh tế cạnh tranh nhiều thành phần nên khái niệm về phá sản hầu

7



PGS.TS Dương Đăng Huệ - Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế Bộ Tư pháp, Báo cáo phúc trình đề tài: “Đánh giá thực

trạng, thực hiện nghiên cứu, phân tích khuyến nghị hồn thiện Luật Phá sản DN và các quy định pháp luật khác có

liên quan”; năm 2002, tr.3 - 6.

8



11



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

như không xuất hiện. Trong thời kỳ này, đất nước gặp nhiều thách thức: vừa mới bước

chân khỏi vũng lầy chiến tranh, lại phải đối mặt với cấm vận, thiếu thốn hàng hóa, nền

kinh tế tự cung tự cấp và thói quan liêu, bao cấp đã làm đất nước rơi vào cuộc khủng

hoảng khá trầm trọng và toàn diện. Phải đến năm 1986, Việt Nam mới thực hiện đổi mới

nền kinh tế - xã hội và bước đầu tiếp nhận nền kinh tế hàng hóa cạnh tranh, với sự xuất

hiện của nhiều thành phần sở hữu. Mặc dù vậy, phải đến đầu những năm 1990, các chế

định pháp lý về doanh nghiệp, đầu tư, kinh doanh bao gồm cả các chế định về phá sản

mới được được hình thành một cách cơ bản.

* Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), khi nước ta chuyển từ nền

kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thì các

doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau (nhà nước, tư nhân, có vốn đầu

tư nước ngoài…) mới được thành lập và cạnh tranh bình đẳng. Trong quá trình hoạt động

của các doanh nghiệp, bắt đầu xuất hiện hiện tượng cạnh tranh, đào thải, chọn lọc tự

nhiên để dẫn đến một tất yếu khách quan: các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thua

lỗ, mất khả năng thanh toán buộc phải giải thể hoặc phá sản, các doanh nghiệp làm ăn tốt

tiếp tục phát triển.

Trước tình trạng đó, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 được hình thành là một

xu hướng tất yếu. Đây là văn bản pháp lý chính thức đầu tiên của Việt Nam sau năm 1975

điều chỉnh toàn bộ các vấn đề liên quan đến phá sản của các doanh nghiệp. Luật phá sản

doanh nghiệp được Quốc hội khóa IX thơng qua ngày 30/12/1993 và có hiệu lực từ ngày

01/07/1994, bao gồm 6 chương, 52 điều.

* Luật phá sản năm 2004

Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn bất cập, khơng phù hợp với thực tế

khách quan. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, tòa án

nhân dân tối cao đã được giao trọng trách chủ trì soạn thảo một bộ luật mới thay thế cho

Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993. Ngày 15/06/2004 Quốc hội đã thông qua Luật phá

sản năm 2004 thay thế Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, có hiệu lực thi hành từ ngày

15/10/2004. Luật phá sản năm 2004 bao gồm 9 chương và 95 điều, quy định và giải quyết

hầu hết các vấn đề liên quan đến giải thể doanh nghiệp.

Sau gần 10 năm được áp dụng, có thể nói Luật phá sản năm 2004 đã thể hiện được

vai trò là một trong những cơng cụ pháp lý quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của

Việt Nam trong việc thể chế hóa chính sách kinh tế của nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi

cho các doanh nghiệp đang trong tình trạng sản xuất kinh doanh khó khăn, thua lỗ có cơ

12



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

hội để rút khỏi thị trường một cách có trật tự, góp phần tái phân phối tài sản; thúc đẩy sự

lưu thông vốn trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người

lao động và các chủ nợ9.

* Luật phá sản năm 2014

Sau khi Luật phá sản năm 2004 được ban hành, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã

ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp

luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; trong đó tại Mục 3 Phần II về

xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh có nhận định: “Xác

định rõ trách nhiệm pháp lý của chủ sở hữu nhà nước và các chủ sở hữu khác, cơ chế

bảo đảm quyền sở hữu và hạn chế quyền sở hữu,...Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tự do

kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật khơng cấm.

Tạo cơ sở pháp luật để cơng dân tích cực huy động mọi tiềm năng, nguồn lực và phát

triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và góp

phần làm giàu cho đất nước. Tạo lập môi trường pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh,

bình đẳng, phù hợp với nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam

kết quốc tế khác. Xây dựng một khung pháp luật chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi

thành phần kinh tế, xóa bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh, cải thiện môi trường đầu

tư; từng bước thống nhất pháp luật áp dụng đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước

ngoài. Hồn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tơn trọng thoả thuận của các bên

giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng,

phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế. Đổi mới cơ bản pháp luật về phá

sản”.

Bên cạnh đó, ngày 19/02/2013, Thủ tướng ban hành Quyết định số 339/QĐ-TTg

phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn liền với chuyển đổi mơ hình tăng trưởng

theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013- 2020,

trên cơ sở tôn trọng, bảo đảm các nội dung trên.

Triển khai tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 nêu trên và các

văn bản có liên quan, đồng thời nhận thức được những hạn chế, bất cập của thực tiễn thi

hành Luật phá sản năm 2004, Tòa án nhân dân tối cao đã đề nghị và được Quốc hội quyết

định đưa Dự án Luật phá sản (sửa đổi) vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm

kỳ Quốc hội khoá XIII (2011-2016).

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội XIII, Luật phá sản năm 2014 đã chính thức được

thơng qua ngày 19/06/2014, bao gồm 9 chương, 133 điều và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ

9



Báo cáo tổng kết thi hành Luật phá sản doanh nghiệp năm 2004 số 55/BC-TANDTC của TAND tối cao, ngày

23/09/2013.



13



Đề tài: Thủ tục phá sản doanh nghiệp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

ngày 01/01/2015 đồng thời thay thế cho Luật phá sản năm 2004.

So với Luật phá sản năm 2004, Luật này được đánh giá là có những sửa đổi khá

căn bản và tồn diện. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể: Tiêu chí xác định doanh

nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, chế định quản tài viên, về thẩm quyền giải quyết phá

sản của Tòa án, về thủ tục thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản…



CHƯƠNG 2

NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ

THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Phá sản không phải là một thủ tục “tự động”, tức là nó sẽ đương nhiên xảy ra khi

doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Trái lại,

phá sản là một thủ tục “có điều kiện”, tức là chỉ được xem xét giải quyết trên cơ sở có

yêu cầu mở thủ tục phá sản. Rất nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ triền miên, đã phá sản

về mặt thực tế nhưng lại chưa được coi là phá sản về mặt pháp lý do khơng có u cầu

tun bố phá sản. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản, dù thực tế

cho thấy họ có khả năng khơi phục tình trạng kinh doanh, nhưng các chủ nợ quá thiếu

kiên nhẫn mà nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản ngay khi họ không được thanh toán các

khoản nợ.

2.1 Nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

2.1.1 Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Theo quy định tại Điều 5 Luật phá sản 2014 thì những chủ thể sau có quyền nộp

đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp:

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×