Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ - HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ - HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.2. Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc

trong những năm 1945 – 1954

Sau Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ VI (14 đến 18/01/1949), thực hiện

chủ trương của Đảng về công tác huấn luyện cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng,

Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc trở thành Trường huấn luyện cán bộ

hoạt động thường xuyên. Đây là mốc quan trọng đặc biệt của lịch sử Học viện,

đánh dấu bước phát triển mới trong công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ của Đảng.

Lúc này với vai trò là nòng cốt của phong trào huấn luyện và học tập trên toàn

quốc. Trường đã đào tạo một đội ngũ huấn luyện viên cho các cấp, bao gồm huấn

luyện viên chuyên nghiệp và cán bộ lãnh đạo được sử dụng làm huấn luyện viên

kiêm chức. Trường Đảng đã bám sát nhiệm vụ chính trị, việc coi trọng quán triệt

đường lối cách mạng, đồng thời hết sức coi trọng việc giáo dục phẩm chất, giáo

dục tác phong lề lối làm việc cho cán bộ.

Địa điểm đầu tiên của Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc đặt tại

Làng Lng, xã Bình Thành, huyện Định Hố, tỉnh Thái Nguyên.

1.1.3. Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương trong thời kỳ Đảng lãnh đạo

thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng (1954 – 1975).

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hồn tồn giải

phóng, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn tiến hành đồng

thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,

thống nhất đất nước.

Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương chuyển từ Việt Bắc về thủ đô Hà

Nội. Nhà trường tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Ngày 8/2/1957

Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 8 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tập lý

7



luận trong giai đoạn cách mạng mới. Ngày 7/9/1957, nhà trường khai giảng khoá

học lý luận dài hạn đầu tiên, mở đầu thời kỳ giáo dục lý luận một cách cơ bản. Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã đến dự lễ khai giảng và đọc Diễn văn khai mạc. Cuối năm

1958, Trung ương cho xây dựng khu trường mới với quy mô lớn khang trang hơn,

đảm bảo việc ăn ở học tập, làm việc cho gần 1000 cán bộ, học viên. Đây chính là

cơ sở Học viện hiện nay. Sau Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ III, ngày 26/3/1962,

Bộ Chính trị họp chuyên đề về cải cách công tác giáo dục lý luận của Đảng, Bộ

Chính trị ra Nghị quyết số 52/NQ-TW ghi rõ: “Hướng cố gắng chính của trường

Đảng trong việc cải tiến học tập hiện nay là phải khơng ngừng tăng cường lý luận

với thực tiễn”. Bộ Chính trị quyết định Trường mang tên Trường Nguyễn Ái Quốc

Trung ương. Trong thời kỳ này, trường đã có những bước phát triển liên tục và

vững chắc trong công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Song song với cơng tác đào tạo lý luận chính trị, từ năm 1966 đến 1975,

công tác nghiên cứu khoa học của trường cũng được quan tâm đúng mức, có nhiều

cơng trình nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và cung cấp căn cứ

khoa học cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và tổ

chức chỉ đạo thực hiện. Trong thời kỳ này Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương đã

đào tạo 43.075 cán bộ cho các ngành, các mặt trận và địa phương.

1.1.4. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc trong thời kỳ đầu cả nước quá độ lên

chủ nghĩa xã hội (1975 – 1986)

Sau khi miền Nam được hồn tồn giải phóng, tháng 9/1975, Ban Chấp hành

Trung ương Đảng (khoá III) họp Hội nghị lần thứ 24, đề ra nhiệm vụ trước mắt là

thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn mới đặt ra cho sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu

khoa học của trường Đảng những nhiệm vụ mới hết sức khẩn trương với quy mơ

lớn.

8



Ban Bí thư Trung ương khoá IV đã ra quyết định thành lập cơ sở 2 của

trường tại thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

từ tháng 2/1978.

Ngày 01/10/1978, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 54/CT-TW "về nhiệm vụ của

Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn mới". Trung ương đặt rõ

nhiệm vụ cơ bản của trường: Một là, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao, trung cấp về lý

luận chính trị; hai là, nghiên cứu lý luận nhằm làm tốt việc giảng dạy, đồng thời

góp phần vào cơng tác lý luận chung của Đảng.

Ngày 5/3/1982, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 06-CT/TW về

công tác đào tạo cán bộ lý luận ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

Ngày 20/6/1983 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 163-CT về

việc đưa công tác đào tạo ở trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc vào quy chế đại

học và trên đại học.

1.1.5. Học viện Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986

– 1993)

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện

đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhằm đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp giáo dục, đào tạo cán bộ lãnh đạo

và quản lý trung cao cấp, cán bộ làm công tác lý luận trong thời kỳ đầu của cuộc

đổi mới, ngày 22/7/1986, Bộ Chính trị khóa VII ra Nghị quyết số 34/NQ-TW

chuyển trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc thành Học viện Khoa học xã hội

mang tên Nguyễn Ái Quốc trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản

Việt Nam (gọi tắt là Học viện Nguyễn Ái Quốc).

Từ năm 1987, hệ đào tạo nghiên cứu sinh của Học viện bắt đầu bảo vệ luận

án tiến sĩ theo quy chế nhà nước. Quy mô hệ đào tạo cơ bản hai năm và đào tạo

thạc sĩ tăng lên. Hệ đào tạo học viên quốc tế được hình thành cùng với việc thành

9



lập Ban Quốc tế phụ trách công tác hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm nghiên

cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các đảng, các nước bạn.

Đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu được bổ sung, nâng cao về trình độ

khoa học và chất lượng cơng tác. Đầu năm 1989, Học viện đã có 25 giáo sư và phó

giáo sư, 38 phó tiến sĩ.

1.1.6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong thời kỳ cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước (từ 1993 đến nay)

Ngày 10/3/1993 Bộ Chính trị khóa VII ra Quyết định số 61/QĐ-TW “Về

việc sắp xếp lại các trường Đảng Trung ương chuyển thành Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh”. Quyết định của Bộ chính trị xác định rõ: "Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng và Chính

phủ là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học về lý luận

chính trị của Đảng và Nhà nước". Theo quyết định này, các Trường Nguyễn Ái

Quốc khu vực I, II, III trực thuộc Trung ương trước đây, được chuyển thành Phân

viện Hà Nội, Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh, Phân viện Đà Nẵng và Trường

Đại học Tuyên giáo trực thuộc Ban tuyên giáo Trung ương chuyển thành Phân viện

Báo chí và Tuyền truyền trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Ngày 22/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/CP, xác định ghi rõ:

“Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Chính phủ”. Học

viện đặt tại Hà Nội, có các Phân viện Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

và Phân viện Báo chí - Tuyên truyền.

Để tăng cường tiềm lực cả về số lượng và chất lượng cho công tác giáo dục,

đào tạo và nghiên cứu khoa học trong giai đoạn mới, ngày 30/10/1996 Bộ Chính trị

ra Quyết định số 07/QĐ-TW hợp nhất Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, lấy tên là Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Sau hợp nhất, ngày 20/10/1999, Bộ Chính trị

10



ra Quyết định 67/QĐ-TW “Về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”. Theo Quyết định này Học viện là trung tâm

quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng thời là trung tâm quốc gia về nghiên

cứu khoa học của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Ngày 04/02/1997, Bộ Chính trị ban hành quyết định số 166/QĐNS/TW

thành lập Ban Cán sự Đảng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh để thay mặt

Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và

các hoạt động khác của hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Ngày 03/02/2004, Ban Cán sự Đảng Học viện ra Nghị quyết số 04/NQ-BCS

về “Một số chủ trương và giải pháp trước mắt nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”. Triển khai

thực hiện nghị quyết của Ban Cán sự Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh ra Quyết định số 80/QĐ-HVCTQG ngày 19/2/2004 và quyết định số

685/QĐ-HVCTQG ngày 10/4/2006, cụ thể hoá các mục tiêu, bước đi và biện pháp

thực hiện nội dung Nghị quyết Ban Cán sự Đảng trong toàn hệ thống Học viện, đặc

biệt coi trọng hai nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nghị quyết của Ban

Cán sự Đảng và các quyết định nói trên của Giám đốc Học viện đã tạo ra một bước

chuyển biến mới ở Học viện.

Ngày 17/5/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2006/NĐCP về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Điều 1 Nghị định ghi rõ: Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp thuộc Chính phủ, là đơn

vị tài chính cấp I.

Ngày 06/01/2014, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban

hành Quyết định số 224-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Theo Quyết định này, Học viện Hành chính

trực thuộc Bộ Nội vụ, đồng thời Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh đổi tên thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

11



1.2. Tìm hiểu về viện Quan hệ Quốc tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

1.2.1. Cơ cấu tổ chức

Lãnh đạo Viện



+ PGS,TS. Phan Văn Rân: Viện trưởng

+ PGS,TS. Thái Văn Long: Phó Viện trưởng



Cán bộ, công chức của Viện



+ 19 cán bộ, công chức; trong đó có: 4 Phó

giáo sư, 3 tiến sĩ, 7 thạc sĩ, 5 cử nhân.



Các đơn vị trực thuộc



+ Ban Quan hệ quốc tế và Chính sách đối

ngoại của Đảng, Nhà nước.

+ Ban Lịch sử phong trào cộng sản, công

nhân quốc tế.

+ Ban Địa chính trị thế giới.

+ Phòng Hành chính - Tổng hợp.



1.2.2. Vị trí, chức năng

Viện Quan hệ quốc tế là đơn vị trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh (gọi tắt là Học viện).

Viện Quan hệ quốc tế thực hiện các chức năng: Giảng dạy về quan hệ quốc

tế, địa - chính trị thế giới, lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải

phóng dân tộc, nghiệp vụ ngoại giao trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của

Học viện Trung tâm; nghiên cứu các vấn đề về chính trị quốc tế và chính sách đối

ngoại của Đảng và Nhà nước phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và



12



góp phần vào việc hoạch định đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của

Nhà nước.

1.2.3. Nhiệm vụ

1. Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

a) Tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc các hệ lớp theo kế hoạch của

Giám đốc Học viện.

b) Đào tạo sau đại học các chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Lịch sử phong

trào cộng sản, cơng nhân quốc tế và giải phóng dân tộc.

c) Bồi dưỡng kiến thức và phương pháp nghiên cứu, giảng dạy các chuyên

ngành Quan hệ quốc tế, lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, địa - chính

trị thế giới.

2. Về nghiên cứu khoa học:

a) Nghiên cứu các vấn đề quan hệ quốc tế, địa - chính trị thế giới, phong trào

cộng sản và công nhân quốc tế, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà

nước nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy các chuyên ngành Quan

hệ quốc tế, lịch sử phong trào cộng sản, cơng nhân quốc tế, địa - chính trị thế giới,

góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, hồn thiện đường lối,

chính sách của Đảng và Nhà nước, đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai

trái, góp phần tích cực vào cơng tác tư tưởng của Đảng.

b) Nghiên cứu xây dựng chương trình, nội dung, tổ chức biên soạn, chỉnh lý

các giáo trình, tài liệu học tập và tài liệu tham khảo về các môn học Quan hệ quốc

tế, Lịch sử phong trào cộng sản, cơng nhân quốc tế, Địa - chính trị thế giới, Nghiệp

vụ ngoại giao.



13



3. Thông tin và công bố các kết quả nghiên cứu khoa học về quan hệ quốc tế, lịch

sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc, địa - chính trị thế

giới trên bản tin khoa học theo quy định của pháp luật và của Giám đốc Học viện.

4. Tham mưu cho Giám đốc Học viện về chương trình, nội dung, đào tạo, bồi

dưỡng, nghiên cứu khoa học về quan hệ quốc tế; lịch sử phong trào cộng sản, công

nhân quốc tế và giải phóng dân tộc; địa - chính trị thế giới; Nghiệp vụ ngoại giao.

5. Hướng dẫn về nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa

học trên lĩnh vực quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước cho

đội ngũ giảng viên của Học viện, các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương và các trường bồi dưỡng cán bộ các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương.

6. Hợp tác với các tổ chức trong nước và nước ngoài trong nghiên cứu, đào tạo về

quan hệ quốc tế theo quy định của pháp luật và của Giám đốc Học viện.

7. Quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Viện về mọi mặt;

thực hiện chế độ, chính sách, công tác thi đua - khen thưởng và kỷ luật đối với cán

bộ, công chức, viên chức, người lao động của Viện theo thẩm quyền; thực hiện

phòng và chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong đơn vị theo quy định của

pháp luật; quản lý tài chính và tài sản theo phân cấp của Giám đốc Học viện.

8. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Học viện giao.



14



1.2.4. Thành tích, khen thưởng

+ Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2003)

+ Huân chương Lao động hạng Nhì (2009)

+ Huân chương Hữu nghị Lao động hạng Nhì của Cộng hòa Dân chủ Nhân

dân Lào (2009)

+ 03 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (năm 2001, 2008, 2013)

+ Cờ Thi đua của Chính phủ (2012)

+ Danh hiệu Tập thể lao đông xuất sắc (năm học 2006 - 2007, 2007 - 2008,

2008 - 2009, 2009 - 2010, 2010 - 2011)

+ Cờ “Đơn vị Tiêu biểu xuất sắc” năm học 2007 - 2008, Cờ “Đơn vị đạt

danh hiệu thi đua Tiêu biểu xuất sắc” năm học 2011 - 2012, Danh hiệu Điển hình

Tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước của Học viện (2013).

+ Danh hiệu “5 năm liền đạt danh hiệu “Chi bộ trong sạch vững mạnh”” (từ

1998 - 2003); Danh hiệu “5 năm liền đạt danh hiệu “Chi bộ trong sạch vững

mạnh”” (từ 2007 - 2011)

+ Danh hiệu “5 năm liền đạt danh hiệu “Cơng đồn tiên tiến, xuất sắc”” (từ

năm học 2006 - 2007 đến năm học 2010 - 2011)

+ Bằng khen của Cơng đồn cơng chức Việt Nam về thành tích xuất sắc

trong phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” năm 2011, Bằng khen của

Cơng đồn cơng chức Việt Nam về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây

dựng cơ quan và tổ chức Cơng đồn vững mạnh năm học 2011 - 2012.



15



CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KIẾN TẬP TẠI VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

2.1. Thời gian kiến tập

- Từ ngày 12/03/2018 đến ngày 06/04/2018.

2.2. Nhật trình kiến tập

STT



Thời gian



1



Ngày 1

Thứ hai (12/3/2018)

Sáng: 7h30 - 11h30



Hoạt động



Đánh giá



Làm quen với các cán bộ Sau ngày đầu

tại Viện;



tiên



đã nắm



Giới thiệu bản thân;



được các quy



Tìm hiểu tổng quan Viện, định làm việc

các quy định làm việc.

2



Ngày 2

Thứ ba (13/3/2018)

Sáng: 7h30 - 11h30



tại Viện



Tìm hiểu cơng việc của Hiểu thêm về

Viện;



các vị trí cơng



Tìm hiểu cơng việc liên việc cụ thể tại

quan đến Thông tin đối Viện.

ngoại;



Bước đầu làm



Làm quen với các nghiệp quen vẫn còn

vụ tại văn phòng và bắt chưa

đầu học các nghiệp vụ việc.

đơn giản.



16



quen



Ghi chú



3



Ngày 3

Thứ tư (14/3/2018)

Sáng: 7h30 - 11h30



Thực hành các nghiệp vụ Vẫn



còn



sự



đơn giản dưới sự giám sát lúng túng khi

của giáo viên hướng dẫn;



tiến hành các



Đi đến Thư viện Quốc công việc được

gia để lấy thêm tư liệu;

4



Ngày 4

Thứ năm (15/3/2018)

Chiều: 13h30 - 17h30



giao



Thực hành các nghiệp vụ Đã



bắt



đầu



đơn giản dưới sự giám sát quen dần với

của giáo viên hướng dẫn;



các nghiệp vụ

được giao



5



Ngày 5



Thực hành các nghiệp vụ



Thứ sáu (16/3/2018)



đơn giản dưới sự giám sát



Sáng: 7h30 - 11h30



của giáo viên hướng dẫn;

Đi đến Thư viện Quốc

gia để lấy thêm tư liệu;



6



Ngày 6



Nhận đề tài kiến tập từ Tiến hành họp



Thứ bảy (17/3/2018)



giáo viên hướng dẫn (qua nhóm sau khi

mail)



7



nhận đề tài



Ngày 7



Tìm kiếm tài liệu, lấy Đề tài ít tài



Chủ nhật (18/3/2018)



thông tin phục vụ cho đề liệu và có phần

tài. (tại nhà)



quá sức đối với

bản thân



8



Ngày 8



Gặp giảng viên hướng



Xin đổi đề



Thứ hai (19/3/2018)



dẫn để xin hướng dẫn



tài kiến tập



cách làm đề tài



khác.



Sáng 7h30 – 11h30



9



Ngày 9



Tìm kiếm tài liệu, lấy Thực hiện tìm



Thứ ba (20/3/2018)

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ - HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×