Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài:

Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài:

Tải bản đầy đủ - 0trang

mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích luỹ là rất khiêm tốn.

Nhưng giai đoạn này lại cần một khoản vốn lớn để đầu tư nhằm hoàn chỉnh

hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình làm nền tảng cho sự phát

triển kinh tế lâu dài. Trong giai đoạn này thường tồn tại khoảng cách lớn

giữa đầu tư với tiết kiệm, cần nguồn bù đắp. Hơn nữa trong giai đoạn này do

nền công nghiệp của đất nước chưa phát triển nên hàng xuất khẩu nếu có chỉ

đa phần là hàng sơ chế nơng sản, ngun liệu thơ… có giá trị gia tăng thấp.

Ngược lại về phía nhập khẩu do nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập khẩu

hàng cao cấp máy móc thiết bị kĩ thuật cơng nghệ… có giá trị gia tăng cao.

Điều đó dẫn đến cán cân thương mại, cán cân thanh toán ln nằm trong tình

trạng thâm hụt. Để giải quyết khó khăn này, nhiều nước đã tìm đến nguồn

vốn đầu tư nước ngồi nhằm tài trợ cho những thiếu hụt đó.

Mặt khác với các nước đang phát triển thường rơi vào vòng luẩn quẩn

Thu nhập bình qn thấp → Tiết kiệm, Đầu tư thấp

↑↓

Năng suất thấp ← Tăng trưởng chậm

Để tạo ra sự “cất cánh” cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sản

lượng, mức thu nhập ngày càng gia tăng muốn vậy cần phải có vốn đầu tư và

kĩ thuật tiên tiến. Và trong lúc nền kinh tế còn đang trong trạng thái tự đảm

bảo một cách khó khăn sự sinh tồn của mình, khơng thể trơng đợi hoàn toàn

vào con đường “ thắt lưng buộc bụng ” tích luỹ nội bộ. Mà khơng phát triển

nhanh thì nước đó ln rơi vào tình trạng rượt đuổi do tụt hậu phát triển.

Vốn đầu tư nước ngoài lúc này là cơ sở để tạo công ăn việc làm cho số lao

động thường là dư thừa, thực hiện phân công lao động mới nhằm mục tiêu

nâng cao năng suất lao động. Đây là tác động kép của vốn đầu tư nước ngồi

vừa tạo cơng ăn việc làm đồng thời làm gia tăng thu nhập cho người lao

động và đất nước. Vốn đầu tư nước ngồi khuyến khích nhập các cơng nghệ

tiên tiến là cơ sở làm gia tăng năng suất lao động xã hội, gia tăng sản lượng

làm nền kinh tế tăng trưởng. Trên cơ sở đó làm gia tăng tích luỹ nội bộ nền

kinh tế: Ngân sách Nhà nước tăng do thu thêm thuế lệ phí từ khu vực có vốn

đầu tư nước ngồi, tích luỹ dân cư tăng do thu nhập tăng. Như vậy nếu sử

9



dụng tốt thì vốn đầu tư nước ngoài về ngắn hạn là đáp ứng vốn đầu tư phát

triển, về dài hạn góp phần gia tăng nguồn vốn tích luỹ trong nước.

Song khơng phải là lúc nào nguồn vốn nước ngoài cũng đem lại hiệu

quả như mong muốn, mà nó cũng ln tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ

nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế nước ngồi. Vì vậy, vấn

đề là làm thế nào để sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngồi? Mà thơng

thường để vốn đầu tư nước ngồi phát huy tác dụng cần có một tỉ lệ vốn đối

ứng trong nước thích hợp. Nghĩa là muốn tiếp nhận được vốn nước ngồi thì

trong nước cũng phải chuẩn bị sẵn một số cơ sở nhất định toạ điều kiện cho

vốn nước ngoài hoạt động hiệu quả. Theo kinh nghiệm của một số nước

nhóm NICS thì giai đoạn đầu của quá trình phát triển tỉ lệ này thường thấp

1/1.5 nghĩa là một đồng vốn nước ngoài cần 1.5 đồng vốn trong nước. Ở giai

đoạn sau khi các chương trình đầu tư nghiêng về ngành cơng gnhiệp chế

biến có hàm lượng vốn và kĩ thuật cao thì tỉ lệ này tăng lên 1/2.5. Ngoài ra

vốn đầu tư trong nước còn đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước

ngoài chảy vào các ngành, các lĩnh vực cần thiết. Đầu tư trong nước trên cơ

sở đầu tư ban đầu tạo ra những cơ sỡ hạ tầng căn bản, đầu ra, đầu vào…song

lại thiếu máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đạt chất

lượng cao, mang tính cạnh tranh so với quốc tế để phục vụ cho nhu cầu xuất

khẩu.Với cơ sở hạ tầng sẵn có đó thì đầu tư nước ngồi trở nên an tồn và ít

tính rủi ro hơn, bởi vì bản chất của dòng đầu tư nước ngồi là tìm kiếm nơi

có tỉ suất lợi nhuận cao hơn, đem lại nhiều lợi nhuận hơn sẽ làm đầu tư nước

ngoài tập trung nhiều hơn.

Như vậy vốn trong nước và vốn nước ngồi có mối quan hệ mật thiết

với nhau. Như Đảng và Nhà nước ta đã xác định trong giai đoạn đầu của q

trình cơng nghiệp hố vốn nước ngồi có thể đóng vai trò xung lực tạo sức

đột phá cho bước nhảy vọt sản lượng, cũng như những cơ sở vững chắc cho

việc đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh lâu bền. Song về lâu dài nó khơng thể

đóng vai trò quyết định so với nguồn lực riêng có của đất nước.



10



II. THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI

NƯỚC THEO NGUỒN HÌNH THÀNH

Trong phần lí luận chung chúng ta đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hai

nguồn vồn trong nước và nước ngồi trên cơ sỏ lí luận. trong phần này chún

ta sẽ dụng thực tiễn để chứng minh cho những lí luận mà chũng ta đã đưa ra

trong phấn trước.mặt khác, tìm hiểu về thực trạng của các nguồn vốn cũng

sẽ cho chúng ta cách nhìn đúng đắn hơn về mối quan hệ giữa hai nguồn cũng

như vai trò của chúng trong sự phát triển của đất nước.

Trước hết chúng ta cần có một cái nhìn tổng quan về cơ cấu các nguồn

vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn hiện nay:

Bảng 1. Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển.

Năm



Tỉ lệ

VĐT/GDP %



Tổng số%



Khu vực trong nước

Tổng số



1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003



27.1

28.3

19.7

32.9

34

34.3

35.9



100

100

100

100

100

100

100

100

100



69.6

74

72

79.3

82.7

81.3

81.6

81.5

81.3



KTNN



42

49.1

49.4

55.5

58.7

57.5

58.1

56.2

56.5



Ngồi quốc

doanh

27.6

24.9

22.6

23.4

24

23.8

23.5

25.3

26.7



Khu vực



VĐTNN



30.4

26

28

20.7

17.3

18.7

18.4

18.5

16.5



( Tổng hợp thời báo kinh tế Việt Nam)

1. Thực trạng nguồn vốn trong nước:

Sau cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ 1997. rút kinh nghiệm từ bài

học của các nước đi trước thì Đảng ta xác định nhiệm vụ và giải pháp quan

trọng trong phát triển kinh tế xã hội là “ huy động tối đa nguồn lu để lực

phát triển kinh tế xã hội là nội lực, nguồn lực trong dân và tăng sức thu hút

đầu tư nước ngồi, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư

nước ngoài, tăng cường quản lí và sử dụng đất đai đề cao kỉ luật tài chính, đẩy

mạnh thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, phấn đấu giảm bội chi”. Thực tế

11



Tỉ lệ VĐT

trong

nước/

nước

ngoài

2.29

2.85

2.57

3.83

4.78

4.35

4.43

4.41

5.06



cho thấy tỉ lệ vốn đầu tư khu vực trong nước luôn chiếm khoảng trên 70% so

với tổng vốn đầu tư tồn xã hội và hiện nay có xu hướng ngày càng tăng.

1.1 Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước:

Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa thì đầu tư từ khu vực nhà nước luôn chiến tỉ lệ cao trong tổng vốn đầu

tư phát triển toàn xã hội, tỉ lệ này đạt khoảng 50% và hiện có xu hướng ngày

càng tăng. Giai đoạn 1996- 2000 tỉ trọng vốn đầu tư phát triển khu vực kinh

tế nhà nước chiến 54,6% so với tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. đếm

giai đonaj 2001- 2003 là 56,87% riêng vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà

nước năm 2003 ước tính chiếm 56.52% tổng vốn đầu tư phát triển. vốn đầu

tư từ khu vực nhà nước bao gồm các thành phần: Ngân sách nhà nước, vốn

tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn vốn đầu tư phát triển của

doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Ngân sách nhà nước:

NSNN có vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều

khiển kinh tế vĩ mô của nhà nước. Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan

trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư, nó tọa ra mơi trường đầu tư thuận lợi

nhằm đẩy mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng chung

của kế hoạch, chính sách và pháp luật. Đồng thời ngân sách nhà nước cũng

góp phần trực tiếp tạo ra năng lực sãn xuất của một số lĩnh vực quan trọng

nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng và quy hoạch phát triển

kinh tế xã hội. Hiện nay chi cho đầu tư phát triển luôn chiếm khoảng 30%.

Năm 1994 chi của NSNN cho đầu tư khoảng 1 tỷ USD trong khi GDP

là 15,5 tỷ USD, như vậy tỉ lệ đầu tư từ ngân sách đạt khoảng 6% GDP. Trong

giai đoạng 1996-2000, để phù hợp với sừ phát triển kinh tế, NSNN bước đầu

được cơ cấu lại theo hướng thích cực hơn và có hiệu quả hơn. Việc cải cách

thuế giai đoạn II, cùng với việc triển khai luật ngân sách đã góp phần thức

đấy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng nguồn thu cho ngân sách. Tổng thu

ngân sách hàng năm tăng bình quân hàng năm trên 7% cao hơn mức bình

quân tăng GDP của giai đoạn này. Chi cho đầu tư phát triển tăng lên bình

quân khoảng 25% GDP trong tổng chi NSNN. Trong giai đoạn này tổng

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×