Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài:

2 Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tính đến cuối năm 2008 VIệt Nam đã thu hút được 10877 dự án đầu tư

trực tiếp nước ngoài, với tổng số vốn đăng kí là 158.945 tỷ $. Tình hình thu

hút FDI vào Việt Nam trong giai đoạn 1988-2008 có thể chia thành một số

giai đoạn như sau:

@ 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốn

đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã

hội đất nước.

@ Thời kỳ 1991-1996, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng

vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình

kinh tế-xã hội đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ”

ĐTNN tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt

Nam) với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp

mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD. Môi trường đầu tư ở Việt Nam với chi phí

đầu tư thấp, lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, thị trường tăng

trưởng mạnh đã khiến lượng FDI vào Việt Nam tăng mạnh.

Thêm

nữa, sự kiện Mỹ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam có thể coi như mốc quan trọng

trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam Với mức tăng trưởng

đáng kể, FDI bắt đầu có những tác động lan tỏa tới nền kinh tế trong nước,

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng

ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ

USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước.



Bảng 7: Tình hình thực hiện vốn FDI vào Việt Nam

Giai đoạn 1988-2008



Năm



Số dự án



1990-1999

2000



2849

391



FDI

Đăng kí

(Triệu $)

41816

2839



Tb vốn/

DA (Triệu $)

14.68

7.26



24



FDI

thực hiện

(Triệu $)

17049

2413



% thực hiện



40.77

84.99



2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Tổng



555

3143

5.66

2450

77.95

808

2999

3.71

2591

86.40

791

3191

4.03

2650

83.05

811

4548

5.61

2852

62.71

970

6840

7.05

3309

48.38

987

12004

12.16

3956

32.96

544

21348

13.83

4500

21.08

1171

60217

51.42

11500

19.10

10877

158945

14.61

53270

33.51

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

@ Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn

đăng ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước

(năm 1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998),

chủ yếu là các dự án có quy mơ vốn vừa và nhỏ. Do ảnh hưởng của cuộc

khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á, một số dự án đầu tư đang thực hiện

đã bị hủy bỏ chủ yếu do những khó khăn về tài chính.

@ Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu

có dấu hiệu phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu

USD, tăng 21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000;

năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003

(đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ

năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng

50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua

20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm

1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.

@ Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn)

đạt 20,8 tỷ USD vượt 73% vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với

mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn FDI cấp mới đều tăng đạt

mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa

phần là các dự án có quy mơ vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007,

dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất

hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp

(sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao,...) và dịch vụ (cảng biển,

25



bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này

cho thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam

@ Năm 2008, dòng vốn FDI vượt qua mọi kỉ lục trước đó bất kể nguy

cơ khủng hoảng tài chính tồn cầu và nền Kinh tế Việt Nam đã trải qua

những biến cố đầy khó khăn. Với FDI đăng kí đạt 60.2 tỷ $ tăng gấp gần 3

lần so với năm 2007 với 1171 dự án đầu tư. Con số FDI ấn tượng năm 2008

có sự đóng góp đáng kể của các siêu dự án khiến quy mô trung bình các dự

án FDI tăng từ 13.8 triệu $ năm 2007 lên con số ấn tượng 51.4 tỷ $ một dự

án tổng số vốn đăng kí 25 tỷ USD.

Tỉ lệ vốn FDI thực hiện trong giai đoạn 1988-2008

Bảng số liệu phía trên ngay lập tức cho thấy tỉ lệ giải ngân đang có xu

hướng ngày càng thấp so với mức vốn đăng kí mặc dù vốn thực hiện vẫn

tăng hàng năm.

Trong giai đoạn 1988-2006 tỉ lệ vốn FDI thực hiện vào khoảng 47% so

với vốn đăng kí, năm 2006 tỉ lệ thực hiện chỉ giảm còn có 32.96% so với

vốn đăng kí, Năm 2007 một làn sóng FDI đổ vào Việt Nam chào đón sự kiện

Việt Nam gia nhập WTO, với vốn đăng kí đạt 21.3 tỷ $ nhưng thực hiện chỉ

đạt vẻn vẹn 4.5 tỷ $, khiến cho tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện chỉ đạt 21.08%.

Năm 2008, tỷ lệ FDI thực hiện thậm chí còn thấp hơn chỉ đạt 19.10% cho dù

cả vốn đăng kí và vốn thực hiện đều đạt mức kỉ lục.

Đầu tư trực tiếp nước ngồi đã góp phần hình thành nên một khu vực

kinh tế mới: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi. Từ đó đẻ ra 2014

doang nghiệp mới và 1584 cơ sơ sản xuất kinh doanh phụ.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu ở nhóm ngành cơng

nghiệp và dịch vụ, bao gồm cơng nghiệp nặng, cơng nghiệp dầu khí, cơng

nghiệp thực phẩm và xây dựng… chiếm hơn 61% vốn đăng kí và 67% vốn

thực hiện, 74 % số lao động, 94% doanh thu và 91 % giá trị xuất

khẩu( không kể dầu thô) cuả toàn bộ khu vựcđầu tư nước ngoài. Như vậy rõ

rang rằng đầu tư nước ngoài đã thực hiện theo định hướng cơng nghiệp hố,

hiện đại hóa góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng gia

tăng tỉ trọng nhóm ngành cơng nghiệp và dịch vụ.

Bảng 8: Vốn và cơ cấu FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2008 phân theo ngành

26



STT



Chuyên ngành



Số dự án

Vốn đầu tư

Tuyệt Tỉ trọng Tuyệt đối Tỉ trọng

đôi

(%)

(Triệu $)

(%)

I

Công nghiệp và xây dựng 6,303 64.30

87,800 58.62

CN dầu khí

48

0.49

14,478 9.67

CN nhẹ

2,740 27.95

15,680 10.47

CN nặng

2,602 26.54

47,165 31.49

CN thực phẩm

350

3.57

4,199 2.80

Xây dựng

563

5.74

6,278 4.19

II

Nông, lâm nghiệp

976

9.96

4,793 3.20

Nông-Lâm nghiệp

838

8.55

,323 2.89

Thủy sản

138

1.41

470 0.31

III Dịch vụ

2,524 25.75

57,182 38.18

Dịch vụ

1,438 14.67

3,333 2.23

GTVT-Bưu điện

235

2.40

6,255 4.18

Khách sạn-Du lịch

250

2.55

15,412 10.29

Tài chính-Ngân hàng

68

0.69

1,058 0.71

Văn hóa-Ytế-Giáo dục

294

3.00

1,759 1.17

XD Khu đơ thị mới

14

0.14

,225 5.49

XD Văn phòng-Căn hộ

189

1.93

19,362 12.93

XD hạ tầng KCX-KCN

36

0.37

1,781 1.19

Tổng số

9,803 100.00

149,775 100.00

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)



Theo tổng điều tra gần đây thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm

gần 20% tổng vốn đầu tư tồn xã hơị. 25,1% giá trị sản xuất cơng nghiệp,

27,4% kim ngạch xuất khẩu cả nước và tạo việc làm cho 400.000 lao động

trực tiếp cùng hàng vạn lao động gián tiếp khác.

Đóng góp của khu vực này cho ngân sách nhà nước tăng lên qua các

năm: Năm 2000 nộp NSNN đạt 1,3% so với GDP thì đến năm 2003 ước đạt

1,5 % so với GDP. Kết quả sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực của khu

vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội so

với các khu vực kinh tế trong nước. Chẳng hạn năm 2002, trong khi giá trị

sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng 11,7 %

hay khu vực ngoài quốc doanh là 19,2 % thì khu vực doanh nghiệp có vốn

27



đẩu tư nước ngồi tăng 24,8 % hoặc kim ngạch xuất khảu trong nước tăng

23,7%. Như vậy đầu tư nước ngồi đóng vai trò là đầu tàu trong quá trình

tăng trưởng phát triển kinh tế nước ta hện nay.

Có thể nói đóng góp của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cho sự

tăng trưởng kinh tế các năm qua ở Việt Nam là rất lớn, được xem là xung lực

chính. Tuy nhiên có một câu hỏi được đặt ra là liệu sự tăng trưởng kia có thể

được duy trì khơng nếu đầu tư của khu vực nước ngoài mỗi năm một giảm

sút . Từ năm 1997, cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á đã làm dòng nước

ngồi giảm từ 28% năm 1997 đến 2001 còn 18,4% vàn ăm 2003 đạt 16,8%,

quy mơ của các dự án cũng có xu hướng giảm dần. Hiện nay quy mơ trung

bình của một dự án đăng kí chưa cấp phép là chưa đầy 2 triệu USD trong khi

giai đoạng trước là 10 triệu USD ( năm 1994).

Bảng9 : Quy mơ trung bình của một dự án FDI trong giai đoạn 1990-2008

Đơn vị: Triệu $



Năm



số dự án





1990-2007

2008



9706

1171



FDI Đăng

Tb

vốn/

DA

98728

10.172

60217

51.424



3. Thực trạng về mối quan hệ của hai nguồn vốn trong nước và

nước ngồi theo nguồn hình thành:

Tồn cầu hóa nền kinh tế thế giới là một trong những xu thế vận đọng

chủ yếu của đời sống quốc tế hiện nay. Với xu hướng này, mở của và hội

nhập các nền kinh tế quốc gia và khu vực trở thành điều kiện bắt buộc của sự

phát triển. Bên cạnh đó, với sự tiến bộ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật cơng

nghệ khi tiềm lực kinh tế nói chung của thế giới đã trở nên hùng hậu, vấn đề

tăng trưởng lâu bền, tốc độ cao và dịch chuyển cơ cấu thành quản lí phát

triển cho mọi nền kinh tế hiện đại. Việt Nam cũng khơng năm ngồi xu

hướng ấy. Bên cạnh yếu tố quyết định là nội lực thù đầu tư trực tiếp nước

ngồi đóng vai trò hết sức quan trọng tạo nên đà tăng trưởng. Vốn đầu tư



28



nước ngoài năm 1995 thu ngân sách từ khu vực nước ngoài đạt 128 triệu

USD, đóng góp vào thu NSNN từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngồi tăng 30%. Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngồi liên tục có mức đóng góp vào NSNN năm sau cao hơn năm

trước( năm 2001 tăng 20,4 %; năm 2002 tăng 29,6%; năm 2003 tăng 30%)

góp phần vào nguồn thu để nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội, an ninh

quốc phòng.

Đầu tư nước ngồi góp phần tạo ra một số năng lực sản xuất, ngành sản

xuất, phương thức quản lý và kinh doanh mới thúc đẩy doanh nghiệp trong

nước nâng cao khả năng cạnh tranh. Khu vưc kinh tế có vốn đầu tư nước

ngồi đã tạo ra cho nên kinh tế nước ta có nhiều cơng nghệ mới hiện đại mà

biểu hiện cụ thể nhất là ở lĩnh vực viễn thơng, dầu khí, hóa chất, điện tử, tin

học, ô tô, xe máy,… làm tiền đề cho sự phát triển một số ngành kinh tế mũi

nhọn của đất nước. Ta cũng học tập được nhiều mơ hình quản lí tiên tiến và

các phương thức kinh doanh hiện đại trên thương trường quốc tế đã được áp

dụng trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngồi. Đây có thể coi là những

yếu tố thức đẩy doanh nghiệp trong nước khơng ngừng đối mới cơng nghệ,

phương thức quản lí để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm

doanh nghiệp trên thị trường. Trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn

đầu tư nước ngồi là một trong những nhân tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

theo hướng cơng nghiệp hóa- hiện đại hóa. Với tỉ trọng bằng 35% giá tri sản

lượng cả nước, khu vực kinh tế này góp phần quan trọng trong việc nâng cao

giả trị sản xuất cả nước từ 11%/ năm lên 13%/ năm.

Bên cạnh đó các doanh nghiệp đầu tư nước ngồi còn tạo ra nhiều hang

hóa trong thị trường trong nước góp phần thay thế hàng nhập khẩu, và khu

vực này cũng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao nhất làm cải

thiện cán cân thanh toán quốc tế cho nước ta với kim ngạch xuất khâủ bằng

23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cá nước. Đầu tư nước ngồi cũng làm

tăng lượng có khoảng 44 vạn lao động trực tiếp cùng hàng vạn lao động gián

tiếp , với thu nhập của người lao động cao hơn 30% các khu vực khác. Hàng

năm thu nhập của người lao động ở khu vực này lên tới 300- 350 triệu USD.

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×