Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn cuối khóa



-



Học viện tài chính



Vốn phải vận động để sinh lời. Vốn biểu hiện bằng tiền nhưng tiền



chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để trở thành vốn thì tiền phải được vận động

sinh lời nghĩa là tiền chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh

doanh. Trong q trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện,

nhưng ban đầu và kết thúc vòng tuần hồn đều là hình thái tiền tệ.

-



Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có



thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

-



Vốn có giá trị về mặt thời gian, nghĩa là đồng vốn tại các thời điểm



khác nhau có giá trị khơng giống nhau. Sở dĩ có sự khác nhau này là do ảnh

hưởng của các yếu tố như : lạm phát, lãi suất …

-



Vốn là loại hàng hoá đặc biệt : Khi sử dụng “hàng hoá” vốn sẽ tạo



ra một giá trị lớn hơn. “Hàng hoá” vốn được mua bán trên thị trường dưới hình

thức mua bán quyền sử dụng vốn. Giá mua chính là lãi tiền vay mà người vay

vốn phải trả cho người cho vay vốn để có quyền sử dụng lượng vốn đó.

-



Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: Đơi khi có sự tách biệt giữa



quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn nên người sử dụng và chủ sở hữu vốn

không phải là một. Điều này càng được thể hiện rõ nét trong điều kiện hiện nay,

khi mà hệ thống ngân hàng phát triển rất mạnh mẽ.

1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh trong doanh nghiệp

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình sản xuất

kinh doanh, VKD được chia thành: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ)

1.1.3.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp





Lê Thị Ngọc Thúy



Khái niệm vốn lưu động



4



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường

xun liên tục, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất

định. Do đó, để hình thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số

vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn tiền tệ này được gọi là

vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các

TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực

hiện thường xuyên liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngày

trong một lần và được thu hồi tồn bộ, hồn thành một vòng ln chuyển khi

kết thúc một chu kì kinh doanh

Đặc điểm của vốn lưu động:





-



Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển ln thay đổi hình thái



biểu hiện.

-



Vốn lưu động dịch chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá trị sản



phẩm mới được tạo ra và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kì kinh doanh.

-



Vốn lưu động hồn thành một vòng ln chuyển sau một chu kì



kinh doanh khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng.

Những đặc điểm này của vốn lưu động là do chịu sự chi phối của các đặc

điểm của TSLĐ là tham gia vào từng chu kì sản xuất, bị tiêu dùng trong việc

chế tạo ra sản phẩm và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.

Phân loại vốn lưu động







Phân loại vốn lưu động là việc chia vốn lưu động ra thành các nhóm khác

nhau theo những tiêu thức nhất định.

-



Phân loại theo hình thái biểu hiện.



Theo cách phân loại này, vốn lưu động bao gồm:



Lê Thị Ngọc Thúy



5



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính







Vốn bằng tiền và các khoản phải thu







Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền



đang chuyển. Tiền là tài sản lưu động có tính thanh khoản cao, có thể chuyển

đổi thành các tài sản khác và trả nợ. Do đó mỗi doanh nghiệp cần phải có một

lượng tiền tệ nhất định.





Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng,



khoản ứng trước cho người bán.





Vốn về hàng tồn kho



Gồm vốn về vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm.

Việc phân loại vốn theo cách này tạo điều kiện tuận lợi cho việc xem xét

đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh tốn của doanh nghiệp. Ngồi

ra, dựa vào cách phân loại này còn có thể tìm ra biện pháp phát huy chức năng

các thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện

để định hướng điều chỉnh hợp lý, hiệu quả.

-



Phân loại theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất



kinh doanh

Dựa theo căn cứ này thì vốn lưu động bao gồm:

+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất

+ Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất

+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông

Phương pháp phân loại này cho phép biết được kết cấu vốn lưu động theo

vai trò. Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các

khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn

đối với q trình kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lí



Lê Thị Ngọc Thúy



6



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng được tốc độ luân

chuyển vốn lưu động.

Nội dung quản lí vốn lưu động





-



Tổ chức đảm bảo VLĐ







Xác định nhu cầu



VLĐ hợp lí : Việc xác định nhu cầu VLĐ có ý nghĩa quan trọng . Bởi vì nếu

nhu cầu vốn lưu động xác định q thấp sẽ gây ra nhiều khó khăn cho cơng tác

tổ chức đảm bảo vốn, gây căng thẳng giả tạo về vốn, làm gián đoạn q trình

sản xuất của Cơng ty. Còn nếu xác định cao hơn so với thực tế thì lại gây ra

lãng phí vốn, vốn chậm ln chuyển. Công ty cần xác định nhu cầu vốn hợp lý,

sát với thực tế cho hoạt động sản xuất kinh doanh.





Tổ chức nguồn tài



trợ VLĐ: Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục

thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nằm trong các giai đoạn luân chuyển từ

khâu dự trữ đến lưu thông như NVL, thành phẩm, khoản phải thu... Các TSLĐ

này gọi là TSLĐ thường xuyên. Tuy nhiên trong hoạt động kinh doanh có

những thời điểm làm nảy sinh thêm nhu cầu VLĐ, bộ phận tăng thêm này gọi là

TSLĐ tạm thời. Hiện nay một doanh nghiệp thường sử dụng chủ yếu 3 mơ

hình tài trợ sau:





Toàn



bộ



TSLĐ



thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm

thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời





Toàn



bộ



TSLĐ



thường xuyên và một phần TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn



Lê Thị Ngọc Thúy



7



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



thường xun, một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn

tạm thời.





Một



phần



TSLĐ



thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần

TSLĐ thường xun và tồn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn

tạm thời.

Trong từng điều kiện doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt các chính

sách tài trợ.

-



Quản lí và sử dụng VLĐ : Cần tổ chức tốt q trình sản xuất và đẩy



mạng cơng tác tiêu thụ sản phẩm, tìm hiểu, nắm bắt đặc điểm tiêu thu của thị

trường, từ đó xác định kết cấu hợp lí các mặt hàng, nguồn cung cấp và giá cả.





Đối với tiền và các khoản tương đương tiền: Cần quản lí chặt chẽ



các khoản tiền mặt, xác định mức tồn trữ tiền mặt hợp lí, đảm bảo khả năng

thanh toán cho doanh nghiệp…





Đối với hàng tồn kho, cần xây dựng định mức vật tư, xác định mức tồn



trữ hợp lí, thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường vật tư, tổ chức tốt việc

dữ trữ, bảo quản vật , hàng hóa, lựa chọn người cung ứng phù hợp…





Đối với các khoản phải thu: Cần mở sổ theo dõi các khoản phải thu



trong và ngoài doanh nghiệp, chuẩn bị sẵn các chứng từ cần thiết đối với các

khoản nợ sắp đến kì hạn thanh tốn, thực hiện các biện pháp kịp thời thu hồi

các khoản nợ đến hạn. Chủ động áp dụng các biện pháp tích cực và thích hợp

thu hồi các khoản nợ qúa hạn…





Chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro, bảo tồn vốn



kinh doanh: mua bảo hiểm, trích lập quỹ dự phòng tài chính, dự phòng giảm giá

hàng tồn kho…

Lê Thị Ngọc Thúy



8



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



1.3.1.2 Vốn cố định của doanh nghiệp

Khái niệm vốn cố định







Để hình thành các TSCĐ đòi hỏi doanh nghiệ p phải ứng trước một

lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là VCĐ của doanh

nghiệp. VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ

mà có đặc điểm là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kì sản xuất

và hồn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.





Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định



VCĐ là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, trang bị TSCĐ

nên quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô TSCĐ. Song ngược lại, những

đặc điểm kinh tế kĩ thuật của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại chi phối đến

đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Có thể khái quát đặc điểm chu

chuyển chủ yếu của VCĐ trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như

sau:

-



VCĐ tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh mới hồn



thành một vòng chu chuyển.

-



VCĐ chu chuyển giá trị dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm



trong các chu kì sản xuất kinh doanh dưới hình thức khấu hao, tương ứng với

phần hao mòn TSCĐ.

-



Sau nhiều chu kì sản xuất VCĐ mới hồn thành một vòng ln



chuyển. Sau mỗi chu kì sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản

phẩm dần dần tăng lên, phần giá trị còn lại giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết

hạn sử dụng, giá trị của nó được chuyển hết vào giá trị sản phẩm thì VCĐ mới

hồn thành một vòng luân chuyển.



Lê Thị Ngọc Thúy



9



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



Dựa vào những đặc điểm ln chuyển của VCĐ đòi hỏi việc quản lí VCĐ

phải kết hợp giữa quản lí theo giá trị và quản lí hình thái biểu hiện vật chất của

nó – chính là các TSCĐ của doanh nghiệp





Nội dung quản lí VCĐ



-



Quản lí TSCĐ



Tư liệu lao động phải thỏa mãn 2 tiêu chuẩn sau được ghi nhận là TSCĐ

+ Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên

+ Tiêu chuẩn về giá trị: Theo thông tư 203, giá trị tối thiểu là 10 triệu

đồng.

Như vậy quản lí TSCĐ bao gồm đồng thời quản lí về hiện vật và quản lí về

mặt giá trị. Thực hiện tốt việc phân cấp quản lí TSCĐ huy động tối đa tài sản

hiện có vào hoạt động kinh doanh góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn:

-



Quản lí về hiện vật







Cần lập hồ sơ, đánh số, mở sổ quản lí theo dõi đối với từng tài sản,



theo nguyên tắc mỗi TSCĐ phải có cá nhân hoặc bộ phận chịu trách nhiệm

quản lí, sử dụng. Thường xuyên kiểm tra, giám sát được tình hình sử dụng tài

sản để có biện pháp huy động cao độ tài sản hiện có vào hoạt động kinh doanh.





Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ khơng để tình



trạng hư hỏng bất thường làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh

nghiệp chủ động và có trách nhiệm tiến hành nhượng bán, thanh lí TSCĐ

khơng dùng hoặc lạc hậu, hư hỏng hoặc đã khấu hao hết để nhanh chóng thu

hồi vốn.





Cần chú trọng đến cơng tác đổi mới trang thiết bị, phương pháp



công nghệ một cách kịp thời và thích hợp để tăng cường khả năng cạnh tranh

của doanh nghiệp.



Lê Thị Ngọc Thúy



10



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa







Học viện tài chính



Khấu hao TSCĐ và quản lí sử dụng quĩ khấu hao



Mục đích của việc trích khấu hao là nhằm thu hồi lại vốn giá trị TSCĐ

do sự hao mòn nhằm tái sản xuất ra TSCĐ. Doanh nghiệp cần phải lựa chọn

phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lí làm cơ sở cho việc thu hồi đầy

đủ và kịp thời vốn đầu tư ứng trước vào tài sản cố định. Bên cạnh đó, cần đánh

giá và đánh giá lại tài sản cố định để có điều chỉnh kịp thời giá trị TSCĐ để tạo

điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, khơng để mất vốn. Do đó quản lí

quĩ khấu hao hiệu quả khơng chỉ góp phần tái sản xuất giản đơn mà còn có thể

tái sản xuất mở rộng TSCĐ.

1.1.4. Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp thì

các nhà quản lí cần phải nẳm rõ nguồn hình thành VKD, từ đó có phương án

huy động, biện pháp quản lí sử dụng thích hợp đem lại hiệu quả cao. Tùy từng

tiêu thức nhất định mà nguồn VKD của doanh nghiệp được chia thành các loại

khác nhau.

1.1.4.1. Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn

Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai

loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

-



Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh



nghiệp, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh

doanh. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà VCSH là vốn nhà nước đối

với doanh nghiệp Nhà nước, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và từ các

quỹ của doanh nghiệp. Đặc điểm của nguồn vốn chủ sở hữu là khơng có thời



Lê Thị Ngọc Thúy



11



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



gian đáo hạn, có độ an tồn cao, lợi nhuận chi trả phụ thuộc vào hiệu quả kinh

doanh và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.

-



Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp



có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: nợ vay, các

khoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh

nghiệp…Nợ phải trả có thể là nợ phải trả ngắn hạn, nợ phải trả dài hạn

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường

một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải

trả.Sự kết hợp hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh

nghiệp hoạt động, và quyết định của người quản lí. Nhận thức được từng loại

vốn sẽ giúp doanh nghiệp tìm được biện pháp tổ chức quản lí, sử dụng vốn hợp

lí. Đồng thời có thể tính tốn để tìm ra kết cấu vốn hợp lí với chi phí sử dụng

vốn thấp nhất.

1.1.4.2. Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn

Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra làm

hai loại:

-



Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn có tính chất ổn



định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn này

thường dùng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu

động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn

-



Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn



doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các u cầu có tính chất tạm thời phát

sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này thường bao

gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản chiếm dụng

Lê Thị Ngọc Thúy



12



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



hợp pháp như các khoản phải trả cho người bán, khoản phải trả cho người lao

động, khoản trả trước cho người bán.

Phương pháp phân loại này giúp cho các nhà quản lí xem xét huy động

các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá

trình kinh doanh đáp ứng đầy đủ kịp thời VKD và góp phần nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn của doanh nghiệp.

1.1.4.3. Phân loại theo phạm vi huy động vốn

Căn cứ theo phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể

chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài :

-



Nguồn vốn bên trong: Là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu



tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. Nguồn vốn bên trong

thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Nguồn vốn này có ý nghĩa rất

lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm lợi nhuận

sau thuế giữ lại để tái đầu tư, khoản khấu hao tài sản cố định, tiền nhượng bán

tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ.

-



Nguồn vốn bên ngoài: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy



động từ bên ngồi đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Bao

gồm vay của người thân, vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính

khác, nhận vốn góp liên doanh liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp,

thuê tài sản, huy động vốn bằng phát hành chứng khốn.

Việc huy động vốn từ bên ngồi, nó sẽ làm khuếch đại lợi nhuận sau thuế

cho doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và tỉ suất sinh lời

kinh tế trên vốn kinh doanh lớn hơn chi phí sử dụng vốn.

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH



Lê Thị Ngọc Thúy



13



CQ45/11.11



Luận văn cuối khóa



Học viện tài chính



1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai

thác, sử dụng và quản lí nguồn lực vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng có tính quyết định đến sự

tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nghĩa là với một lượng

vốn nhất định sẽ tạo ra được nhiều doanh thu, lợi nhuận hơn; hoặc doanh thu và

lợi nhuận không thay đổi nhưng lượng vốn ứng ra thấp hơn. Nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn là biện pháp để bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đang là vấn đề rất bức thiết đối với

mọi doanh nghiệp. Sự cần thiết này xuất phát từ những lí do sau:





Xuất phát từ vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh



Vốn là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh

nghiệp. Nếu khơng có vốn thì doanh nghiệp khơng thể tồn tại được, nếu thiếu

vốn gây khó khăn, làm gián đoạn sản xuất và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.

Vốn khơng được bảo tồn và phát triển tức là mục tiêu đầu tư vốn không đạt

được. Không tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới thiết bị

công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp trên thị trường, từ đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Đòi hỏi các

doanh nghiệp phải tìm các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.





Xuất phát từ thực tế sử dụng vốn của nhiều doanh nghiệp hiện nay



Trong thời kì bao cấp, nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu là do nhà

nước cấp phát, không phải chịu trách nhiệm về số vốn doanh nghiệp đã sử

dụng, làm cho vai trò của tài chính trở nên mờ nhạt.



Lê Thị Ngọc Thúy



14



CQ45/11.11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×