Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 .Lí thuyết tân cổ điển về đầu tư.

3 .Lí thuyết tân cổ điển về đầu tư.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



tài nguyên quí được đưa vào khai thác làm cho kinh tế thế giới có bước phát

triển mạnh mẽ. Sự chuyển biến này có ảnh hưởng mạnh đến các nhà kinh tế,

hình thành một trường phái kinh tế mới mà ngày nay ta gọi là trường phái tân

cổ điển, đứng đầu là Alfred Marshall (1842-1924), tác phẩm chính của ơng là

“Các nguyên lý của kinh tế học”, xuất bản năm 1890, do đó thời điểm này

được coi như mốc đánh dấu sự ra đời của trường phái tân cổ điển.

Các nhà kinh tế tân cổ điển bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất

trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và

vốn, họ cho rằng vốn và lao động có thể thay thế cho nhau, và trong q trình

sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu vào. Đồng thời họ

cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển

kinh tế. Do chú trọng đến các nhân tố đầu vào của sản xuất, lý thuyết tân cổ

điển còn được gọi là lý thuyết trọng cung.

Các yếu tố cấu thành nền kinh tế: Các nhà kinh tế cổ điển đã giải thích

nguồn gốc sự tăng trưởng thơng qua hàm sản xuất:

Y = f (K, L, R,T)

Trong đó



Y: Đầu ra



K: Vốn sản xuất

L : Lao động

R: Tài nguyên

T: Khoa học công nghệ.

Yếu tố vốn qua hàm sản xuất Cobb-Douglas: g = T + aK + bL + cR

Trong đó:



g : Tốc độ tăng trưởng;

a, b, c : Tốc độ tăng trưởng của vốn, lao động, tài nguyên



32



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Qua đó ta thấy sự tăng trưởng của các yếu tố vốn cũng như đầu tư tác

động đến sự tăng trưởng.

Điểm giống với các nhà kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế tân cổ điển cho

rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự

linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khơi phục nền kinh tế về vị

trí sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động. Họ cũng cho

rằng Chính phủ khơng có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế.

1.4. Mơ hình Harrod-Domar

1.4.1. Giới thiệu chung về mơ hình

Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 với sự nghiên cứu một

cách độc lập, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã

cùng đưa ra mơ hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở

các nước phát triển. Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước đang

phát triển để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn.

Mơ hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một

công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng

số vốn đầu tư cho nó.

Nếu gọi đầu ra là Y, tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra là g:



g



s

k



Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong đầu tư sẽ là:



s



St

Y



Vì tiết kiệm là nguồn đầu tư của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư

luôn bằng tiết kiệm ( S t  I t ), do đó cũng có thể viết:

33



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



S



It

Y



Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên I t  K t . Nếu gọi k là

tỷ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR), ta có:



k





K t

Y



hoặc



k



It

Y



Y I t .Y I t I t



 :

Y

I t .Y Y Y



Do đó chúng ta có:



g



s

k



Ở đây k được gọi là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn đầu ra). Hệ số này

nói lên rằng: vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng;

tiết kiệm của nhân dân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư. Hệ số này

cũng phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của

đầu tư. Ví dụ, nếu như đầu tư 5 tỷ đồng dưới dạng xây dựng nhà máy mới và

trang thiết bị mới làm cho công ty có khả năng tăng đầu ra thêm 1 tỷ

đồng/năm trong vòng một năm tới thì hệ số gia tăng vốn đầu ra trong trường

hợp này là 5/1. Ngoài ra, chỉ số ICOR thấp biểu hiện tình trạng đầu tư nghèo

nàn. Chỉ số ICOR quá cao thể hiện sự lãng phí vốn đầu tư.

Đối với các nhà làm kế hoạch, khi cho trước phương trình đơn giản này

thì nhiệm vụ không phức tạp lắm. Bước đầu là thử đưa ra một cách tính tỷ số

gia tăng vốn – đầu ra. Có hai phương án lựa chọn cho bước tiếp theo. Hoặc là

phải lập kế hoạch cần quyết định tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, hoặc là cần quyết

định tỷ lệ tiết kiệm.

34



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



1.4.2 Kết luận của Harrod – Domar.

Tốc độ tăng trưởng luôn phụ thuộc vào tiết kiệm và hệ số ICOR, tồn

tại 3 trạng thái tốc độ tăng trưởng khác nhau:



s

(dự kiến)

k



Tốc độ tăng trưởng bảo đảm : g w 



-



Tốc độ tăng trưởng thực tế: g r  (thực tế)



-



Tốc độ tăng trưởng tự nhiện ( g f )







-



s

k



Khái niệm về thời kỳ vàng: g w  g r  g f

Tức là có: - sự cân bằng giữa tốc độ tăng trưởng thực tế và tốc độ tăng



trưởng bảo đảm.

 Sự cân bằng giữa tốc độ tăng trưởng bảo đảm với tốc độ tăng trưởng tự

nhiên

Mơ hình Harrod–Domar có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đầu của các

giai đoạn phát triển của bất kỳ một quốc gia nào. Quan điểm chủ yếu của mơ

hình này là nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố vốn-vốn là vấn đề chủ yếu nhất

để tăng trưởng kinh tế. Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới,

Quỹ tiền tệ quốc tế… cũng dựa vào mơ hình này để nhấn mạnh vai trò của

viện trợ trong việc bù đắp các chênh lệch về vốn và trao đổi ngoại thương.

 Hạn chế của mơ hình

Sự đơn giản hóa khi coi tăng trưởng chỉ do đầu tư đem lại. Thực tế có

thể xảy ra những trường hợp như: đầu tư thiếu hiệu quả không tạo nên tăng

trưởng, tăng trưởng không phải sử dụng giải pháp đầu tư và đầu tư đến mức

độ nào đó sẽ bị quy luật lợi tức giảm dần chi phối. Tóm lại, nhược điểm của



35



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



mơ hình Harrod - Domar là chỉ quan tâm đến vốn mà bỏ qua vai trò của lao

động, vai trò của kỹ thuật cơng nghệ và vai trò của chính sách

1.5 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế hiện đại

Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn

hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức

kinh tế, nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu

cực của thị trường. Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau của

học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes. Những ý

tưởng cơ bản của học thuyết này được trình bày trong tác phẩm “Kinh tế học”

của P.Samuelson xuất bản năm 1948.

Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế theo mơ hình của

Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế thường dưới mức tiềm năng,

trong điều kiện hoạt động bình thường của nền kinh tế vẫn có lạm phát và thất

nghiệp. Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có

thể chấp nhận được. Sự cân bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao

điểm của tổng cung và tổng cầu.

Lý thuyết hiện đại cũng thống nhất với mơ hình kinh tế Tân cổ điển về

xác định các yếu tố tác động đến tổng cung nền kinh tế: lao động, vốn, đất

đai, tài nguyên, khoa học. Y = f (K, L, R, T). Tuy nhiên, Samuelson cho rằng

tầm quan trọng của các yếu tố là như nhau. Như vậy, trường phái hiện đại

cũng cho rằng vốn là một trong những yếu tố làm tăng trưởng kinh tế.

Hàm sản xuất dạng Cobb- Douglas:

Y= F (L,K,R,A )



(1.1)



Lý thuyết trên chọn hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas để thể hiện tác

động của các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế:

36



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Y  AK  L R 



(1.2)



g  a  k  l   r



(1.3)



Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng GDP

k, l, r là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào.

a là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ.

Để tăng trưởng sản xuất, các nhà sản xuất có thể lựa chọn cơng nghệ sử

dụng nhiều vốn, hoặc công nghệ sử dụng nhiều lao động. Samuelson cho rằng

một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là “kỹ thuật công

nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn”. Do đó vốn là cơ sở

để phát huy tác dụng của các yếu tố khác: vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, để

có cơng nghệ tiên tiến. Vì vậy trong phân tích và dự báo kinh tế ngày nay hệ

số ICOR được coi là cơ sở để xác định tỷ lệ đầu tư cần thiết phù hợp với tốc

độ tăng trưởng kinh tế.

K

k

Y và



g



s

k



(1.4)



Trong đó: k - hệ số ICOR (tỷ lệ gia tăng vốn và đầu ra).

K , Y tương ứng là mức gia tăng vốn và mức gia tăng đầu ra.



s là tỷ lệ tiết kiệm.

g là tốc độ tăng trưởng.

Samuelson cũng đề cập đến các yếu tố tác động đến tổng mức cầu như

cách tiếp cận của Keynes:

Y = f (C, G, I, NX)



(1.5)



Trong đó:

C - tiêu dùng của các hộ gia đình

37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 .Lí thuyết tân cổ điển về đầu tư.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×