Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng về mối quan hệ của hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài theo nguồn hình thành:

Thực trạng về mối quan hệ của hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài theo nguồn hình thành:

Tải bản đầy đủ - 0trang

nước ngoài năm 1995 thu ngân sách từ khu vực nước ngồi đạt 128 triệu

USD, đóng góp vào thu NSNN từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngồi tăng 30%. Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngồi liên tục có mức đóng góp vào NSNN năm sau cao hơn năm

trước( năm 2001 tăng 20,4 %; năm 2002 tăng 29,6%; năm 2003 tăng 30%)

góp phần vào nguồn thu để nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội, an ninh

quốc phòng.

Đầu tư nước ngồi góp phần tạo ra một số năng lực sản xuất, ngành sản

xuất, phương thức quản lý và kinh doanh mới thúc đẩy doanh nghiệp trong

nước nâng cao khả năng cạnh tranh. Khu vưc kinh tế có vốn đầu tư nước

ngồi đã tạo ra cho nên kinh tế nước ta có nhiều công nghệ mới hiện đại mà

biểu hiện cụ thể nhất là ở lĩnh vực viễn thơng, dầu khí, hóa chất, điện tử, tin

học, ô tô, xe máy,… làm tiền đề cho sự phát triển một số ngành kinh tế mũi

nhọn của đất nước. Ta cũng học tập được nhiều mơ hình quản lí tiên tiến và

các phương thức kinh doanh hiện đại trên thương trường quốc tế đã được áp

dụng trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đây có thể coi là những

yếu tố thức đẩy doanh nghiệp trong nước không ngừng đối mới công nghệ,

phương thức quản lí để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm

doanh nghiệp trên thị trường. Trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn

đầu tư nước ngồi là một trong những nhân tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

theo hướng cơng nghiệp hóa- hiện đại hóa. Với tỉ trọng bằng 35% giá tri sản

lượng cả nước, khu vực kinh tế này góp phần quan trọng trong việc nâng cao

giả trị sản xuất cả nước từ 11%/ năm lên 13%/ năm.

Bên cạnh đó các doanh nghiệp đầu tư nước ngồi còn tạo ra nhiều hang

hóa trong thị trường trong nước góp phần thay thế hàng nhập khẩu, và khu

vực này cũng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao nhất làm cải

thiện cán cân thanh toán quốc tế cho nước ta với kim ngạch xuất khâủ bằng

23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cá nước. Đầu tư nước ngồi cũng làm

tăng lượng có khoảng 44 vạn lao động trực tiếp cùng hàng vạn lao động gián

tiếp , với thu nhập của người lao động cao hơn 30% các khu vực khác. Hàng

năm thu nhập của người lao động ở khu vực này lên tới 300- 350 triệu USD.

29



Ngồi ra, khu vực này còn thúc đẩy q trình phát triển đổi mới và hội nhập

của nước ta vào nên kinh tế thế giới. Nhờ có đầu tư nước ngoài mà các quan

hệ song phương và đa phương được mở rộng và phát triển. Việt Nam từng

bước hội nhập nên kinh tế khu vực và thế giới., tham gia vào phân công lao

động quốc tế , mở rộng bạn hàng và thị phần ở nước ngoài. Như vậy đầu tư

nước có rất nhiều tác động tích cực tới đầu tư trong nước. Đầu tư nước ngồi

đã tích cực góp vào q trình phát triển kinh tế Việt Nam,gia tăng về quy mơ

tích lũy và chất lượng đầu tư cho nền kinh tế. Vừa thúc đẩy tích lũy nội bộ

vừa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cọ sát cho các doanh nghiệp

Việt Nam trước thềm hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Ngược lại đầu tư trong nước cũng tác động rất lớn đến đầu tư nước

ngồi, là định hướng cho dòng chảy đầu tư nước ngoài vào các ngành và lĩnh

vực cần thiết. khi đầu tư trong nước được tập trung tạo cơ sở hạ tầng, nguồn

năng lực cho một ngành nhất định thì làm cho chi phí trung gian cho sản

xuất trong ngành đó giảm đi, tỷ suất lợi nhuận trong ngành tăng lên làm các

nhà đầu tư nước ngoài mong muốn được đầu tư vào ngành đó hơn. Ví dụ

trong các năm qua khi đầu tư trong nước tập trung vào ngành thủy sản tăng

diện tích ni trồng, tăng sản lượng làm cho ngành công nghiệp chế biến

thủy sản phát triển, ngay lập tức có cơng ty nước ngồi muốn đầu tư vào lĩnh

vực chế biến thủy sản hoặc trong ngành công nghiệp may mặc là nơi thu hút

vốn đầu tư khá do vận dụng được nguồn lao động rẻ. Ở Việt Nam, lĩnh vực

du lịch và khách sạn cũng thu hút vốn đầu tư khá, vốn đầu tư trong nước

luôn chiếm một tỉ lệ ưu thế hơn so với vốn đầu tư nước ngoài, các năm qua

tỷ trọng vốn đầu tư trong nước tăng dần theo các năm : Năm 1995 tỷ lệ vốn

đầu tư trong nước so với vốn đầu tư nước ngoài là 2,29 lần, năm 1999 là

4,78 lần và năm 2003 là 5,06 lần. Điều đó khẳng đinh nguồn chủ yếu , quyết

định là vốn đầu tư trong nước. Mặc dù ta có thể thấy vốn đầu tư trong nước

và nước ngồi có mối quan hệ mật thiết song hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều

bất cập. Các năm qua vốn đầu tư trong nước tăng thêm song lượng đầu tư

nước ngồi vào Việt Nam có xu hướng ngày càng giảm- không chỉ ở FDI mà

ngay cả ODA nếu khơng có biện pháp điều chỉnh để tăng trở lại nguồn vốn

30



đầu tư nước ngồi thì các năm tới trong thời kì đẩy mạnh cơng nghiệp hóa

hiện đại hóa sẽ gặp nhiều khó khăn. Điều đó nói lên rằng nhà nước ta phải

có biện pháp điều chỉnh kịp thời gia tăng nguồn vốn trong nước, tích cực thu

hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai

đoạn tới, nhất là trong thời kì hậu khủng hoảng kinh tể hiện nay.

III. XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA SỰ TĂNG CƯỜNG MỐI

QUAN HỆ GIỮA VỐN TRONG NƯỚC VÀ VỐN NƯỚC NGOÀI

1. Xu hướng của mối tương quan giữa vốn trong nước và vốn nước

ngoài.

Với nguyên tắc vốn trong nước là quyết định vốn ngoài nước là quan

trọng vì vậy trong những năm tới nguồn vốn trong nước sẽ đủ vai trò quyết

định đối với tăng trưởng kinh tế. Do sự tăng trưởng kinh tế của đất nước như

hiện nay(trong giai đoan 2002-2008 mức tăng trưởng trung bình là 7%/1

năm) thì trong một vài năm tới phần tích lũy của nền kinh tế tăng lên cùng

với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và sự nhận thức của người dân tăng

lên thì phần tích lũy sẽ đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư phát triển của đất

nước,các khu vực đầu tư từ các nguồn vốn trong nước đều tăng về giá trị

tuyệt đối nhưng khu vực đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước sẽ giảm dần về

tỷ trọng,đầu tư của các tổ chức và cá nhân trong nước tăng lên về tỷ trọng.

Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều cơ hội và thách thức

các chủ thể trong nền kinh tế có cơ hội tham gia vào sân chơi quốc tế,ở đó

khơng có sự bảo hộ,ưu đãi của chính phủ ở đó các chủ thể kinh tế muốn tồn

tại và phát triển trên thương trường quốc tế và ngay cả trong nội địa thì sẽ

phải ln ln phát huy tính sáng tạo và tự chủ,hiện nay điều đó phần nào đã

được chứng minh với đối thủ quốc tế rằng chúng ta sẽ thích nghi được và

sẵn sàng đối đầu với các đối thủ tầm cỡ quốc tế.Mặt khác Chính phủ Việt

Nam có nhiều chính sách ưu đãi,hành lang pháp lí được bổ xung và sửa đổi

hướng tới ngày càng thơng thống và cởi mở hơn điều đó làm tăng yếu tố

tích cực trong việc thu hút dòng vốn nước ngồi vào Viêt Nam trong đó

nguồn vốn FDI là chủ yếu mặc dù do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính

đầu năm 2007 đã làm cho các chủ đầu tư dè dặt trong việc bỏ vốn đầu tư ở

31



nước ngồi cộng với tình hình hiện nay các nước đều cạnh tranh nhau gay

gắt để thu hút nguồn vốn này nhất là các nước trong khu vực ĐNA và Trung

Quốc đối với Việt Nam nhưng với những lợi thế so sánh của Việt Nam thì

nguồn vốn này sẽ ln tăng lên. Đối với nguồn vốn ODA khi Việt Nam thốt

khỏi nước có thu nhập thấp thì nguồn vốn này sẽ giảm dần do nó sẽ chảy

vào các nước kém phát triển hơn,và các điều kiện đáp ứng sẽ chặt chẽ hơn,

phần tài trợ ít dần đi thay thế cho phần cho vay có điều kiện như lãi xuất,thời

hạn trả nợ. Đối với các nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại

quốc tế do điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như nguồn

vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là khơng ràng buộc về

chính trị ,xã hội. Mặc dù vậy,thủ tục vay vốn là tương đối khắt khe,thời gian

trả nợ nghiêm ngặt,mức lãi xuất cao,trong một vài năm tới khi nền kinh tế

Việt Nam có khả năng đáp ứng được những điều kiện đó thì nguồn vốn này

sẽ được khai thác triệt để.

Mặc dù vậy theo một khía cạnh khác thì thấy rằng tình hình sử dụng

vốn trong nước trong thời gian vừa qua ở Việt Nam nhất là của khu vực nhà

nước yếu kém,gây lãng phí rất lớn,của khu vực tư nhân nhỏ và manh mún

điều này gây ra tình trạng hiệu quả sử dụng vốn trong nước rất thấp dẫn đến

phần tích lũy của nền kinh tế khơng đáp ứng đủ cho cơng nghiệp hóa hiện

đại hóa đất nước vì thế có thể nói là mất đi tính chủ động trong vai trò quyết

định đến tăng trưởng kinh tế và định hướng điều tiết đầu tư nước ngoài,nền

kinh tế trong nước còn phụ thuộc q nhiều vào nguồn vốn nước ngồi,mặt

khác môi trường kinh doanh đang bộc lộ những hạn chế như chưa thơng

thống,thiếu tính đồng bộ,chi phí đầu tư cao so với khu vực khả năng sinh

lời thấp,các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng vẫn phổ biến,cơ sở

hạ tầng yếu kém,chất lượng lao động thấp…nếu không sớm khắc phục tình

trạng này thì hệ quả tất yếu xảy ra là mất đi một nguồn lực bên ngoài rất

quan trọng trong thời kì nền kinh tế chuẩn bị cất cánh.

2.Giải pháp để tăng cường mối quan hệ giữa vốn trong nước và vốn

nước ngoài

Để đạt được mục tiêu là nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững thì

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng về mối quan hệ của hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài theo nguồn hình thành:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×