Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
C. Chương 2: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ DỰ PHÒNG

C. Chương 2: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ DỰ PHÒNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

22

Đối với chuẩn mực quốc tế thì việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn

kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho hoặc có thể gộp

nhóm các mặt hàng tồn kho giống nhau hoặc có liên quan với nhau.

Trường hợp này thông thường là các mặt hàng tồn kho liên quan đến cùng

một giây chuyền sản xuất mà chúng có cùng mục đích hoặc việc sử dụng

cuối cùng, được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường tại cùng khu vực và

thực tế là không thể đánh giá riêng biệt với các mặt hàng khác trong dây

chuyền sản xuất đó. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho không được

thực hiện trên cơ sở phân loại như hàng tồn kho như thành phẩm, hàng

hóa. Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng

tồn kho được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt.

Trong khi đó thì việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho ở Việt

Nam được tiến hành riêng biệt cho từng loại hàng tồn kho và từng mặt

hàng tồn kho.

2. Dự phòng trong kế tốn Mỹ

Chế độ kế tốn Mỹ nhìn chung tạo cho các doanh nghiệp sự chủ

động rất lớn trong việc tổ chức hạch tốn kế tốn tại doanh nghiệp mình.

Đối với kế tốn chi phí dự phòng nợ phải thu khó đòi kế tốn Mỹ cũng quy

định khá giống với kế tốn Việt Nam về các phương pháp ước tính khoản

dự phòng cần trích lập. Tuy nhiên có 1 sự khác biệt trong phương pháp

ước tính dự phòng nợ khó đòi theo thời gian nợ của từng khách hàng. Nếu

như trong kế toán Việt Nam khoản nợ phải quá hạn từ 3 tháng trở lên kể từ

ngày đáo hạn thì doanh nghiệp mới được phép trích lập dự phòng và tỷ lệ

trích lập trên khoản nợ quá hạn đã được quy định rất cụ thể thì trong kế

tốn Mỹ lại không như vậy. Các khoản nợ ngay khi quá hạn là doanh



23

nghiệp đã được trích lập dự phòng và tỷ lệ trích lập trên số nợ khó đòi là

do doanh nghiệp tự quyết định dựa trên kinh nghiệm của mình.

Đây có thể nói là một điểm rất linh hoạt của kế tốn Mỹ đồng thời

cũng rất tơn trọng ngun tắc thận trọng trong việc lập dự phòng. Ta lấy ví

dụ như tại cơn ty A có 1 khoản nợ đến hạn thu vào ngày 30 tháng 11 năm

N nhưng khách hàng vẫn chưa chịu trả khi năm tài chính kết thúc. Như

vậy đối với kế tốn Việt Nam thì phải đến ngày 31/12/N+1 doanh nghiệp

mới được trích lập dự phòng và như thế thì ý nghĩa của việc trích lập bị

giảm đi rất nhiều nhưng trong kế tốn Mỹ thì doanh nghiệp có thể trích lập

ngay khoản dự phòng cho món nợ đó vào cuối năm tài chính N. Tính kịp

thời được đảm bảo. Hơn nữa đối với từng loại hình doanh nghiệp khác

nhau thì với cùng 1 khoảng thời gian nợ quá hạn nhưng khả năng mất là

khác nhau. Như thế thì việc quy định 1 tỷ lệ trích cứng nhắc như trong kế

tốn Việt Nam là khơng thực sự hợp lý. Để cho doanh nghiệp tự ước tính

tỷ lệ này trên cơ sở tình hình thực tế hoạt động của doanh nghiệp mình là 1

giải pháp hay hơn và cũng phù hợp hơn với sự đa dạng trong hoạt động

kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay.

3. Dự phòng trong kế tốn Tây Âu

Đối với kế tốn dự phòng giảm giá hàng tồn kho có một chút khác

biệt giữa kế toán Việt Nam và các nước Tây Âu. Đó là việc lập dự phòng

giảm giá hàng tồn kho ở Việt Nam được thực hiện khi mà giá trị thuần có

thể thực hiện được của chúng nhỏ hơn so với giá gốc. Trong đó giá trị

thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho là giá bán ước tính trừ đi chi

phí ước tính để hồn thành sản phẩm và chi phí cần thiết cho việc tiêu thụ

chúng. Điều này là khác biệt so với kế toán Tây Âu vì việc lập dự phòng

giảm giá hàng tồn kho được thực hiện khi giá trị thị trường của hàng tồn

kho bị giảm sút so với giá trị sổ sách của chúng.



24

Đối với dự phòng nợ phải thu khó đòi cũng có sự khác biệt đáng kể

giữa kế tốn Việt Nam và Tây Âu:

+Kế tốn Việt Nam:

Số dự phòng nợ phải

thu khó đòi cần trích lập



= số nợ q hạn của



* Tỷ lệ phần trăm



khách hàng



có khả năng mất



+ Kế tốn Tây Âu:

Số dự phòng giảm giá

TK khách hàng



= số nợ ngồi thuế của

khách hàng nghi ngờ



*



Tỷ lệ phần trăm

có khả năng mất



Như vậy sự khác biệt ở đây nằm ở chỗ kế tốn Việt Nam tính mức dự

phòng cần trích lập trên khoản nợ có VAT của khách hàng còn kế tốn Tây Âu

thì tính trên khoản nợ ngồi VAT. Như vậy thì với cùng một khoản nợ khó đòi

số dự phòng mà 1 doanh nghiệp Việt Nam cần trích lập sẽ cao hơn so với 1

doanh nghiệp ở Tây Âu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sẽ làm tăng chi

phí và giảm lợi nhuận. Nếu như khoản nợ khơng thu hồi được và được phép

xóa thì khoản VAT đã thu hộ và nộp hộ nhà nước trước đây sẽ khơng được

hồn lại trong kế tốn Việt Nam trong khi nó được cho phép hồn lại tại các

nước Tây Âu. Đây là 1 điểm tiến bộ rất đáng học tập của kế tốn Tây Âu. Vì

thực tế thì VAT là thuế gián thu, người phải chịu nó là người tiêu dùng chứ

không phải là doanh nghiệp. Vậy nên sẽ là vô lý nếu như bắt doanh nghiệp

phải chịu 1 khoản chi phí như thế khi khoản nợ phải lập dự phòng hoặc phải

xóa nợ.

Một số ý kiến nhận xét về chế độ kế toán hiện hành và thực

trạng hạch tốn chi phí dự phòng tại Việt Nam

1. Những tiến bộ của chế độ kế tốn về dự phòng hiện hành ( Thông

tư 13/2006) so với chế độ cũ ( Thông tư 107/2201)

Nền kinh tế luôn vận động biến đổi nhanh chóng và kéo theo đó là

những biến động của các nghiệp vụ kinh tế. Điều này đòi hỏi các nhà lập pháp

luôn phải theo dõi thực tế để có những điều chỉnh văn bản pháp luật kịp thời

II.



25

sao cho chúng có thể phát huy tốt vai trò hướng dẫn chỉ đạo thực tế. Các văn

bản hướng dẫn trích lập dự phòng cũng nằm trong quy luật chung này. Văn

bản ra đời sau có những bước đổi mới tìm tòi, phát triển văn bản trước để phù

hợp hơn với thực tiễn đang diễn ra và để hội nhập hơn nữa với thế giới.

Thông tư 13/2006/TT-BTC ra đời thay thế cho thông tư 107/TT-BTC và đã

thể hiện được sự tiến bộ của nó khắc phục được những tồn tại mà thông tư

trước chưa giải quyết được.

Thứ nhất: Theo thông tư 107/TT-BTC thì thời điểm lập và hồn nhập dự

phòng là ở thời điểm cuối năm tài chính. Tuy vậy cùng với sự phát triển của

thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp niêm yết phải lập báo cáo tài chính

giữa niên độ vì vậy thơng tư 13/TT-BTC đã dưa ra thời điểm lập và hồn nhập

dự phòng là vào cuối và giữa niên độ kế tốn.

Thứ hai: Thơng tư 107/TT-BTC quy định nợ phải thu quá hạn từ 2 năm

trở lên, kể từ ngày đến hạn thu nợ trong hợp đồng kinh tế các khế ước vay nợ

hoặc cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được nợ

( trừ các trường hợp đặc biệt) . Điều này trong thực tế là khơng phù hợp vì nó

đã vi phạm nguyên tắc kế toán thận trọng và làm cho việc dự phòng giảm ý

nghĩa vì thời điểm được lập dự phòng cách quá xa so với thời điểm đáo hạn

nợ. Hơn nữa cũng theo thơng tư này thì doanh nghiệp sẽ tự ước tính tỷ lệ

khơng thu hồi được trong số nợ phải thu để lập dự phòng và tổng số dự phòng

phải thu nợ khó đòi khơng vượt quá 20% tổng dố dư nợ phải thu. Điều này là

khơng hợp lý vì như vậy dự phòng sẽ mang nặng cảm tính của kế tốn viên và

con số 20% giới hạn là quá cứng nhắc. Thông tư 13/TT-BTC đã khắc phục

được tồn tại này bằng cách quy định cụ thể tuổi nợ và phần trăm được trích

lập dự phòng trên khoản nợ quá hạn:

+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1

năm.

+50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2

năm.

+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3

năm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

C. Chương 2: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ DỰ PHÒNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x