Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước:

1 Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước:

Tải bản đầy đủ - 0trang

nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước bình quân 5 năm chiếm 21,5%

tổng vốn đầu tư xã hội, tức khoảng 8 tỉ USD. Đến năm 2000, tỉ lệ chi NSNN

là 24,7% so với GDP trong đó chi cho đầu tư phát triển là 6.7%. Chi phí đầu

tư phát triển của NSNN cho các ngành kinh tế thì tập trung chủ yếu ở các

lĩnh vực công nghiệp và giao thơng vận tải, bưu chính viễn thơng chiếm

khoảng 35,3%, lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chiến khoảng 22,5%, cho

các lĩnh vực còn lại bao gồm khoa học cơng nghệ, giáo dục đào tạo, y tế,

văn hóa, thể dục thể thao chiến khoảng 36,7%. Như vậy nhờ tăng đầu tư, số

cơng trình đưa vào sử dụng và năng lực của hầu hết các ngành đều tăng. Giá

trị tài sản cố định tính đến cuối năm 2000 tăng khoảng 30% so với năm

1995.

Đầu tư cho các cơng trình mục tiêu quốc gia được ngân sách cấp rất

lớn: đầu tư cho xóa đói giảm nghèo, chương trình 135 đã tạo được niềm tin của

đồng bào và dân tộc với Đảng và Nhà nước, dự án trồng 5 triệu ha rừng…

Tuy nhiên vấn đề đặt ra với vốn đầu tư phát triển có nguồn gốc từ

NSNN là việc thực hiện vẫn trong tình trạng phân tán dàn trải, thiếu tập

trung, số lượng các dự án ngay càng gia tăng. Theo số liệu thống kê của Bộ

kế hoạch và Đấu tư thì năm 2003 các bộ và địa phương đã bố trí 10600 cơng

trình tăng 2500 cơng trình so với năm 2000. Trong đó các cơng trình do địa

phương bố trí tăng 47%, nhiều dự án là theo ý kiến chủ quan của ngành địa

phương. Việc đầu tư dàn trải như vậy lại diễ ra tròn điều kiện nguồn ngân

sách còn nhiều hạn hẹp khiến cho nhiều cơng trình còn xây dựng dở dang

nằm chờ vốn gây lãng phí nguồn lực, tình hình nợ đọng vốn trong đầu tư xây

dựng khá cao. Theo số liệu cho đếm giữa năm 2003, được tổn hợp từ các bộ,

ngành 53/61 tỉnh thành phố thì số nợ này lên tới 11000 tỷ đồng. Giao thông

vận tải, nông nghiệp và phát triển nơng thơn là những bộ phận có khối

lượng nợ đọng lớn.

Nhưng đáng ngại nhất vẫn là vấn đề chất lượng các cơng trình xây

dựng chưa thực sự được đảm bảo. Khơng ít các cơng trình xây dựng khi mới

bàn giao đưa vào sử dụng chưa được bao lâu đã nhanh chóng xuống cấp và

hư hỏng…Việc sai phạm dẫn tới những tổn thất về chất lượng không chỉ từ

13



phía các đơn vị thi cơng mà ngay từ các đơn vị tư vấn thiết kế, các cơ quan

thẩm tra, thẩm định kinh tế…

Việc thất thốt và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là một vấn đền

nhức nhối cần được tập trung giải quyết và chất lượng các cơng trình tác

động tới thời gian sử dụng tạo ra trình độ về cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế.

Do đó, đòi hỏi phải có giải pháp thiết thực để sủ dụng có hiệu quả vốn đầu

tư từ nguồn ngân sách này.

1.1.2 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:

Theo số liệu thống kê thì năm 2000 có khoảng 5700 doanh nghiệp nhà

nước nhưng hầu hết nhỏ bé về quy mơ: Vốn bình qn dưới 5 tỷ chiếm 66%,

trong đó DNNN của các tỉnh thành phố có vốn 1 tỷ chiếm 30% nhiều tỉnh là

60%. Đến năm 2001, số doanh nghiệp nhà nước giảm còn 5535 và năm 2003

là 5364 doanh nghiệp. đấy là do chủ trương cơ cấu lại DNNN thực hiện

chuyển đổi hình thức DNNN. Trước đây, vốn cho DNNN chủ yếu được cấp

từ NSNN thì nay thực hiện cổ phần hóa để da dạng các nguồn vốn. Trước

đây, đa số các doanh nghiệp đều trong tình trạng làm ăn thua lỗ, khoảng hơn

20% gây nên gánh nặng cho NSNN.

Trong ba năm 1997-1999 NSNN

cấp gần 8000 tỷ đồng trực tiếp cho các DNNN, 1464,4 tỷ để bù lỗ nhằm

giảm gánh nặng tài chính. Ngồi ra, từ năm 1996 chính phủ còn miễn, giảm

thuế là 2288 tỷ đồng, xóa nợ 1088.5 tỷ, khoanh nợ 3392 tỷ, dãn nợ 540 tỷ

và tiếp tực cung cấp 8685 tỷ tín dụng ưu đãi cho các DNNN. Theo chủ

trương mới, thực hiện cổ phần hóa các DNNN còn khả năng sản xuất, giải

thể những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài. Tính đến hết tháng 11/2000

đã cố phần hóa và chuyển đổi sở hữu cho 520 doanh nghiệp, vơi tổng số là

2000 tỷ chiếm 1.6% tổng số vốn đàu tư của nhà nước vào khu vực DNNN.

Sau khi cổ phần hóacác doanh nghiệp này đều làm ăn có lãi với doanh thu

tăng gấp hai lần, nộp NSNN tăng 2,5 lần, tốc độ tăng trưởng vốn là 2,5 lần.

Với 300 DNNN cỡ lớn( trong đó có 90 doanh nghiệp thuộc các tổng cơng ty

90-91 đóng góp trên 80% tổng thu NSNN chủa khu vực DNNN). Vốn đầu tư

của các DNNN có được từ hai nguồn đó là do ngân sách cấp và lợi nhuận để

lại. Hiện nay còn thêm huy động từ nguồn cổ phần hóa. Tính dến thời điểm

14



31/12/2002, tổng số vốn DNNN là 895,2 nghìn tỷ đồng chiếm 62,1% so với

tổng vốn của cac doanh nghiệp răng 9,5% một năm. Đóng góp của các

DNNN vào GDP tăng lên: năm 1995 là 30,4% thì tới năm 2001 là 30.6%.

Song ở khu vực này vẫn còn nhiều tồn tại, DNNN với vai trò ngày càng lớnchỉ là sức người cản trở thay vì là sức kéo đối với tăng trưởng. Chính phủ đổ

rất nhiều vốn đầu tư vào khu vực này nhằm vực dậy, đưa khu vực này thực

hiện vai trò đầu tư tăng trưởng, là nơi nắm giữu vốn, khoa học công nghệ

tiến bộ song số doanh nghiệp bị thua lỗ vẫn chiếm 17.5 % năm 2000 và

16.7% năm 2001, 14,7% năm 2002; mức lỗ bình quân của một doanh nghiệp

là 4 tỷ dẫn tới thất thoát nguồn lực hoặc một số doanh nghiệp có lãi song bấp

bênh, lãi có được là do bảo hộ và đối xử ưu đãi: như các nhà máy đường, xi

măng,… mặt khác trong khi nhà nước có những nỗ lực nhằm cải cách những

doanh nghiệp hiện có và làm cho nó hiệu quả hơn thì những DNNN mới

thành lập chỉ vì lí do có những do có những dự án về cơ sở hạ tầng thay thế

nhập khẩu. Một số cơ quan thành lập ra DNNN với tư cách là chủ sở hữu,

không tiến hành bất cứ nghiên cứu thị trường cho sản phẩm của mình. Do đó

nhiều DNNN vừa thành lập đã bị mắc nợ, sảm phẩm không bán được và dư

thừa cơng suất. Ngồi ra nhiều DNNN nằm trong diện bị chuyển thể tìm

cách ơn đồm thêm chức năng cơng ích để được giữ lại trong tay nhà nước.

Với những bất cập trên, khu vực này cần phải có những cải cách mạnh mẽ

và tích cực hơn.

1.2 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân:

Khu vực tư nhân Việt Nam, cả bộ phận doanh nghiệp có đăng kí và bộ

phận gia đình phi chính thức chiếm 40% GDP và 90% số việc làm. Năm

1998, khu vực này có vốn đầu tư phát triển khá và có xu hướng ngày càng

gia tăng. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới là tiếp tực

huy đông mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn vốn trong

dân. Nhà nước ta dã ban hành luật doanh nghiệp và sau vài năm thực hiện ta

đã huy động được trên 10 tỷ USD.

Theo đánh giá sơ bộ khu vực kinh tế ngời nhà nước vẫn sở hữu một

lượng vốn tiềm năng rất lớn bao gồm phần tiết kiệm của dân cư và phần tích

15



lũy của các doanh nghiệp dân doanh.

1.2.1. Tiết kiệm khu vực dân cư:

Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, một bộ phận không nhỏ trong

dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích lũy

truyền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là

nhỏ tồn tại dưới dạng vàng và ngoại tệ. Nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng

nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Qua một số đợt phát

hành công trai đã huy đông được một lượng vố rất lớn từ dân cư, chỉ một thời

gian ngắn nhưng số tiền huy động đã lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Với khoảng 15

triệu hộ gia đình đóng góp khoàn 1/3 GDP, giai đoạn 1996-2000 tiết kiện của

khu vực dân cư chiếm 15% GDP và xu hướng ngày càng tăng.

Bảng 2. Tỉ lệ tiết kiêm dân cư/ GDP (%)

1999



2000



2001



2002



Tiết kiệm/ GDP



22



29.6



31.2



32,1



Tỉ lệ tăng GDP



4.8



6.79



6.89



7.04



( Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Khu vực này còn đóng góp một nguồn thu ngoại tệ khá từ lượng kiều

hối chuyển về của những người đi xuất khảu lao động và thân nhân ở nước

ngoài. Trong 9 tháng đầu năm 1999, lương kiều hối chuyển vào Việt Nam

đạt 585 triệu USD cà cả năm 1999 là khoảng 1,2 tỷ USD. Nguồn vốn tiết

kiệm của dân cư góp phần quan trọng vào nguồn vốn đầu tư phát triển chiếm

khoảng 25%và ngày càng quan trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay kih mà

xu hướng đầu tư nước ngồi đang giảm sút, thì đây sẽ là một nguồn bù đắp

quan trọng. Tuy nhiên do hệ thống ngân hàng Việt Nam còn hoạt động chưa

hiệu quả cho nên mặc dù thu hút đước tiết kiệm dân cư song chưa đầy đủ, và

việ sử dụng vốn tiết kiệm này chưa đạt hiệu quả . Các ngân hàng hiện nay

cón dư nợ cho vay trong khi khu vực tư nhân cần vốn thì lại khơng được

vay. Đây là bất cập vầm giải quyết để khai thông nguồn lực sức dân.

1.2.2. Đầu tư của khu vực dân doanh:

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×