Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hạn chế của đầu tư.

Hạn chế của đầu tư.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong

khu vực.

Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là

39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn theo ước tính sơ bộ

đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này là 43,9%.

Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 - 8.5%, và dự

kiến, năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do

đó, hệ số ICOR luôn ở mức cao.

ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng

thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng

hoảng và suy thoái kinh tế.

Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có

những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng

nguồn lực của Việt Nam.

Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2

đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều

nước xung quanh trong thời kỳ đầu cơng nghiệp hố. Các nước làm giỏi,

ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3.

Năm 2007, vốn đầu tư thực hiện so với GDP là 45,6%, nếu hạ được hệ số

ICOR xuống, bước đầu ở mức 4,5 thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã là

10%.

Dù các chuyên gia quan ngại và lên tiếng cảnh báo từ lâu nhưng, đến 2008,

chỉ số ICOR Việt Nam lại vượt ngưỡng, lên mức 6,66. Và năm 2009, một lần

nữa, chỉ số ICOR ở mốc mới. Theo tính tốn của Ủy ban Tài chính và Ngân

sách của Quốc hội, hệ số ICOR năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 8, mức cao

nhất từ trước tới nay

80



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



(nguồn TCTK)

Chỉ so với năm 2008, hệ số ICOR năm 2009 đã tăng 17,5%. “Những nỗ

lực của chúng ta trong việc nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế đã không

mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí còn khiến tình hình kém hơn".

Và gắn với hệ số cao ấy, là nguy cơ lạm phát trở lại. Năm 2009, khi nền kinh

tế Việt Nam chậm lại, nguy cơ đó chưa rõ ràng, nhưng năm tới, khi kinh tế

phục hồi, nếu không có giải pháp sớm, cơ thể kinh tế Việt Nam sẽ phải đối

mặt với đợt sốt mới.

1.3.Đầu tư phân tán, dàn trải, chậm tiến độ

Theo tổng hợp của Bộ KHĐT từ 97 cơ quan bộ, ngành, số dự án được

quyết định đầu tư trong năm 2009 là 8.810 dự án, cao hơn số dự án dự kiến

kết thúc đưa vào hoạt động là 6.598 dự án, cho thấy tình hình đầu tư vẫn dàn

trải, phân tán, số dự án bố trí đầu tư khơng tương ứng với số dự án đi vào hoạt

động. Có tới 4.182 dự án vi phạm các quy định về quản lý đầu tư, trong đó

phổ biến là các vi phạm về chậm tiến độ (4.076 dự án, chiếm khoảng 12,7%

tổng số dự án thực hiện đầu tư); không phù hợp quy hoạch 51 dự án (0,2%);



81



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



đấu thầu không đúng quy định 29 dự án (0,1%); phê duyệt không kịp thời 108

dự án (0,3%), chất lượng xây dựng thấp 149 dự án (0,5%); có lãng phí 94 dự

án (0,3%)...

Điều đáng nói là tình trạng chậm tiến độ của các dự án vẫn chưa được cải

thiện đáng kể so với mọi năm, trong đó, rất nhiều dự án đầu tư thuộc lĩnh vực

kết cấu hạ tầng quan trọng. Chậm tiến độ là một trong những nguyên nhân

chủ yếu làm tăng chi phí, giảm hoặc khơng còn hiệu quả đầu tư của các dự án.

Đánh giá của các bộ, ngành cũng cho thấy, nguyên nhân của chậm tiến độ

các dự án trong năm 2009 chủ yếu vẫn là do cơng tác đền bù, giải phóng mặt

bằng, tái định cư khó khăn, tư vấn yếu kém hoặc quá tải; một số đơn vị thi

công không đủ năng lực; năng lực tổ chức thực hiện của chủ đầu tư yếu; đơn

vị thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế, đấu thầu kéo dài; khơng đủ vốn; thanh

quyết tốn chậm; chuẩn bị thủ tục, đấu thầu, xét thầu kéo dài... Kết quả là đã

có tới 6.478 dự án đầu tư đang thực hiện phải điều chỉnh, khiến hiệu quả dự

án giảm sút rõ rệt.

Báo cáo giám sát của Bộ KHĐT cũng chỉ ra tỉ lệ các dự án nhóm A kết

thúc đưa vào hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2009 chỉ là 135/742 dự án

nhóm A của các bộ, ngành, địa phương đang thực hiện (chiếm 18,19%), thấp

hơn cùng kỳ năm trước (năm 2008 tỉ lệ này là 22,3%). Số dự án nhóm A chậm

tiến độ có 55 dự án, chiếm 7,41% tổng số dự án thực hiện. Ngoài việc làm

hạn chế tăng trưởng kinh tế nói chung, Bộ KHĐT đánh giá, các dự án nhóm A

chậm tiến độ so với u cầu còn dẫn tới hệ quả khơng đảm bảo huy động

năng lực sản xuất theo đúng kế hoạch, làm tăng chi phí của ban quản lý dự án,

lãi vay trong thời gian xây dựng, chi phí thuê chuyên gia nước ngoài trong

trường hợp dự án sử dụng vốn ODA, lãng phí là rất lớn và hiệu quả đầu tư

thấp. Đến nay, đã có 40 dự án nhóm A xin điều chỉnh lại vốn đầu tư.



82



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



1.4. Phân bổ vốn chưa hợp lí giữa các ngành và các khu vực được đầu tư.

Vốn đầu tư ở Việt Nam có sự mất cân đối rõ ràng giữa các khu vực kinh tế.

Đặc biệt là đối với các dự án FDI có sự chênh lệch rõ rệt giữa số vốn đầu tư

vào khu vực nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, vào các khu trọng điểm

cơng nghiệp với các vùng kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.

Hiện nay, FDI chiếm 100% về khai thác dầu, sản xuất ô tô, máy giặt, tủ

lạnh, máy điều hồ nhiệt độ, thiết bị văn phòng, … . FDI cũng chiếm 60% sản

lượng thép tấm, 28% xi măng, 33% sản phẩm điện/điện tử, 76% thiết bị y tế.

Trên phương diện cơ cấu kinh tế, FDI được tập trung và lĩnh vực sản xuất.

Công nghiệp nặng được xếp hàng đầu với khoảng 21% tổng FDI đăng ký, tiếp

theo là xây dựng và khách sạn, nhà ở.

Nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 6% tổng số vốn

cam kết

Điều này sẽ làm gia tăng chênh lệch giữa các vùng miền. Nền kinh tế sẽ

không thể phát triển một cách toàn diện, các lợi thế tiềm năng của từng ngành

kinh tế không được khai thác một cách triệt để, ảnh hưởng đến tốc độ tăng

trưởng kinh tế.

1.5.Những bất cập trong cơ chế đầu tư

Cơ chế và thủ tục đầu tư ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, thiếu thơng

thống, hành lanh pháp luật và chính sách vẫn chưa được hoàn thiện để tạo

điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào các dự án ở Việt

Nam.

Bất cập trong phân cấp đầu tư cũng đang ảnh hướng lớn đến đầu tư vào

Việt Nam.



83



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Hiện nay thủ tục đầu tư vào Việt Nam tuy đã thơng thống hơn rất nhiều

xong cần có cơ chế chính sách hợp lí hơn trong hoạt động thẩm định, cấp

phép và quản lí đầu tư.

1.6. Chất lượng nguồn nhân lực

Lao động ở Việt Nam đông đảo xong đa số là lao động phổ thơng, số lao

động có kĩ thuật và qua đào tạo còn ít. Chưa đáp ứng được u cầu của các

nhà đầu tư.

Năm 2006, cả nước mới có 25,4% số lao động qua đào tạo (số lao động

qua đào tạo nghề chỉ đạt 20%).

Qua khảo sát của tổng cục thống kê cho thấy, có 44% doanh nghiệp FDI

thực hiện đào tạo lại lao động với các mức độ khác nhau cho khoảng 30% số

lao động tuyển dụng. Ở một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ tiên

tiến hoặc đặc thù, lao động được tuyển dụng đã được doanh nghiệp đưa đi bồi

dưỡng ở nước ngoài.

Hơn 1/2 số doanh nghiệp chỉ ra rằng số lượng và chất lượng cán bộ quản

lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật bậc cao của Việt Nam là chưa đáp

ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Thiếu hụt trầm trọng nhất là trong lĩnh

vực cơng nghiệp. Có tới 67% doanh nghiệp cơng nghiệp cho rằng họ không

được đáp ứng nhu cầu về cán bộ quản lý .Trong khi đó, trong lĩnh vực dịch

vụ, tỉ lệ này là 52% và 51%.

Ngay trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cũng tồn tại các ý kiến khác

nhau giữa các doanh nghiệp. Có đến 85% số doanh nghiệp tham gia khảo sát

đồng ý rằng cách hiệu quả nhất để đào tạo lao động mới là giao cán bộ nhân

viên cũ kèm cặp. Trong khi đó, phần lớn số doanh nghiệp được hỏi cho rằng

đào tạo tại cơ sở bên ngồi là khơng hiệu quả.



84



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Khơng chỉ thế đội ngũ cán bộ quản lí còn kém về năng lực thẩm định cũng

như đánh giá các dự án đầu tư. Điều này ảnh hướng không nhỏ đến chất

lượng cũng như tính hiệu quả của các dự án được đi vào triển khai.

Chất lượng nguồn nhân lực còn yếu là một trong những yếu tố ảnh hưởng

đến đầu tư ở Việt Nam.

2. Hạn chế trong tăng trưởng kinh tế

2.1. Quy mô nền kinh tế nhỏ, tăng trưởng khá cao nhưng chưa bền vững.

Với các số liệu trong phần nghiên cứu thực trạng tăng trưởng kinh tế ở

Việt Nam. Ta thấy Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển với quy mô

nhỏ, tốc độ tăng trưởng tuy cao xong thiếu ổn định và nhất là thiếu các yếu tố

để duy trì tăng trưởng bền vững.

2.2. Chưa có sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế

Sau thời kì mở cửa, cơ cấu kinh tế nước ta đã có những bước chuyển theo

hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, cũng

như các lĩnh vực kinh tế đòi hỏi trình độ cơng nghệ và kĩ thuật cao. Nhưng về

cơ bản, nước ta vẫn là một nước nơng nghiệp còn yếu kém. Vấn đề đặt ra

trong thời gian tới là sớm đưa nước ta phát triển trở thành nước công nghiệp

theo hướng hiện đại.



85



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VÀ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM.



1. Điều chỉnh hợp lý cơ cấu đầu tư và phân cấp đầu tư.

2. Hồn thiện hệ thống chính sách và pháp luật tạo hành lang pháp lí cho



các nhà đầu tư.

3. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và phân bổ đầu tư phát triển

kinh tế xã hội.

4. Đào tạo nguồn nhân lực, không chỉ nhân lực trong lĩnh vực đầu tư

nhằm nâng cao hiệu quả quản lí mà còn phải tăng cường chất lượng của

đội ngũ lao động xã hội.

5. Triển khai việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật.



86



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hạn chế của đầu tư.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×