Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những kiến nghị đối với chế độ hiện hành

Những kiến nghị đối với chế độ hiện hành

Tải bản đầy đủ - 0trang

29

1.1. Thống nhất giữa thông tư 13/TT-BTC và quy định của chế độ kế

tốn hiện hành về dự phòng giảm giá tài sản

Theo thơng tư 13/TT-BTC, việc hồn nhập các khoản dự phòng được ghi

tăng doanh thu( thu nhập) tương ứng với các hoạt động có liên quan đến đối

tượng dự phòng, chẳng hạn như hồn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

vào thu nhập khác. Trong khi đó, theo chế độ kế tốn Việt Nam 2006, hồn

nhập các khoản dự phòng bằng cách ghi giảm chi phí của các hoạt động liên

quan đến đối tượng lập dự phòng.

Dự phòng phản ánh cách tiếp cận thận trọng: ghi nhận trước 1 khoản chi

phí chưa chi ra nhưng có thể xảy ra trong tương lai. Một khi chi phí đó khơng

chi ra ( tổn thất khơng xảy ra), khoản trích sẽ phải được hồn nhập. Ngược lại

với trích lập dự phòng làm giảm lợi nhuận trong kỳ việc hồn nhập sẽ làm

tăng lợi nhuận trong kỳ. Theo lập luận này, hồn nhập dự phòng dù bằng cách

ghi giảm chi phí hay tăng thu nhập , đều hợp lý vì cuối cùng đều dẫn đến

tăng lợi nhuận trong kỳ. Điều khác biệt nhỏ ở đây là cách thức điều chỉnh

tăng lợi nhuận: hồn nhập bằng cách ghi giảm chi phí sẽ gián tiếp tăng lợi

nhuận còn hồn nhập tăng thu nhập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng lợi nhuận.

Đế đảm bảo sự thống nhất em xin đưa ra 1 đề xuất là nên quy định thống

nhất hồn nhập dự phòng của tất cả các khoản dự phòng đã lập đều được ghi

tăng thu nhập. Phương án này một mặt đảm bảo tính thống nhất, mặt khác

đơn giản hóa nghiệp vụ kế tốn xử lý dự phòng nhưng vẫn phản ánh được bản

chất của hồn nhập dự phòng. Đây cũng là phương án mà một số nước có nền

kế tốn khá phát triển như các nước Tây Âu áp dụng.

1.2. Loại bỏ dự phòng giảm giá ngun vật liệu, cơng cụ dụng cụ và

sản phẩm dở dang

Như đã lập luận ở phần trên thì việc đưa ngun vật liệu, cơng cụ dụng

cụ và sản phẩm dở dang vào đối tượng dược trích lập dự phòng giảm giá hàng

tồn kho là khơng cần thiết và hơn nữa gây thêm phiền phức cho doanh nghiệp.

Thực tế là các doanh nghiệp cũng khó mà áp dụng được đầy đủ những quy

định trong thông tư .



30

Vì vậy em đề xuất là nên bỏ 3 lọai hàng tồn kho trên ra khỏi danh sách

đối tượng được trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Trong lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho em thiết nghĩ chúng ta cũng có

thể học tập phương pháp trong chuẩn mực kế tốn quốc tế: Đó là việc lập dự

phòng giảm giá hàng tồn kho có thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho

hoặc gộp nhóm các mặt hàng giống nhau và có liên quan đến nhau. Như thế

sẽ giúp cơng tác kế tốn liên kết được các thông tin về hàng tồn kho chứ

không tách biệt chúng ra.

1.3. Quy định rõ hơn đối với cổ phiếu OTC và lập dự phòng tại các

cơng ty chứng khốn

Đối với cổ phiếu OTC, điều kiện để được trích lập dự phòng là giá trị thị

trường vào thời điểm lập các Báo cáo tài chính nhỏ hơn giá trị ghi sổ. Các cổ

phiếu này lại khơng có giá thị trường chính thức nên khó xác định giá thị

trường là bao nhiêu. Cơ quan thuế các tỉnh, thành phố cũng có cách hiểu khác

nhau về giao dịch chứng khốn tự do. Có nơi hiểu thị trường OTC là trao đổi

tự do nên phải được trích lập dự phòng. Có nơi lại cho rằng OTC khơng phải

là tự do nên nếu trích lập sẽ bị gạt ra, thậm chí là bị xử phạt.

Trước tình trạng này em kiến nghị Bộ Tài Chính nên có những quy định

cụ thể hơn về cổ phiếu OTC. Ví dụ với cổ phiếu OTC thì có thể so sánh với 1

doanh nghiệp tương tự đã niêm yết để xác định mức giá thị trường của loại cổ

phiếu này vào thời điểm lập dự phòng.

Một vấn đề nữa là theo thơng tư 13/TT-BTC thì các cơng ty niêm yết,

cơng ty quản lý quỹ được thực hiện trích lập dự phòng tổn thất đầu tư tài

chính thì các cơng ty chứng khốn lại khơng được trích lập. Nhưng hiện nay

khơng ít các cơng ty chứng khốn, nhất là những cơng ty có quy mơ vốn lớn,

thơng qua hoạt động tự doanh của mình đã thực hiện đầu tư khá nhiều vào

chứng khốn cả niêm yết và khơng niêm yết. Vì khơng được quy định nên

việc trích lập dự phòng cho hoạt động này nên mỗi doanh nghiệp có cách

hành xử khác nhau.



31

Vì vậy em kiến nghị nên cho phép cả các cơng ty chứng khốn được

trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khốn để bảo đảm sự cơng bằng

hơn cho các doanh nghiệp này.

1.4. Tách VAT khi lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

Như đã phân tích ở trên thì việc tính dự phòng nợ phải thu khó đòi trên số

nợ phải thu khó đòi có cả VAT là khơng hợp lý và gây thiệt thòi cho doanh

nghiệp. Vì vậy theo em để giải quyết tồn tại này và cũng là để phù hợp với

thông lệ quốc tế chế độ nên quy định trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

dựa trên số nợ phải thu ngoài VAT.

1.5. Linh hoạt hơn trong việc quy định thời hạn và tỷ lệ được trích

lập dự phòng với nợ khó đòi

Theo quy định hiện hành với những khoản nợ phải thu khó đòi có tuổi

nợ q hạn từ 3 tháng trở lên mới trích lập dự phòng. Điều này cũng có thể

khiến doanh nghiệp khơng sớm có được khoản dự trữ cho những thiệt hại có

thể xảy ra khi mất nợ. Vì vậy em kiến nghị Bộ Tài Chính nên quy định bất cứ

khoản nợ nào đến hạn thanh tốn trong năm mà chưa thu hồi được thì ngay

lập tức chuyển tồn bộ số nợ phải thu đó sang nợ q hạn và tiến hành trích

lập dự phòng cho khả năng không thu hồi được nợ.

Đối với từng loại doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau,

và bản thân từng món nợ khác nhau thì tuy tuổi nợ quá hạn giống nhau nhưng

khả năng mất là khác nhau . Vì vậy áp dụng 1 tỷ lệ trích cố định với mỗi

khoản thời gian nợ quá hạn là không hợp lý. Chế độ cũng nên để cho các

doanh nghiệp có 1 sự tự chủ nhất định trong việc xác định mức tỷ lệ trích đối

với mỗi khoản nợ của doanh nghiệp dựa trên kinh nghiệm hoạt động của họ.

2. Những giải pháp nhằm hồn thiện kế tốn dự phòng giảm giá tài

sản tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay



32

Để tăng cường hiệu quả của công tác kế tốn nói chung và kế tốn dự

phòng giảm giá tài sản nói riêng doanh nghiệp cần phải tăng cường trình độ

của kế toán viên bằng cách thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo bổ sung

kiến thức và tuyển vào những kế tốn viên giỏi, có đạo đức nghề nghiệp tốt.

Việc trích lập dự phòng phải được xem xét và đối chiếu với những năm trước

đó.

Đối với khách hàng mua chịu thì doanh nghiệp phải thường xun cập

nhật thơng tin về khách hàng đó, thực hiện các biện pháp đòi nợ nhất là đối

với những khoản nợ sắp đến hạn trả. Khi nợ quá hạn thì tiến hành thúc nợ và

tìm hướng giải pháp cho những khoản nợ quá hạn.

Đối với hàng tồn kho thì phải có sổ sách theo dõi riêng những hàng hóa

kém phẩm chất. Việc xác định giá trị thuần của hàng tồn kho cuối kỳ phải do

những người có chun mơn tiến hành và phải thực hiện chu đáo.

Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi quyết định đầu tư

vào 1 loại chứng khoán nào đó và có sự cập nhật giá của chúng trên thị trường

1 cách thường xuyên.

Doanh nghiệp cũng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng chế độ để thực hiện

cho đúng để được hưởng những quyền lợi chính đáng của mình: Ví như

khơng nên mua cổ phiếu khơng được tự do giao dịch hay mua bán hàng hóa

mà khơng có hóa đơn kèm theo....



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những kiến nghị đối với chế độ hiện hành

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×