Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III.Tác động của đầu tư với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua

III.Tác động của đầu tư với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



nước có dân số đơng, đất nơng nghiệp ngày càng giảm cả về số lượng và chất

lượng. Từ thực tế đó, Việt Nam đã đầu tư sang công nghiệp và dịch vụ nhằm

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Vốn

đầu tư trong ngành nơng nghiệp đã giảm từ 13,85% năm 2000 xuống còn

6,5% năm 2007, còn trong ngành cơng nghiệp tăng từ 39,23% (2000) lên

43,49% (2007) và vốn đầu tư trong ngành dịch vụ tăng từ 46,2% (2000) lên

50,01% (2007).

Theo thống kê ở Việt Nam từ năm 1990-2007 hộ gia đình tíết kiệm

được 10,3% và đầu tư 4,2%, thặng dư 6,1%. Từ đó ta thấy nguồn vốn trong

dân của chúng ta cũng đóng vai trò rất quan trọng. Năm 2004 nguồn vốn

trong dân cư đạt 69,5 nghìn tỷ đồng.

Trong những năm qua, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ đầu tư

cho các ngành, các vùng. Đồng thời tạo môi trường đầu tư thơng thống, chế

độ pháp lý ngày càng hồn thiện nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngồi. Nhờ

đó, nền kinh tế tăng trưởng và phát triển không ngừng. Tuy nhiên, hiệu quả

đầu tư vào các ngành, các vùng chưa cao. Khả năng giải ngân vốn FDI còn

thấp, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp biểu hiện ở hệ số ICOR trong thời kỳ

1991 - 2000 khá cao trung bình khoảng 4,86%.

Trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam,

khá cao, năm 2007 đạt 8,5%, là năm thứ 3 liên tiếp tốc độ tăng trưởng kinh tế trên

8%/năm. Như chúng ta đã biết, đóng góp vào tăng trưởng GDP, xét theo

yếu tố đầu vào, có 3 nhóm yếu tố cơ bản: do vốn đầu tư, do lao động và do các nhân

tố năng suất tổng hợp. Chúng ta có xem mức đóng góp của các yếu tố đầu vào cho

tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua bảng số liệu sau:



72



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố đầu vào cơ bản cho tăng trưởng kinh tế

Việt Nam

Đơn vị : %

Năm



Vốn đầu tư



Lao động



Năng suất nhân tố tổng hợp



2000



48,5



21,5



30



2001



49,3



26,9



23,8



2002



48,7



27,3



24



2003



49,6



27,1



23,3



2004



47,2



28,3



24,5



Nguồn :TS. Từ Quang Phương và tập thể tác giả Bộ môn kinh tế đầu tư. Đề

tài khoa học cấp bộ “ Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến chất lượng

tăng trưởng kinh tế Việt Nam : thực trạng và giải pháp”. 2005

Từ các số liệu trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:

Một là: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng góp của

yếu tố số lượng vốn đầu tư. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều đã

vượt qua mốc 40%. Năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,95, năm 2006 đạt 41,5%

và năm 2007 đạt 45,6% (Bảng 1). Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỷ

lệ trên dưới 44% của Trung Quốc - một tỷ lệ làm cho tăng trưởng kinh tế của Trung

Quốc đạt mức cao nhất thế giới.

Hai là: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện còn dựa một phần quan trọng

vào yếu tố số lượng lao động, sự quan trọng này được xét trên hai mặt. Một mặt do

nguồn lao động hàng năm vẫn còn tăng khoảng 2%, tức là trên 1 triệu người mỗi

năm. Mặt khác do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nơng thơn còn

cao.

73



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Ba là: Sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế

còn nhỏ, chưa được một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷ trọng đóng góp của

yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay. Điều đó cũng chứng tỏ, nền kinh tế

Việt Nam vẫn đi theo hướng tăng trưởng về số lượng, chưa chuyển mạnh sang phát

triển theo chiều sâu. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao: TFP là tổng hợp của các

nhân tố hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất lao động. Hiệu quả sử dụng vốn

đầu tư được thể hiện ở nhiều chỉ tiêu. Gần đây, trên các diễn đàn hội thảo và trên một

số phương tiện thông tin đại chúng, khi đề cập đến hiệu quả đầu tư, các chuyên gia

thường dùng hệ số ICOR.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2007, khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội

theo giá thực tế là 521,7 nghìn tỷ đồng, bằng 45,6 % GDP, trong đó khu vực

Nhà nước chiếm 208 nghìn tỷ đồng và phần còn lại của khu vực ngoài Nhà

nước và FDI. Với mức thu hút vốn chiếm 45,6 % GDP, hệ số sử dụng vốn

(ICOR) của Việt Nam năm 2007 khoảng gần 5 (tức là để tăng 1 đơn vị GDP

thì cần tăng thêm 5 đơn vị vốn đầu tư). Hệ số này cao hơn rất nhiều so với của

Trung Quốc cách đây 10 năm (ICOR Trung Quốc giai đoạn 1991-1993 là

4,1). Với cùng với tỷ lệ đầu tư so với GDP tương đương với Việt Nam, Trung

Quốc đạt được mức tăng trưởng 9-10%, trong khi Việt Nam chỉ có thể duy trì

ở mức khoảng 8%. Nếu so sánh với các nước Đông Bắc Á khác như Nhật

Bản, Hàn Quốc và Đài Loan thì hệ số ICOR của Việt Nam còn cao hơn rất

nhiều.



74



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



2. Đầu tư tác động lên tổng cung.

Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và

cung nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu

tố sản xuất:

Q = F (K, L, T, R…)

Trong đó: K: Vốn đầu tư

L : lao động

T: Công nghệ

R: Nguồn tài nguyên

Sau giai đoạn thực hiện đầu tư là giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Khi

thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động

làm cho tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng. Sản lượng tăng làm giá

giảm dẫn tới tiêu dùng tăng. Từ đó, kích thích phát triển kinh tế. Tại Việt

Nam, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, máy móc kỹ thuật ngày càng mở rộng làm

cho nền sản xuất ngày càng hiện đại, nâng cao năng suất. Việt Nam đang chú

trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

khẳng định: “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc

sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy cơng nghiệp hố, hiện đại

hố đất nước”. Tăng qui mơ vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng

tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác khơng đổi. Đồng thời, tác

động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới cơng nghệ…

Do đó, đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung của nên kinh tế. Hiện nay, đầu

tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học công nghệ

ngày càng được chú trọng. Hàng năm nguồn vốn đầu tư cho khoa học công

nghệ chiếm khoảng 2% ngân sách Nhà nước và tiếp tục tăng đầu tư, huy động

75



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



các nguồn lực khác cho khoa học công nghệ. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong

nghiên cứu hợp tác công nghệ, thực hiện các chính sách bảo hộ trí tuệ. Có

chính sách đãi ngộ đặc biệt với các nhà khoa học có cơng trình nghiên cứu

xuất sắc. Vì thế đã thu được 1 số thành tựu đáng kể, nền kinh tế ngày càng

chuyển dịch theo hướng cơng nghiệp hố - hiện đại hố.

Tuy nhiên, hoạt động của khoa học công nghệ nước ta còn nhiều bất cập,

trình độ lao động còn thấp, chưa theo kịp được các nước trong khu vực và thế

giới. Các dự án công nghệ đạt hiệu quả thấp, cán bộ khoa học có trình độ cao

còn ít và chưa được sử dụng hợp lý.

3.Vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng

Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong những năm gần đây liên tục tăng

nhanh qua từng năm. Năm 2007 là năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vượt

xa mọi kỳ vọng, đạt 20,3 tỷ USD. Trong 7 tháng đầu năm 2008, ước tính các

doanh nghiệp đầu tư nước ngồi đã góp vốn thực hiện dạt 6 tỷ USD, tăng

42,9% so với cùng kỳ năm trước. Khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thu

hút thêm khoảng 16000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực có vốn

đầu tư nước ngồi tính đến thời điểm này là 1,38 triệu lao động, tăng 15,2%

so với cùng kỳ năm trước, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, nâng cao trình độ cơng nghệ, trình độ quản lý, mở rộng thị trường.

Cơ cấu thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phù hợp với yêu cầu

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Dòng vốn vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh

vực cơng nghiệp và xây dựng nhưng đang có xu hướng chuyển từ lượng sang

chất. Năm 2007 đã cấp phép cho nhiều dự án nghiêng về công nghệ cao và các

lĩnh vực then chốt như điện, điện tử, linh kiện, các dự án IT, máy tính xách tay…

Trong lĩnh vực dịch vụ cũng có nhiều khởi sắc do ta mở rộng các điều kiện đầu tư

theo cam kết hội nhập. Nhiều tổ hợp bất động sản lớn ra đời, những khu văn



76



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



phòng, khách sạn chất lượng 5 sao đang tăng lên nhanh chóng, trong đó có nhiều

dự án có chất lượng công nghệ cao như tổ hợp bất động sản Kangnam…

Với vai trò của đầu tư nói chung và đầu tư nước ngồi nói riêng đã thúc

đẩy mạnh mẽ kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng hiện đại hoá ở nước ta. Tại diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam tổ

chức tại Hà Nội ngày 2/6/2008, đại diện các nhà đầu tư Hoa Kỳ, Châu Âu,

Nhật Bản đều phát biểu mặc dù nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với những

thách thức lớn nhưng các nhà đầu tư đều nhìn nhận Việt Nam vẫn có sức hút

lớn đối với các nhà đầu tư trong thời gian tới. Có được những thành tựu trên

là do Chính phủ đã nỗ lực tạo mơi trường đầu tư - kinh doanh hấp dẫn hơn,

cởi mở và minh bạch. Các Bộ, ngành và địa phương thực hiện các biện pháp

chỉ đạo hữu hiệu của Thủ tướng Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định

kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.

Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực không

theo kịp tốc độ phát triển. Cơ sở vật chất và nhân lực phục vụ cơng tác thơng

tin còn thiếu và yếu so với nhu cầu. Nên đầu tư nước ngoài ở Việt Nam vẫn

tồn tại 1 số bất cập.

- Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) ngày 18/6/2008

lần đầu tiên công bố Bảng xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ có mơi

trườn thuận lợi vơi thương mại quốc tế năm 2008, Hồng Kơng và Singapore

giành vị trí thứ nhất và nhì trong 118 nền kinh tế do có “mơi trường thân

thiện” với thương mại quốc tế. Trong khi đó, Việt Nam ở hạng 91 do chỉ số

tiếp cận thị trường chỉ đạt 112/118, còn về chỉ số hàng rào thuế quan đứng ở

vị trí 114/118 (thấp nhất trong các nước ASEAN) tuy có 1 số chỉ số xếp hạng

khả quan như hiệu quả trong dịch vụ bưu điện (33), khả năng tiếp thu công

nghệ (43), an ninh vật chất (45), chỉ số về an ninh (46), dịch vụ vận tải (48).



77



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



- Theo đánh giá điều tra doanh nghiệp mới đây, thì chi phí th văn

phòng ở Hà Nội hiện đang đứng thứ 5 trong khu vực Châu Á. Chi phí đầu tư

cao là thách thức lớn cho thu hút và giải ngân vốn FDI trong thời gian tới.

- Việc cung cấp thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài của các địa

phương lên trung ương vừa thiếu vừa không kịp thời, khiến cho công tác chỉ

đạo điều hành cũng bị động, thiếu chuẩn xác. Do vậy, công tác dự báo về hoạt

động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với cơ quan quản lý nhà nước cực kỳ

nan giải và khó khăn.

Dự thảo báo cáo nghiên cứu về “chính sách đầu tư của Việt Nam” đã

phân tích xu thế dòng vốn đầu tư nước ngồi, mơi trường đầu tư của Việt

Nam và từ đó, đưa ra những gợi ý chính sách nhằm tăng cường thu hút và sử

dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngồi. Phần lớn đầu tư của Việt

Nam thời gian vừa qua tập trung vào lĩnh vực sản xuất hướng xuất khẩu. Đã

đến thời điểm, chúng ta phải xem xét chiến lược đầu tư mở rộng sang các lĩnh

vực mới. Các khuyến nghị liên quan đến khung chính sách đầu tư để Việt

Nam thực hiện tốt tiềm năng thu hút đầu tư và thu thêm được nhiều lợi ích:

- Chính phủ cần chuyển từ đường lối “kiểm soát và chỉ đạo” sang “điều

tiết, theo dõi và cưỡng chế tuân thủ”. Cụ thể hoá danh sách các hạn chế tiếp

nhận đầu tư, xoá bỏ giới hạn về thời gian trong giấy chứng nhận đầu tư…

- Thực hiện đầu tư vào 1 số lĩnh vực quan trọng, khuyến khích các

dòng đầu tư mới nhằm đa dạng hoá lĩnh vực.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hấp thụ các kỹ năng cần thiết cho nền

kinh tế.

- Phân biệt rõ ràng chức năng sở hữu và chức năng điều tiết của Nhà Nước.

- Đơn giản hoá hệ thống thuế và hợp lý hoá cơ cấu ưu đãi thuế nhằm

giúp cơ quan quản lý thuế dễ dàng thực thi.

78



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



- Hấp thu và thực hiện các thay đổi của Pháp luật một cách lành mạnh.

Cần có nhiều nỗ lực để trang bị thông tin, giáo dục đào tạo các thẩm phán và

các nhà quản lý.

III. Một số tồn tại trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam đã và đang tác

động đến tăng trưởng kinh tế.

1. Hạn chế của đầu tư.

1.1. Tỷ lệ giải ngân thấp:

Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư cho các dự án còn ở mức thấp. Đặc biệt là các

dự án FDI, giá trị đầu tư thực tế và giá trị giải ngân thấp hơn nhiều so với giá

trị đăng ký:

Thống kê của Bộ KH-ĐT cho thấy, tỷ lệ giải ngân vốn FDI trong 3 tháng

đầu năm 2009 so với số vốn đăng ký chỉ đạt 5%. Với tỷ lệ này, số vốn tuyệt

đối thực tế đi vào đầu tư sản xuất kinh doanh rất ít vì số vốn thu hút trong 3

tháng đầu năm 2009 chỉ đạt khoảng 6 tỷ USD, giảm tới hơn 40% so với cùng

kỳ.

Tỷ lệ giải ngân so với vốn đăng ký của năm 2008 là 17,9%, năm 2007 là

37,6% và năm 2006 là 34%.

Tỷ lệ giải ngân vốn thấp làm ảnh hướng đến lượng vốn thực tế đưa vào sản

xuất kinh doanh, qua đó làm giảm hiệu quả đầu tư. Làm cho đồng vốn của

nhà đầu tư không thể sinh lời, ảnh hưởng đến sức tăng trưởng của nền kinh tế.

1.2.Sự tăng lên của hệ số ICOR

Chỉ số ICOR đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm

để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng, chính là thơng số biểu hiện cụ thể

nhất của thể trạng sức khỏe nền kinh tế. Chỉ so ICOR cao đồng nghĩa với hiệu

suất kinh tế thấp, nói lên tính cách “tinh và gọn” của hệ thống.



79



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong

khu vực.

Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là

39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn theo ước tính sơ bộ

đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này là 43,9%.

Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 - 8.5%, và dự

kiến, năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do

đó, hệ số ICOR luôn ở mức cao.

ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng

thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng

hoảng và suy thoái kinh tế.

Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có

những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng

nguồn lực của Việt Nam.

Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2

đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều

nước xung quanh trong thời kỳ đầu cơng nghiệp hố. Các nước làm giỏi,

ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3.

Năm 2007, vốn đầu tư thực hiện so với GDP là 45,6%, nếu hạ được hệ số

ICOR xuống, bước đầu ở mức 4,5 thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã là

10%.

Dù các chuyên gia quan ngại và lên tiếng cảnh báo từ lâu nhưng, đến 2008,

chỉ số ICOR Việt Nam lại vượt ngưỡng, lên mức 6,66. Và năm 2009, một lần

nữa, chỉ số ICOR ở mốc mới. Theo tính tốn của Ủy ban Tài chính và Ngân

sách của Quốc hội, hệ số ICOR năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 8, mức cao

nhất từ trước tới nay

80



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III.Tác động của đầu tư với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×