Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5-Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

5-Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong đó: Dđk: chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ

C: tổng chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ

Dck: chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

ztt: giá thành đơn vị sản phẩm

Sh: khối lượng sản phẩm hồn thành

Ưu điểm: tính tốn nhanh, đơn giản, khơng đòi hỏi trình độ cao

Nhược điểm: phạm vi áp dụng hẹp

1.5.2 -Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo đơn đăt hàng

Trong phương pháp này, mỗi đơn đặt hàng được mở một “Phiếu tính

giá thành cơng việc” hay gọi là “Phiếu tính giá thành theo đơn đặt hàng”.

Phiếu tính giá thành công việc được lập cho từng đơn đặt hàng khi phòng kế

tốn nhận được thơng báo và lệnh sản xuất đã được phát ra cho cơng việc đó.

Tất cả các phiếu tính giá thành cơng việc được lưu trữ khi sản phẩm đang sản

xuất, chúng có tác dụng như các báo cáo sản phẩm sản xuất dở dang khi sản

phẩm hồn thành và giao cho khách hàng, các phiếu tính giá thành công việc

được cung cấp từ khâu sản xuất sang khâu thành phẩm.

1.5.3- Phương pháp tính giá thành sản phẩm phân bước

Phương pháp này áp dụng đối với những doanh nghiệp sản xuất kiểu

chế biến liên tục, quy trình cơng nghệ gồm nhiều bước kế tiếp với một trình tự

nhất định, khi kết thúc 1 giai đoạn công nghệ có bán thành phẩm hồn thành

được cung cấp sang chế biến ở giai đoạn cơng nghệ tiếp theo.

Đối tượng tính giá thành ở những doanh nghiệp này là thành phẩm,

cũng có thể là bán thành phẩm ở từng giai đoạn cơng nghệ. Do vậy có 2

phương án:

1.5.3.1 -Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành

nửa thành phẩm

Trước hết, kế tốn căn cứ vào chi phí sản xuất của từng giai đoạn đầu

tiên để tính giá thành nửa sản phẩm của giai đoạn 1. Sau đó, xác định chi phí

sản xuất giai đoạn 1 chuyển sang cho giai đoạn sau, cùng với chi phí sản xuất

23



của bản thân giai đoạn đó, tổ chức tính giá thành nửa thành phẩm của giai

đoạn này, cứ kế tiếp liên tục. Như vậy, cho đến giai đoạn cuối cùng sẽ tính

được giá thành của thành phẩm. Việc kết chuyển chi phí từ giai đoạn trước

sang giai đoạn sau có thể được thực hiện tuần tự từng khoản mục chi phí hoặc

tuần tự tổng hợp chung cho tất cả các khoản mục chi phí.

Phương pháp này áp dụng với những doanh nghiệp có u cầu hạch tốn

cao, có quy trình cơng nghệ phức tạp, nửa thành phẩm tự chế cũng là hàng

hoá.

1.5.3.2- Phương pháp tính giá thành phân bước khơng tính giá

thành nửa thành phẩm

Đối tượng tính giá thành là thành phẩm, khơng cần tính giá thành nửa

thành phẩm từng giai đoạn. Nhưng, để sản xuất sản phẩm ở từng giai đoạn

cuối cùng trong giá thành của thành phẩm sẽ chứa đựng chi phí sản xuất của

tất cả các giai đoạn trong doanh nghiệp. Vì vậy, trong trường hợp này, kế tốn

phải căn cứ vào chi phí sản xuất của giai đoạn đã tập hợp được để xác định

phần chi phí của từng giai đoạn có trong giá thành của thành phẩm, sau đó

tổng hợp lại và tính được giá thành thành phẩm.

Điều kiện áp dụng: sử dụng cho các doanh nghiệp chế biến phức tạp,

liên tục và đối tượng tính giá thành là sản phẩm hồn thành ở bước cơng nghệ

cuối cùng.



24



Chương II

THỰC TRẠNG VỀ CƠNG TÁC KẾ TỐN TẬP HỢP

CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨMMỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT

2.1.Thực trạng về cơng tác kế tốn tập hợp chi phí sản xuất và tính giá

thành.

Phần lớn hệ thống kế tốn của các nước có nền kinh tế thị trường phát

triển có hai phần cơ bản: Kế tốn tài chính và kế tốn quản trị. Kế tốn tài

chính có tính pháp lệnh, bắt buộc các cơng ty phải mở sổ sách kế toán để theo

dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo chuẩn mực kế tốn quốc

gia. Kế toán quản trị mà trọng tâm là kế tốn chi phí, nhấn mạnh việc cung

cấp thơng tin cho sử dụng nội bộ của người quản lý, đặt trọng tâm cho tương

lai nhiều hơn.

Hiện nay trong mỗi hệ thống kế toán quốc gia của các nước tiên tiến,cùng

lúc tồn tại ba hệ thống kế tốn chi phí sản xuất khác nhau,đó là kế tốn chi

phí thực tế, kế tốn chi phí thực tế kết hợp với chi phí dự tốn ,kế tốn chi phí

định mức.So sánh sự khác nhau về thời điểm tính giá thành sản phẩm ,giá phí

yếu tố đầu vào,chi phí sản xuất của ba hệ thống kế tốn cho thấy tính linh hoạt

của hệ thống kế tốn chi phí sản xuất.tùy thuộc vào trình độ nhận thức tổ chức

kế tốn,đặc điểm quy trình sản xuất,tính chất sản phẩm … mà nhân viên kế

tốn ở mỗi cơng ty vận dụng theo một hệ thống kế toán chi phí cho phù hợp

.tính chất linh hoạt của hệ thống kế tốn chi phí sản xuất được thể hiện :

-Kế tốn chi phí sản xuất thực tế, nghĩa là các yếu tố đầu vào của chi phí

sản xuất phải tính và hạch tốn ngay từ đầu theo chi phí phát sinh thực tế.

Trong hệ thống kế toán hiện hành của chúng ta hiện nay chú trọng phần lớn là

kế toán chi phí sản xuất thực tế và cuối kỳ mới tính được giá thành sản phẩm.

Các doanh nghiệp SX nước ta thường lập giá thành định mức đơn vị sản

phẩm ứng với một mức sản xuất nhất định, không linh hoạt theo nhiều mức

25



độ sản xuất khác nhau. Điều này gây khó khăn cho nhà doanh nghiệp trong

việc định ra giá bán cạnh tranh, giá bỏ thầu … tại một thời điểm bất kỳ trong

kinh doanh.

Xét tính chất phát sinh của từng khoản mục chi phí có thể tập hợp ngay cho

việc tính tốn nhanh giá thành sản phẩm phục vụ cho việc tiêu thụ, gồm có :

+ Chi phí ngun vật liệu trực tiếp và chi phí nhân cơng trực tiếp hầu như

có thể tính ngay được do các chứng từ nội bộ công ty cung cấp, như các phiếu

yêu cầu nguyên vật liệu, lệnh sản xuất, phiếu thời gian ...

+ Q trình tập hợp, tính tốn chi phí sản xuất chung thực tế kịp thời cho

việc tính tốn nhanh giá thành sản phẩm thực tế lại gặp nhiều trở ngại, thông

thường cuối kỳ (cuối tháng) mới xác định được. Chi phí sản xuất chung phụ

thuộc chủ yếu vào các chứng từ bên ngồi như hóa đơn tiền điện, nước, điện

thoại, chất đốt, … các hóa đơn này đến cuối kỳ các nhà cung cấp mới tính và

báo cho doanh nghiệp hoặc có thể đầu kỳ sau mới gởi cho doanh nghiệp. Mặc

khác sản phẩm của công ty sản xuất hoàn thành nhập kho, tiêu thụ xen kẻ liên

tục, cơng ty cần có ngay chi phí sản xuất chung để tính tốn nhanh giá thành

sản phẩm làm cơ sở để xác định đúng giá bán ra.

Để tính nhanh giá thành sản phẩm, nhân viên kế tốn cần phải có thơng

tin chính xác 3 khoản mục chi phí, trong đó chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

và chi phí nhân cơng trực tiếp dễ dàng xác định, còn chi phí sản xuất chung

thì khó khăn hơn, thường cơng ty phải ước tính chi phí sản xuất chung.

- Kế tốn chi phí thực tế kết hợp với chi phí dự tốn.Kế tốn chi phí sản xuất

theo chi phí thực tế kết hợp với chi phí SX chung dự tốn, nghĩa là hai yếu tố

đầu vào nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân cơng trực tiếp phải tính và

26



hạch tốn ngay từ đầu theo chi phí phát sinh thực tế, còn chi phí sản xuất

chung được ước tính phân bổ để tính giá thành sản phẩm kịp thời, cuối kỳ

điều chỉnh lại khi tập hợp đầy đủ chi phí sản xuất chung thực tế.

Ưu điểm của cách tính này là cung cấp nhanh giá thành đơn vị sản phẩm ứng

với nhiều mức độ sản xuất khác nhau tương đối gần đúng với giá thành thực

tế tại bất kỳ thời điểm nào mà không cần đợi đến cuối kỳ, giúp nhà doanh

nghiệp có quyết định kịp thời trong kinh doanh. Nếu có thơng tin này thì

doanh nghiệp sẽ có khả năng định một giá cạnh tranh để được hợp đồng và

tăng thị phần trong thị trường. Ngoài ra, trong lĩnh vực sản xuất máy móc

thiết bị hạng nặng hoặc trang bị quốc phòng, có rất nhiều cơng việc hoặc hợp

đồng mà doanh nghiệp chỉ dành được bằng cách đấu thầu. Doanh nghiệp cần

có giá thầu hợp lý đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, đồng thời

mang lại lợi nhuận hợp lý cho doanh nghiệp.

- Hệ thống kế toán chi phí sản xuất định mức phù hợp với các loại hình

doanh nghiệp có quy trình cơng nghệ sản xuất ổn định ,có định mức kinh tế

kỹ thuật tiên tiến và nguồn cung cấp nguyên vật liệu thường xuyên ít biến

động.giá thành định mức là thông tin chuẩn nhằm phát hiện sự thay đổi định

mức và các khoản chênh lệch so với định mức ,đánh giá năng lực sản xuất của

doanh nghiệp ,từ đó nhà quản lý có cơ sở để xác định đúng nguyên nhân để

giải quyết kịp thời.đến cuối kỳ kế toán sử lý các khoản biến động chi phí thực

tế so với định mức để tính đúng và tính đủ vào giá thành sản phẩm.

Liên hệ với kế tốn chi phí sản xuất chung của nước ta hiện nay ,thì có

duy nhất hệ thống kế tốn chi phí thực tế,vì vậy cuối kỳ mới tính được giá

thành.tại việt nam, một số cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi đang sử dụng hệ

thống chi phí thực tế kết hợp với dự tốn và hệ thơng kế tốn định mức của hệ

27



thống kế tốn nước ngồi.ngồi ra còn thêm phương pháp just in time(JIT),

Để tối thiểu hóa chi phí không gia tăng giá trị, nhiều công ty áp dụng hệ thống

JIT, hệ thống trong đó cơng ty mua ngun vật liệu và sản xuất các bộ phận

cấu thành sản phẩm ngay khi chu trình sản xuất cần tới chúng, nhằm giảm

tồn kho tới mức thấp nhất có thể vì chi phí kho hàng là chi phí khơng gia

tăng giá trị rất lớn. Thơng qua JIT, cơng ty có thể chống lãnh phí và cải

thiện chất lượng.và các doanh nghiệp ở việt nam còn áp dụng phương

pháp truyền thống và chưa chính thức xem xét và áp dụng đối với doanh

nghiệp sản xuất ở việt nam.

Mặt khác theo quy định của thơng tư số 60/TC/CDKT ngày 01/09/1997

của bộ tài chính yêu cầu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tại việt

nam nên chuyển đổi từ hạch tốn từ hệ thống kế tốn nước ngồi sang hệ

thống kế tốn việt nam.việc khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngồi là hệ

thống kế tốn nước ta còn có những điểm chưa phù hợp hoặc thiếu so với

thông lệ quốc tê,phương pháp hạch toán phổ biến mà phần lớn các nước tiên

tiến đang áp dụng,nhất là phần kế tốn chi phí.

Qua đó ta thấy được vấn đề kế tốn chi phí của các doanh nghiệp sản xuất

ở việt nam và những ưu điểm nổi bật của hệ thống kế toán chi phí nước ngồi

để từ đó ta có cách áp dụng và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình sản xuất

thực tế trong nước.



2.2 Một số ý kiến đề xuất.

Qua thực trạng về cơng tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản

phẩm.chúng ta cần xem xét một số vấn đề sau.



28



* hệ thống kế tốn Việt nam có hai phương pháp hạch tốn hàng tồn

kho đó là phương pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ.mỗi phương

pháp hạch tốn hàng tồn kho có ảnh hưởng đến thời điểm ,phương pháp hạch

tốn tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khác nhau.Đối với

phương pháp kiểm kê định kỳ thì việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá

thành sản phẩm cuối kỳ là hợp lý .đối với phương pháp kê khai thường

xuyên ,thì mọi sự biến động tăng và giảm chi phí đều phải hạch tốn kịp

thời ,thường xun chứ khơng đợi đến cuối kỳ.theo chế độ kế toán hiện

nay,tài khoản “154”-chi phí sản xuất kinh doanh dở dang “hạch tốn theo

phương pháp kê khai thường xuyên nhưng đến cuối kỳ mới được phép tập

hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm nhập kho điều này không phù hợp với

nội dung của phương pháp kế toán .do vậy cần phải mở rộng thời điểm hạch

toán cho tài khoản này bằng cách bổ xung thêm hệ thống kế tốn chi phí kết

hợp với dự tốn và định mức.

*trong các phương pháp tính giá trị sản phẩm dở dang thì phương pháp

tính theo khối lượng sản phẩm hồn thành tương đương có nhược điểm là

khối lượng tính tốn lớn ,mất nhiều thời gian ,khi kiểm kê sản phẩm dở dang

cần phải xác định được mức độ chế biến hoàn của sản phẩm dở dang ở từng

bước công nghệ ,công việc này khá phức tạp.theo cách tính truyền thống,chi

phí sản phẩm dở dang được tính riêng cho từng khoản mục .chi phí nguyên

vật liệu chính và chi phí sản xuất khác còn lại sau đó tổng hợp lại.phương

pháp này có 2 vần đề cần xem xét lại cho phù hợp với hệ thống kế tốn hiện

hành và tính đa dạng trong sản xuất.

Theo phương pháp truyền thống ,xác định khoản mục chi phí nguyên

vật liệu chính phù hợp với hệ thống tài khoản kế tốn doanh nghiệp trước

những năm 1996,vì ngun vật liệu là một khoản mục của chi phí sản xuất và

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5-Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x