Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Từ công thức (1) ta được

Từ công thức (1) ta được

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



3.2. Gia tốc đầu tư

Số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư gia tăng sản

lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng. Như

vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu. Theo Keynes (nhà kinh tể

học trong thập niên 30 thế kỉ trước), đầu tư cũng được xem xét từ góc độ tổng

cung, nghĩa là, mỗi sự thay đổi của sản lượng làm thay đổi đầu tư như thế nào.

Theo lí thuyết này, để sản xuất ra 1 đơn vị đầu ra cho trước cần phải có

một lượng vốn đầu tư nhất định. Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có

thể được biểu diễn như sau :

x=



K

Y



(4)



Trong đó:

K : Vốn đầu tư tại thời kì nghiên cứu

Y : Sản lượng tại thời kì nghiên cứu

x : Hệ số gia tốc đầu tư

Từ công thức (4) suy ra :

K=x*Y



(5)



Như vậy, nếu x không đổi thì khi quy mơ sản lượng sản xuất tăng dẫn

đến nhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại. Nói cách khác, chi tiêu đầu tư

tăng hay giảm phụ thuộc nhu cầu về tư liệu sản xuất và nhân công. Nhu cầu

các yếu tố sản xuất lại phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất.

Theo công thức (5), có thể kết luận: sản lượng phải tăng liên tục mới là

cho đầu tư tăng cùng tốc độ, hay khơng đổi so với thời kì trước.



9



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



* Ưu điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư :

- Lí thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư.

Nếu x khơng đổi trong kì kế hoạch thì có thể sử dụng cơng thức để lập kế

hoạch khá chính xác.

- Lí thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư.

Khi kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh

lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều.

*Nhược điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:

- Lí thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tưlà cố

định.thực tế đại lượng này (x) luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều

nhân tố khác nhau.

- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ

không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản

lượng. Vì, từ cơng thức (5) có thể viết:

+ Tại thời điểm t:



K t  x  Yt



(6)



+ Tại thời điểm (t-1):



K t  1  x  Yt  1



(7)



+ Lấy (6) trừ (7) ta được:

K t  K t  1  x  Yt  x  Yt  1  x  (Yt  Yt  1 )



(8)



Trong đó:

K t  K t  1 : Đầu tư ròng và bằng ( I t  D) là khấu hao



Do đó:

I t  D  K t  K t  1  x  (Yt  Yt  1 )  x  Y



10



(9)



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Và đầu tư ròng:



I  x * Y



(10)



Như vậy, theo lí thuyết này, đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản

lượng đầu ra. Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần). Nếu sản

lượng giảm, đầu tư thuần sẽ âm. Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian

dài khơng đổi, đầu tư ròng sẽ bằng 0. (Khi y 0 thì  I =0)

- Theo lí thuyết này tồn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện

ngay trong cùng một thời kì. Điều này khơng đúng bởi nhiều lí do, chẳng hạn

do việc cung cấp các yếu tố liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp

ứng, do cầu vượt quá cung… Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tuc được

hồn thiện qua thời gian.theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư

mong muốn được xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá

khứ, nghĩa là, qui mô đầu tư mong muốn được xác định trong dài hạn.

Nếu gọi: K t và K t  1 là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và (t-1)

K t* là vốn đầu tư mong muốn







Thì:



là một hằng số ( 0<  <1 )

K t  K t  1  * ( K t  K t  1 )



Có nghĩa là, sự thay đổi đầu tư thực hiện giữa hai kì chỉ bằng một phần

của chênh lệch giữa vốn đầu tư mong muốn thời kì t và vốn đầu tư thực hiện

thời kì t - 1. Nếu  1 thì K t  K t*

Và lí thuyết gia tốc đầu tư hoàn thiện sau này cũng đã đề cập đến tổng

đầu tư.

Theo lí thuyết gia tốc đầu tư ban đầu thi đầu tư thuần:

I  I t  Dt  K t  K t  1



Theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì: K t  K t  1  * ( K t*  K t  1 )



11



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Và do đó: I  * ( K t*  K t  1 )

Để xác định tổng đầu tư,chúng ta giả định: Dt =  * K t  1

 là hệ số khấu hao và 0    1 .



Do đó:

I t  Dt  I t   * K t  1  * ( K t*  K t  1 )



hoặc



I t   * ( K t*  K t  1 )   * K t  1 )



(11)



I t chính là tổng đầu tư trong kì và là hàm của vốn mong muốn và vốn



thực hiện.

Lí thuyết gia tốc đầu tư và số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ qua lại

giữa đầu tư và sản lượng. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo việc gia

tăng bổ sung lao động,nguyên vật liệu sản xuất… dẫn đến gia tăng sản phẩm

(giải thích qua số nhân đầu tư). Sản lượng gia tăng,dẫn đến gia tăng tiêu dung

(do thu nhập người tiêu dùng tăng), tăng cầu hàng hóa và dịch vụ nên lại đòi

hỏi gia tăng đầu tư mới (giải thích qua mơ hình gia tốc đầu tư). Gia tăng đầu

tư mới dẫn đến gia tăng sản lượng, gia tăng sản lượng lại là nhân tố thúc đẩy

gia tăng đầu tư. Quá trình này diễn ra liên tuc, dây chuyền.



3.3. Quỹ nội bộ của đầu tư

Theo lí thuyết này,đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế:

I = f (lợi nhuận thực tế). Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao

sẽ được lựa chọn. Vì lợi nhuân cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức

đầu tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi

nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc

12



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu. Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao

tài sản là nguồn vốn nội bộ của doanh nghệp, còn đi vay và phát hành trái

phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngồi. Vay mượn thì phải

trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thối, doanh nghiệp có

thể khơng trả được nợ và lâm vào tình trạng phá sản. Do đó việc đi vay không

phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn

đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn. Còn

bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp thực hiện khi

hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương

lai lớn hơn các chi phí đã bỏ ra.

Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ nôi bộ của đầu tư, các doanh nghiệp

thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự

gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.

Sự khác nhau giữa lí thuyết gia tốc đầu tư và lí thuyết nàydẫn đến việc

thực thi các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư. Theo lí thuyết gia

tốc đầu tư, chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do

đó sản lượng thu được cũng sẽ cao hơn. Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh

nghiệp khơng có tác dụng kích thích đầu tư. Ngược lại, theo lí thuyết quỹ nội

bộ của đầu tư thì việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi

nhuận từ đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận có nghĩa là tăng

quỹ nội bộ. Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư

mong muốn, còn chính sách tài khóa mở rộng khơng có tác dụng trực tiếp làm

tăng đầu tư theo lí thuyết này.

3.4.Lí thuyết tân cổ điển

Theo lí thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm

năng). Còn: tiết kiệm S = s*y trong đó 0  s  1 .



13



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



s: Mức tiết kiệm từ 1 đơn vị sản lượng(thu nhập) và tỷ lệ tăng trưởng

của lao động bằng với tỷ lệ tăng dân số và kí hiệu là n.

Theo hàm sản xuất,các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động có thể

thay thế cho nhau trong tương quan sau đây:

y  A * E ( ) * K ( ) * N (1   )



(12)



Trong đó:

y : Sản lượng

K ( ) : Vốn đầu tư



N (1   ) : Lao động

A* E ( ) biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ.

 và (1   ) là hệ số co giãn thành phần của sản xuất với các



yếu tố vốn và lao động (thí dụ nếu  =0.25 thì 1% tăng lên của vốn sẽ làm

cho sản lượng tăng lên 25%). Trong điều kiện cạnh tranh hồn hảo thì  và

(1   ) biểu thị phần thu nhập quốc dân từ vốn và lao động.



Từ hàm sản xuất Cobb Douglas trên đây ta có thể tính được tỷ lệ tăng

trưởng của sản lượng như sau:

g  r   * h  (1   ) * n



(13)



Trong đó:

g: Tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng

h: Tỷ lệ tăng trưởng của vốn

n: Tỷ lệ tăng trưởng lao động

Biểu thức trên cho thấy:tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ

thuận với tiến bộ của công nghệ và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động.



14



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Trong một nền kinh tế ở “thời đại hồng kim”có sự cân bằng trong tăng

trưởng của các yếu tố sản lượng,vốn và lao động.

Gọi đầu tư ròng là I và I K

K  S  s * Y suy ra K s * Y



Chia cả 2 vế cho K, ta được:



K s * Y



K

K



Hoặc:



h =s*



Khi h khơng đổi, s khơng đổi thì



Y

K



Y

cũng khơng đổi và Y phải tăng

K



trưởng cùng tỷ lệ như h và K.

Khi đó: g = r   * g  (1   ) * n

Ở đây g là tỷ lệ tăng trưởng ở “thời đại hoàng kim”.

Suy ra:

g -  * g r  (1   ) * n

(1-  ) * g r  (1   )*n

Hay



g=



r

n

1 



(14)



Như vậy, trong “thời đại hoàng kim”, tỷ lệ tăng trưởng g phụ thuộc vào

tỷ lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động. Điều này cho thấy,khơng thể có

thu nhập trên đầu người tăng nếu khơng có sự tiến bộ của công nghệ.

15



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



3.5. Mơ hình Harrod - Domar

Mơ hình Harrod - Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng

trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư.

Để xây dựng mơ hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:

- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động.

- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc.

Nếu gọi: Y



:



Là sản lượng năm t



:



Tốc độ tăng trưởng kinh tế



Y



:



Sản lượng gia tăng trong kì



S



:



Tổng tiết kiệm trong năm



S

Yt



:



Tỷ lệ tiết kiệm/GDP



ICOR



:



Tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng



g=



s=



Y

Yt



Từ công thức:



ICOR =



Nếu K  I , ta có :



K

Y



ICOR =



I

Y



Ta lại có: I = S =s *Y. Thay vào cơng thức tính ICOR,ta có:

ICOR =



K s * Y

s *Y



Từ đây suy ra: Y 

Y

Y

ICOR



Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:

g



Y

s *Y



:Y

Y

ICOR



Cuối cùng ta có:



g



s

ICOR



16



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Như vậy, theo Harrod - Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng

kinh tế. Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ để

đầu tư trong GDP là s với hệ số ICOR khơng đổi. Mơ hình thể hiện S là

nguồn vốn của I, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (  K), gia tăng vốn sản

xuất sẽ trực tiếp gia tăng  Y. Cũng lưu ý rằng, do nghiên cứu ở các nước tiên

tiến,nhằm xem xét vấn đề: để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 1% thì đầu tư

phải tăng bao nhiêu, nên những kết luận của mơ hình cẩn được kiểm nghiệm kỹ

khi nghiên cứu đối với các nước đang phát triển như ở nước ta. Ở những nước

đang phát triển, vấn đề khơng đơn thuần chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế

như cũ mà quan trọng là phải tăng với tốc độ cao hơn. Đồng thời do thiếu vốn,

thừa lao động, họ thường sử dụng nhiều nhân tố khác phục vụ tăng trưởng.

II. KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Khái niệm:

1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một

khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy

mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc

độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự

gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kì. Như vậy, bản chất của tăng trưởng

là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.

Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng % thay đổi của mức

sản lượng quốc dân.

gt = ( Yt – Y(t+1)/Y(t-1) *100%

Trong đó: gt : Tốc độ tăng trưởng của thời kì t

Y : GDP thực tế của thời kì t



17



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



Thước đo đó có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số tăng rất nhanh trong

khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm.

Một định nghĩa khác có thể thích hợp hơn về tăng trưởng kinh tế theo

mức sản lượng bình qn đầu người được tính bằng tổng sản lượng hàng hoá

và dịch vụ được tạo ra trong năm chia cho dân số.

gt(PC) = ( yt - y(t-1))/y(t-1) *100%

Trong đó: gt(PC): Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu

người của thời kì t

y : GDP thực tế bình quân đầu người

Khi các nhà kinh tế nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, họ quan tâm đến

tăng trưởng của sản lượng thực tế qua một thời kì dài để có thể xác định được

các yếu tố làm tăng GDP thực tế tại mức tự nhiên trong dài hạn.

Các nguồn lực của tăng truởng kinh tế: Yếu tố hàng đầu quyết định

tăng trưởng là năng suất. Nhưng các yếu tố quyết định năng suất và do đó

tăng truởng kinh tế là nguồn nhân lực, tích luỹ tư bản, tài nguyên thiên nhiên

và tri thức cơng nghệ. Các nhân tố đó có thể khác nhiều giữa các nước và một

số nước có thể kết hợp chúng hiệu quả hơn các nước khác.

Các chính sách của chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:

- Chính sách khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong nước.

- Chính sách thu hút đầu tư từ nước ngồi.

- Chính sách về vốn nhân lực.

- Xác định quyền sở hữu tài sản và sự ổn định chính trị.

- Chính sách mở cửa nền kinh tế.

- Chính sách kiểm soát tăng dân số.



18



Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng



- Nghiên cứu và triển khai công nghệ mới.

Tăng trưởng bền vững: Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm

định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm

sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu

hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh

tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù hợp

nhất với quốc gia đó.

1.2 Khái niệm phát triển kinh tế

Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời

gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất. Phát triển kinh tế được

hiểu là q trình biến đổi cả về lượng và chất,nó là sự kết hợp chặt chẽ q trình

hồn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như

vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh

tế quyết định. Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

- Sự tăng lên của GDP, GNP hoặc GDP, GNP tính theo đầu người. Có

nghĩa là sự tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số.

- Sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế: tỷ trọng của các

ngành dịch vụ và công nghiệp trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của nơng

nghiệp giảm xuống. Nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành tăng lên.

- Sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Chất lượng cuộc

sống của đại bộ phận dân cư phải được cải thiện chính vì vậy phải phối hợp

có hiệu quả tăng trưởng kinh tế, ổn định lạm phát.

1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển

Nói đến tăng trưởng kinh tế người ta thường liên tưởng đến việc gia

tăng về số lượng các chỉ tiêu kinh tế. Chẳng hạn như các chỉ tiêu về GDP,

GNP, cán cân thương mại, sản lượng sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu,...

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Từ công thức (1) ta được

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×