Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đầu tư tạo sự phát triển cho các ngành kinh tế mũi nhọn từ đó tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Đầu tư tạo sự phát triển cho các ngành kinh tế mũi nhọn từ đó tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



phát triển đi theo chiều hướng phát triển. Thành công của Kế hoạch Marshall

của Mỹ nhằm giúp các nước mới thành lập ở các nước Tây Âu là thực tế và

kinh nghiệm lịch sử của nước phát triển trong việc chuyển đổi các xã hội

nông nghiệp sang các nước công nghiệp hiện đại có thể có những bài học

quan trọng cho các nước đang phát triển, dẫn đến việc hình thành các lý

thuyết giai đoạn của Rostow. Theo Rostow, việc chuyển đổi từ kém phát triển

đến phát triển có thể được nhận thấy trong hàng loạt các bước hay giai đoạn

thông qua đó tất cả các nước phải đi đến. Ơng miêu tả ba giai đoạn này là:

Giai đoạn 1- Xã hội truyền thống: Giai đoạn này là giai đoạn đầu tiên

của sự phát triển, như các xã hội săn bắn và hái lượm của Adam Smith hay

các xã hội phong kiến của Marx.

Giai đoạn 2- Giai đoạn chuẩn bị cho sự cất cánh: Đây là giai đoạn bắt

đầu có sự tiết kiệm. Một hay hai lĩnh vực sản xuất hàng hoá quan trọng với

tiềm năng phát triển lớn được chú ý đến và đầu tư trong việc xây dựng cơ sở

hạ tầng cũng được thực hiện.

Giai đoạn 3- Giai đoạn cất cánh: Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng

nhất trong 5 giai đoạn của mơ hình Rostow. Lĩnh vực này có thể được nhận

biết nhờ 3 đặc điểm chính, đó là:

 Một sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư sản xuất từ 5% hay thấp hơn, trở

thành 10% hay nhiều hơn thu nhập quốc dân.

 Sự phát triển của một hay hai lĩnh vực sản xuất quan trọng hơn với một

tỷ lệ tăng trưởng cao.

 Sự tồn tại hay xuất hiện nhanh chóng của các khn khổ về thể chế, xã

hội và chính trị làm nẩy sinh các động lực cho sự mở rộng khu vực

hiện đại.



41



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Giai đoạn 4- Hướng tới giai đoạn trưởng thành: Đây là giai đoạn khi mà

tất cả các cản trở đối với giai đoạn cất cánh khơng còn và xã hội đã tự đi vào

con đường tăng trưởng kinh tế bền vững.

Giai đoạn 5- Giai đoạn tiêu dùng cao: Đây là giai đoạn cuối cùng. Một

khi đã đạt được tới giai đoạn này thì tất cả các vấn đề mà các nước kém phát

triển phải đối mặt với cũng sẽ qua và các xã hội sẽ đạt tới một giai đoạn tiêu

dùng rộng lớn hơn.

Mơ hình W.Rostow mặc dù có nhiều hạn chế về cơ sở của sự phân đoạn

trong phát triển kinh tế cũng như sự nhất quán về đặc trưng của mỗi giai đoạn

so với thực tế, nhưng đứng trên góc độ mối quan hệ giữa sự chuyển dịch cơ

cấu với quá trình phát triển thì mơ hình này đã chỉ ra một sự lựa chọn hợp lý

về dạng cơ cấu ngành tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của

mỗi quốc gia

3.2. Mơ hình hai khu vực của Arthus Lewis

Vào những khoảng giữa thập niên 50 của thế kỷ 20, nhà kinh tế học người

Mỹ gốc Jamaica A.Lewis, trong tác phẩm “Lý thuyết về phát triển kinh tế” đã

đưa ra các giải thích về mối quan hệ giữa nơng nghiệp và cơng nghiệp trong

q trình tăng trưởng, gọi là “ Mơ hình hai khu vực cổ điển”. Đặc trưng chủ

yếu của mơ hình hai khu vực cổ điển là phân chia nền kinh tế thành hai khu

vực công nghiệp và nông nghiệp trong nền kinh tế nhị nguyên và nghiên cứu

quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực



42



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Những tư tưởng của Lewis dựa vào nghiên cứu của Ricardo. Hai vấn đề

mà Ricardo đưa ra là:

 Có sự giảm dần lợi nhuận trong nông nghiệp (quy luật lợi tức giảm

dần). Đây là điểm khác biệt với sản xuất công nghiệp.

 Có lao động dư thừa trong khu vực nơng nghiệp, tuy nhiên khái niệm

dư thừa lao động trong nông nghiệp và công nghiệp được xem xét khác

nhau. Cách đặt vấn đề của Ricardo: Phát triển nơng nghiệp có giới hạn,

cần chuyển hướng sang phát triển công nghiệp. Sự phát triển nông

nghiệp phải chuyển hướng như thế nào để không làm cản trở sự phát

triển công nghiệp.

Với hai vấn đề trên, Ricardo kết luận rằng khu vực nông nghiệp mang tính

trì trệ tuyệt đối, cần giảm dần cả về quy mô và tỷ trọng đầu tư. Nên hướng

giải quyết của Lewis là chuyển lực lượng lao động trong nông nghiệp ra

khỏi nông nghiệp nhưng không làm giảm sút sản lượng nơng nghiệp và

huy động lao động đó vào khu vực cơng nghiệp.

Giả thuyết của mơ hình hai khu vực cổ điển:

-



Một nền kinh tế kém phát triển bao gồm hai khu vực: truyền thống và

hiện đại



- Khu vực nông nghiệp dư thừa lao động

- Tiền công tiền lương của khu vực cơng nghiệp khơng đổi khi lao động

còn lao động dư thừa Wcn = Wnn + 30% Wnn

Nội dung chính: Nội dung của thuyết tập trung ở 2 khu vực là : khu vực

nơng nghiệp và cơng nghiệp. Mơ hình này xác định một hướng giải quyết

mối quan hệ giữa cơng nghiệp và nơng nghiệp trong q trình thực hiện

mục tiêu tăng trưởng và phát triển. Mơ hình này xây dựng dựa trên cơ sở

43



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



khả năng và nhu cầu thu hút lao động của khu vực cơng nghiệp theo khả

năng tích lũy vốn của khu vực này. Mơ hình này chỉ ra rằng khu vực nơng

nghiệp có dư thừa lao động, tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi khả

năng tích lũy và đầu tư của khu vực công nghiệp. Cũng chính từ lập ln

đó mà mơ hình Lewis còn chỉ ra những hệ quả về mặt xã hội trong quá

trình tăng trưởng kinh tế và góp phần lý giải những hiện tượng nghiên cứu

thực chứng về mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng xã hội trong

mơ hình U ngược của Kuznets

Tuy vậy, mơ hình còn có những hạn chế: Mơ hình ngầm giả định tốc độ

thun chuyển lao động tỷ lệ thuận với tốc độ tích lũy vốn. Tuy nhiên ở LDCs

các khoản lợi nhuận thặng dư tư bản lại được tái đầu tư vào ngành thậm dụng

vốn chứ khơng phải thâm dụng lao động

 Mơ hình giả thiết khu vực thành thị tồn dụng nhân cơng nhưng ở các

nước đang phát triển khu vực thành thị vẫn còn lao động dư thừa

 Ở các nước đang phát triển khi khu vực nơng nghiệp còn dư thừa lao

động, W của khu vực công nghiệp vẫn tăng

3.3. Mô hình hai khu vực của Oshima

3.2.1. Cơ sở xuất phát của mơ hình

Dựa trên những điểm khác biệt trong sản xuất nông nghiệp ở các nước

châu á và châu Âu, Harry T. Oshima, nhà kinh tế học Nhật bản đã đưa ra mơ

hình phát triển hai khu vực ở các nước châu Á, được thể hiện thông qua cuốn:

“Tăng trưởng kinh tế châu Á gió mùa”.

Khác với Arthus Lewis và một số nhà kinh tế học phát triển khác, T.

Oshima cho rằng ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở các nước châu á thì

khơng phải lúc nào cũng có tình trạng dư thừa lao động ở nơng thơn. Sở dĩ có

điều này là do nền nơng nghiệp lúa nước ở các nước châu á có tính thời vụ rất

44



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



cao. Ở đây, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vụ thu hoạch – khi

đó, sẽ khơng có sự dư thừa lao động, thậm chí là còn bị thiếu. Tình trạng dư

thừa lao động chỉ diễn ra vào lúc nơng nhàn. Chính vì vậy theo ơng nếu áp

dụng ngun si mơ hình chuyển dịch của Lewis-Fei-Renis sẽ khơng thích hợp

ở các nước châu Á.

3.2.2. Nội dung của mơ hình

Ơng cũng chỉ ra rằng việc đầu tư nhiều vào nông nghiệp trong ngắn hạn

là không thực hiện được do nền kinh tế ở các nước đang phát triển thường ở

trong tình trạng thiếu các nguồn lực về vốn và khoa học cơng nghệ. Do vậy,

để khắc phục tình trạng lao động theo mùa vụ ở khu vực nông nghiệp, tạo

điều kiện phát triển nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở

các nước đang phát triển, theo T. Oshima, có thể tiến hành theo ba bước như

sau:

Bắt đầu cho quá trình tăng trưởng: tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi

Theo ông, trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng kinh tế, có thể

tăng năng suất lao động trong nông nghiệp bằng cách giảm thiểu số lao động

dư thừa vào thời kỳ nông nhàn. Do ở các nước đang phát triển ở châu á, cơ

giới hóa chưa được ứng dụng nhiều nên tăng công ăn việc làm bằng mở rộng

qui mơ canh tác là hết sức khó khăn. Vì vậy, biện pháp cơ bản là tăng vụ, đa

dạng hóa cây trồng như trồng thêm rau, quả, cây lấy củ, mở rộng chăn nuôi

gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâm nghiệp.

Khi có nhiều việc làm hơn, thu nhập của người nông dân tăng lên, họ có

thể chi tiêu nhiều hơn cho giống mới, phân hóa học, thuốc trừ sâu và cơng cụ

lao động. Bên cạnh đó, để nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả của các

việc làm khác, tăng tốc độ tiêu thụ nơng sản thì khu vực nơng nghiệp cần phải

có sự hỗ trợ của nhà nước về các mặt: xây dựng hệ thống kênh mương, đập

tưới tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn, tăng cường và mở rộng các dịch

45



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



vụ khuyến nông, nâng cấp hệ thống giáo dục và điện khí hóa nơng thơn. Cải

tiến các hợp tác xã nơng nghiệp, tổ chức các dịch vụ nông thôn; hỗ trợ của các

tổ chức tín dụng để nơng dân có thể mua giống mới và áp dụng các biện pháp

khoa học kĩ thuật, cải cách ruộng đất để khắc phục tình trạng đất nơng nghiệp

còn manh mún, phân tán, giúp người nơng dân phát huy cao độ nỗ lực của

mình. Vào giai đoạn này thì tất cả những khoản đầu tư kể trên trong khu vực

nông nghiệp sẽ không đáng kể so với đầu tư vào khu vực công nghiệp.

Cùng với việc gia tăng số lượng lao động trong khu vực nông nghiệp là

sự tăng sản lượng trong khu vực này. Điều đó sẽ dẫn tới nhu cầu nhập khẩu

lương thực giảm xuống đồng nghĩa với việc tiết kiệm ngoại tệ, và tạo ra khả

năng xuất khẩu lương thực đồng nghĩa với việc tăng nguồn thu về ngoại tệ.

Và kết quả là nguồn ngoại tệ của quốc gia sẽ dồi dào hơn để nhập khẩu các

máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.

Hướng tới việc làm đầy đủ

Giai đoạn kế tiếp là tiến hành đa dạng hóa nơng nghiệp, tăng việc làm

phi nơng nghiệp bằng đầu tư vào các hoạt động chế biến lương thực, thực

phẩm, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ và các hoạt động dịch vụ. Điều này đòi hỏi

sự hoạt động đồng bộ từ sản xuất, vận chuyển, bán hàng cho đến các dịch vụ

hỗ trợ như tài chính, tín dụng, và các ngành có liên quan như cơng nghiệp

phân bón, hóa chất, các ngành cung cấp ngun liệu và cơng cụ sản xuất cho

nơng nghiệp.

Khi đó sự phát triển nơng nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng thị

trường cho khu vực công nghiệp, tạo cơ hội để tăng quy mô sản xuất công

nghiệp cũng như về các hoạt động dịch vụ. Khi đó nhu cầu thu hút lao động

từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ tăng lên.

Quá trình này diễn ra trong nhiều năm cho đến khi khả năng tăng việc làm

vượt quá tốc độ tăng lao động, làm cho thị trường lao động bắt đầu thu hẹp,

46



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



tiền lương thực tế tăng lên, q trình này còn phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ

tăng dân số và khả năng giải quyết việc làm của từng nước.

Sau khi có việc làm đầy đủ

Như đã trình bày ở trên, q trình cơng nghiệp hóa diễn ra qua nhiều

bước, được tiến hành liên tục, kéo dài trong nhiều năm, đồng thời với việc

tiền lương thực tế trong nơng nghiệp có xu hướng tăng dần với tốc độ ngày

càng nhanh. Khi đó sẽ xuất hiện việc thay thế lao động chân tay bằng máy

móc vì lúc này sử dụng máy móc sẽ rẻ hơn sử dụng nhân cơng. Trong điều

kiện đó, nơng nghiệp sẽ chuyển dần dần sang sản xuất bằng cơ giới hóa. Các

phương pháp sinh học được ứng dụng rộng rãi để tăng sản lượng. Các máy

cày, máy đập, gặt, phun nước, máy bơm, làm cỏ, máy sấy và phương tiện vận

tải cơ giới ngày càng được mở rộng đã tiết kiệm thời gian cho nơng dân trên

đồng ruộng, giải phóng được phần lớn lao động trong thời kỳ bận rộn nhất,

tạo điều kiện cho việc thu hút lao động từ khu vực này sang khu vực công

nghiệp mà sản lượng trong khu vực nông nghiệp vẫn tăng lên.

Nhờ những kinh nghiệm đã đúc rút được trong q trình sản xuất, các

ngành cơng nghiệp thay thế nhập khẩu bắt đầu tìm thị trường nước ngồi để

tiêu thụ sản phẩm của mình. Do những ngành này là những ngành sử dụng

nhiều lao động, vốn đầu tư ít, cơng nghiệp khơng mấy phức tạp nên khả năng

cạnh tranh sản phẩm của chúng có xu hướng ngày càng tăng. Việc mở rộng

các ngành này đồng nghĩa với việc sự thiếu hụt cung lao động ở khu vực nông

nghiệp cho khu vực công nghiệp trong khi thị trường nơng thơn cũng đạt đến

trạng thái tồn dụng nhân công, tiền công tăng lên đồng thời khu vực dịch vụ

cũng mở rộng. Sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ nhằm đáp ứng cho sự phát

triển của khu vực nông nghiệp và công nghiệp thay thế nhập khẩu và công

nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.



47



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Khi giai đoạn chuyển dịch từ nơng nghiệp sang cơng nghiệp được hồn

thành thì nền kinh tế bước sang một giai đoạn tiếp theo là giai đoạn dịch

chuyển từ cơng nghiệp sang dịch vụ.

Tóm lại, trong mơ hình phát triển của T. Oshima sự tăng trưởng bắt đầu

bằng việc tăng công ăn việc làm cho những tháng nơng nhàn bằng việc đa

dạng hóa hoạt động nơng nghiệp mà khơng có sự dịch chuyển lao động từ khu

vực này sang các khu vực khác. Tiếp đó là có thể thu hút lao động nhàn rỗi

vào các ngành cơng nghiệp sử dụng nhiều lao động, như mơ hình Lewis-FeiRanis đã chỉ ra. Điều đó sẽ làm cho thu nhập của người nông dân tăng lên, tạo

cơ hội mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp, dịch vụ. Nền kinh tế

quá độ từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp. Khi thị trường lao

động rơi vào tình trạng thiếu cung thì tiền cơng thực tế sẽ tăng nhanh, cơ giới

hóa sẽ được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp và công nghiệp nhằm thay

thế lao động chân tay bằng lao động máy móc. Việc sử dụng máy móc và

khoa học cơng nghệ trong sản xuất sẽ làm tăng nhanh năng suất lao động và

tổng sản phẩm quốc dân. Khi đó, nền kinh tế dần dần quá độ từ công nghiệp

sang dịch vụ.

4. Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ.

Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới phát

triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia

Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: phần cứng , phần mềm, yếu tố

con người, yếu tố tổ chức,…Muốn có cơng nghệ, cần phải đầu tư vào các yếu

tố cấu thành.

Trong mỗi thời kỳ, các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển

công nghệ. Trong giai đoạn đầu, các nước đang phát triển, do có nhiều lao

động và nguyên liệu, thường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao

động và nguyên liệu, sau đó giảm dần hàm lượng lao động và nguyên liệu

48



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



trong sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượng lao động, nguyên liệu trong

sản xuất sản phẩm và tăng hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc

đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân

lực. Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng

hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy nhiên, quá trình chuyển từ giai

đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang

đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư. Khơng có vốn đầu tư đủ lớn sẽ khơng đảm

bảo sự thành cơng của q trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học và

công nghệ

Cơng nghệ mà doanh nghiệp có được là do nhập khẩu từ bên ngoài

hoặc tự nghiên cứu và ứng dụng. Công nghệ được nhập khẩu qua nhiều

đường như mua thiết bị linh kiện rồi lắp đặt, mua bằng sáng chế, thực hiện

liên doanh…Công nghệ do tự nghiên cứu và triển khai được thự hiện qua

nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu, đến thí nghiệm, sản xuất thử, sản xuất thương,

mất nhiều thời gian, rủi ro cao. Dù nhập hay tự nghiên cứu để có cơng nghệ

cũng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn. Mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau

cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn cơng nghệ thích hợp. Trên cơ sở đó,

đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn

nền kinh tế quốc dân.

Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của khoa

học và cơng nghệ, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Tỷ trọng vố đầu tưu đổi mới công nghệ/ tổng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này

cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời

kỳ

- Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực hiện.

Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu.



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đầu tư tạo sự phát triển cho các ngành kinh tế mũi nhọn từ đó tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×