Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số chỉ tiêu đánh giá

Một số chỉ tiêu đánh giá

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



GDP = W + R + In + Pr + Dp + Ti



2.1.2. Tổng thu nhập quốc dân ( GNI )



Tổng thu nhập quốc dân(GNI): Đây là chỉ tiêu xuất hiện trong bảng

SNA năm 1993 thay cho chỉ tiêu GNP sử dụng trong bảng SNA năm 1968. Về

nội dung thì GNI và GNP là như nhau, tuy vậy khi sử dụng GNI là muốn nói

theo cách tiếp cận từ thu nhập chứ khơng phải nói theo góc độ sản phẩm sản

xuất như GDP. Hiểu theo khía cạnh trên, GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm

vật chất và dịch vụ cuối cùng do công nhân của một nước tạo nên trong một

khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này bao gồm các khoản hình thành thu

nhập và phân phối lại thu nhập lần đầu có tính đến cả các khoản từ nước

ngoài về và chuyển ra nước ngoài. Như vậy, GNI hình thành từ GDP tiếp cận

theo góc độ thu nhập và được điều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập

nhân tố với nước ngoài.

GNI = GDP + Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài

Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài = Thu nhập lợi tức nhân tố

với nước ngoài - Chi trả lợi tức nhân tố ra nước ngoài.

Sự khác nhau về lượng giữa GDP và GNI là ở phần chênh lệch thu

nhập nhân tố với nước ngồi. Ở các nước đang phát triển thì GNI thường nhỏ

hơn GDP vì thơng thường phần chênh lệch này nhận giá trị âm.

2.1.3. Thu nhập bình quân đầu người



Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNI còn được sử dụng

để đánh giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia

(GDP/người; GNI/người). Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính

đến sự thay đổ dân số. Quy mơ và tốc độ tăng thu nhập bình quân dầu người

là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân

cư nói chung. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là

22



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử dụng trong việc

so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau.

Theo dõi chỉ tiêu thu nhập bình qn đầu người có thể xác định khoảng

thời gian cần thiết nâng cao thu nhập lên gấp 2 lần dựa vào tỷ lệ tăng trưởng

kinh tế theo dự báo. Một phương pháp đơn giản và khá chính xác tiếp cận đến

con số này gọi là “luật 70” tức là thời gian để thu nhập dân cư tăng lên gấp 2

lần được xác định xấp xỉ bằng 70 chia cho tốc độ tăng trưởng thu nhập bình

qn đầu người hàng năm thao dự báo. Ví dụ như nếu tốc độ tăng trưởng thu

nhập bình quân đầu người một nước đặt ra là 5% 1năm thì sẽ đạt được mức

tăng gấp 2 lần sau khoảng 14 năm (70:5). Dự báo mức tăng thu nhập bình

quân trên đầu người có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xu hướng chuyển

biến thu nhập của các quốc gia từ nhóm này sang nhóm khac so với mức bình

qn tồn thế giới.

2.1.4. Tổng giá trị sản xuất ( GO )

Tổng giá trị sản xuất (GO) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ

được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất

định (thường là một năm). Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất có thể được tính theo

hai cách. Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các

ngành trong toàn bộ nền kinh tế Quốc Dân. Thứ hai, tính trực tiếp từ sản xuất

và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật

chất và dịch vụ (VA).



23



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Cơng thức tính:

GO = Chi phí trung gian + giá trị gia tăng

=



IC



+



VA



2.1.5. Thu nhập quốc dân( NI )

Thu nhập quốc dân (NI): Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ

mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu

nhập quốc dân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế

(Dp).

NI = GNI - Dp



2.1.6. Thu nhập quốc dân sử dụng ( NDI )

Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI): Là phần thu nhập của cả quốc gia

dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ thuần trong một thời kì nhất định.

Chỉ tiêu này được hình thành sau khi thực hiện phân phối thu nhập lần thứ

hai, thực chất nó là thu nhập quốc dân (NI) sau khi đã điều chỉnh các khoản

thu, chi về chuyển nhượng hiện hành giữa các đợn vị thường trú và khơng

thường trú. Tuy vậy, xét trên tồn bộ nền kịnh tế các chuyển nhượng hiện

hành giữa các đơn vị thường trú sẽ triệt tiêu nhau, vì nếu có một đơn vị chi thì

sẽ có một đơn vị khác thu chuyển nhượng. Vì vậy, NDI và NI sau khi điều

chỉnh các khoản chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài.

NDI = NI + Chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài



24



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Chênh lệch chuyển nhượng với nước ngoài = Thu chuyển nhượng hiện

hành với nước ngoài - Chi chuyển hiện hành ra nước ngoài



2.2. Các chỉ số về cơ cấu kinh tế

* Về cơ cấu ngành kinh tế:

Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu

ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Đó là tỷ trọng

trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống

27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước

còn 20,6%. Tỷ trọng cơng nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là

22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến

năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến

động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm

2005: 38,1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38,7%.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta

theo xu hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Số lao động trong các ngành

công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông

nghiệp ngày càng giảm đi.

Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nơng thơn cũng đã có sự

chuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại

hố. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ

17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007. Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực

đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là

thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng

thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm

nông nghiệp thuần tuý giảm dần. Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm

25



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78%.

Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nơng thơn có 3,6 triệu

hộ, tăng 62% so với năm 2000.

* Trong cơ cấu các thành phần kinh tế:

Kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn

hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật khơng cấm. Từ những định

hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc

chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền

kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các

nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

*Về cơ cấu vùng kinh tế:

Trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng,

đóng góp vào q trình phát triển kinh tế. Trên bình diện quốc gia, đã hình

thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông

Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng

Đông Nam bộ và vùng đồng bằng sơng Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh

tế trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước.

Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây

dựng các khu cơng nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho

sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, ni trồng thuỷ sản, hình thành

các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của

từng vùng. Điều này tạo thuận lợi cho phát triển cơng nghiệp chế biến, góp



26



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng

sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu.

*Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội

nhập vào kinh tế toàn cầu:

Thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ

số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm

2005 là trên 50%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 – 2005 đã đạt 111 tỉ

USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm

2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi

năm 2000. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao – 40 tỉ USD,

tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng 21,5% so với

năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỷ lệ XK/GDP đạt

khoảng 70%.

Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép,

hải sản… đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động

kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngồi (FDI) và viện trợ

phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn

FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay. Năm

2001, vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỉ USD; tiếp theo, năm 2002: 3,0 tỉ USD;

2003: 3,2 tỉ USD; 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ USD; và

năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn

vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng

gấp đôi so với năm 2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm

2001-2005, chiếm 1/4 tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa

qua.



27



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Năm 2008, tuy kinh tế tồn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế

suy thối, song đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ

USD, tăng gấp đôi năm 2007. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho

Việt Nam năm 2008 diễn ra đầu tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà

tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút so với năm 2007: 5,4 tỉ USD).

Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn

mức năm 2007 (2,176 tỉ USD).

Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển

khai. Các doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài

như khai thác dầu ở An-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở

Lào…

Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một

trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả,

thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp

để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách,

vốn tích luỹ, cán cân thanh tốn quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định và phát

triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững. Các chương trình mục tiêu quốc

gia về xố đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng

kinh tế – xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người

nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo

đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008

còn13,1%. Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên

hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước…

III. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUA CÁC

LÝ THUYẾT KINH TẾ VÀ ĐẦU TƯ

1. Đầu tư tác động đến tổng cung của nền kinh tế.

1.1. Lí thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái cổ điển.

28



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế do các nhà kinh tế học cổ điển

nêu ra mà các đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo. Adam

Smith (1723-1790) được coi là người sáng lập ra kinh tế học và là người đầu

tiên nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế một cách có hệ thống. Trong tác

phẩm “Của cải của các quốc gia”, ơng đã nghiên cứu về tính chất, ngun

nhân tăng trưởng kinh tế và làm thế nào để tạo điều kiện cho kinh tế tăng

trưởng. Nội dung cơ bản của tác phẩm này là:

 Học thuyết về “Giá trị lao động”, ông cho rằng lao động là nguồn gốc

cơ bản để tạo ra của cải cho đất nước.

 Học thuyết về “Bàn tay vơ hình”, theo ơng nếu khơng bị chính phủ

kiểm sốt, người lao động sẽ được lợi nhuận thúc đẩy để sản xuất ra dịch vụ

và hàng hóa cần thiết và thơng qua thị trường tự do này, lợi ích cá nhân sẽ gắn

liền với lợi ích xã hội. Từ đó ơng cho rằng Chính phủ khơng có vai trò thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế.

 Lý thuyết về phân phối thu nhập theo nguyên tắc “Ai có gì được nấy”,

theo ngun tắc này, tư bản có vốn thì được lợi nhuận, địa chủ có đất đai thì

thu được địa tơ, cơng nhân có sức lao động thì nhận được tiền cơng.

Theo Adam Smith, chính lao động được sử dụng trong những cơng việc có

ích và hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội. Số cơng nhân “hữu ích và

hiệu quả” cũng như năng suất của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích luỹ.

Adam Smith coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế.

Nếu Adam Smith được coi là người sáng lập ra Kinh tế học thì David

Ricardo (1772-1823) được coi là tác giả cổ điển xuất sắc nhất. Ông kế thừa

các tư tưởng của Adam Smith, và chịu ảnh hưởng tư tưởng về dân số học của

T.R Malthus (1776-1834). Những quan điểm cơ bản của David Ricardo về

tăng trưởng kinh tế được thể hiện như sau: Nông nghiệp là ngành kinh tế quan

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số chỉ tiêu đánh giá

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×