Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng

tiền của tồn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ

ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh

có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi

là chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp ngồi việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sản

phẩm. Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí

nhất định như: Chi phí về bao gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bảo quản.

Ngồi ra để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho người tiêu dùng, cũng như để

hướng dẫn người tiêu dùng hoặc thăm dò khảo sát thị trường nhằm đề ra những

quyết định có tính chất tối ưu đối với việc sản xuất thì doanh nghiệp cũng phải

bỏ ra các chi phí về nghiên cứu, tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu hay bảo hành sản

phẩm.

Ngoài những chi phí sản xuất và chi phí sinh hoạt, trong quá trình hoạt

động của doanh nghiệp còn bỏ ra những khoản chi phí phục vụ cho những hoạt

động của bộ máy quản lý doanh nghiệp có liên quan đến q trình kinh doanh.

Như vậy, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí sản xuất kinh

doanh của một doanh nghiệp là tồn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản

phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh

doanh và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt

động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.

Để đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh tốt đòi hỏi doanh nghiệp

cần phải có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bù đắp, trang trải được tồn bộ

chi phí kinh doanh và thu được lợi nhuận cao. Điều này cho thấy không phải

khoản mục chi phí nào cũng được đưa vào chi phí hoạt động mà chúng ta phải

xét đến tính chất, đặc điểm của nó.



5



Chi phí kinh doanh là một chỉ tiêu quan trọng. Qua xem xét chỉ tiêu này có

thể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm

chi phí của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận

mà lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh, mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp.

Vì vậy, các doanh nghiệp phải ln quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí, bởi lẽ

mỗi đồng chi phí khơng hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm, giảm lợi nhuận

của doanh nghiệp. Do đó hạ thấp chi phí kinh doanh là một điều kiện để doanh

nghiệp đạt được mục tiêu của mình và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên của

doanh nghiệp.

b. Đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp kinh doanh khác nhau thì đối tượng tập hợp chi phí

sản xuất là khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà chi

phí cần tập hợp nhằm phục vụ cho việc thông tin kiểm tra chi phí và tính giá

thành sản phẩm .

Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần thiết cho cơng tác

hạch tốn kế tốn chi phí sản xuất sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình

hoạt động sản xuất, đặc điểm quy trình sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý

chi phí của doanh nghiệp. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức

tài khoản và mở sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế tốn chi phí đã

xác định.

Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành sản xuất

nói chung và trong kinh doanh xây lắp nói riêng thường căn cứ vào:

- Đặc điểm quy trình cơng nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản

xuất sản phẩm là giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song)

- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt)

- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .

- Đặc điểm tổ chưc bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý ).

- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất là quá trình sản xuất thi cơng của các doanh nghiệp

XDCB có những đặc điểm riêng so với những ngành nghề khác nên đối tượng

6



kế tốn chi phí sản xuất thường được xác định là từng cơng trình, bộ phận thi

cơng hay đơn đặt hàng.

Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thường tập hợp chi phí

theo cơng trình hoặc hạng mục cơng trình.

Việc xác định đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần

thiết và quan trọng của cơng tác kế tốn tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định

đúng đối tượng hạch tốn, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù

hợp với đặc điểm tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức

tốt cơng tác chi phí.

1.1.1.2. Phân loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

Chi phí phải trả trong năm tài chính bao gồm nhiều khoản chi phí. Các chi

phí này khác nhau về nội dung kinh doanh, tính chất của chi phí, vai trò của nó

trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Để tạo điều kiện cho cơng tác quản lý và

hạch tốn chi phí tính giá thành sản phẩm từ đó tính đúng kết quả từng loại hoạt

động kinh doanh thì việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo các tiêu

thức là rất cần thiết.

Để phân loại chi phí sản xuất người ta có rất nhiều tiêu thức khác nhau

nhưng về mặt cơ bản người ta dùng ba tiêu thức chủ yếu:

Một là, phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung, tính chất

kinh tế.

Theo cách phân loại này chi phí chia thành các yếu tố khác nhau, mỗi yếu

tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí cùng một nội dung kính tế khơng phân biệt

chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào. Theo cách phân loại này, tồn bộ chi phí sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành 5 loại:

 Chi phí vật tư mua ngoài là toàn bộ giá trị vật tư mua ngoài dùng vào

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu

chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…



7



 Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương là tồn bộ các khoản

tiền lương, tiền công doanh nghiệp phải trả cho những người tham gia vào hoạt

động sản xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí

BHXH, BHYT, KPCĐ mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.

 Chi phí khấu hao tài sản cố định là toàn bộ số tiền khấu hao các loại

tài sản cố định trích trong kỳ.

 Chi phí dịch vụ mua ngồi là tồn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả

cho các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các

đơn vị khác ở bên ngoài cung cấp như: dịch vụ điện, nước…

 Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí bằng tiền ngồi các khoản

đã nêu trên.

Phân loại các chi phí của doanh nghiệp thành các yếu tố chi phí như trên

có ý nghĩa lớn trong quản lý chi phí. Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại

chi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự tốn chi phí sản xuất theo

yếu tố ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập

dự tốn chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính

tốn nhu cầu vốn đầu tư cho kỳ sau.

Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích cơng dụng của chi phí.

Cách phân loại này dựa vào mục đích cơng dụng của chi phí nơi phát sinh

chi phí và nơi gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoản

mục khác nhau. Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất được chia

thành:

 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu,

nhiên liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa

dịch vụ.



8



 Chi phí nhân cơng trực tiếp là tồn bộ các khoản tiền lương, tiền cơng,

các khoản phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của

nhân công trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp.

 Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí được sử dụng ở các phân

xưởng, bộ phận kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc,

nhân viên phân xưởng, chi phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí

vât liệu, cơng cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngồi, chi phí bằng tiền phát sinh

ỏ phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất.

 Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong q trình tiêu

thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí tiền lương, phụ cấp trả lương cho

công nhân bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao

phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngồi, các

chi phí bằng tiền khác (như: Bảo hành sản phẩm, quảng cáo).

 Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lý

doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như:

Khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí cơng cụ dụng cụ,

các chi phí khác phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp (như: Tiền lương và

các khoản phụ cấp lương trả cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên các

phòng ban quản lý), chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí,

bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngồi thuộc văn phòng doanh nghiệp. Các khoản

chi phí dự phòng giảm gía hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, cơng tác

phí, các chi phí giao dịch, đối ngoại…

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính

gía thành cho từng loại sản phẩm, quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai

thác khả năng hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

Ba là, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mơ sản

xuất kinh doanh

9



Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

được chia thành hai loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi.

 Chi phí cố định: Là các chi phí khơng thay đổi (hoặc thay đổi không

đáng kể) theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thuộc

loại chi phí này bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định (theo thời gian); chi

phí tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả,

chi phí cho th tài chính, văn phòng.

 Chi phí biến đổi: Là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi

của quy mô sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu,

chi phí tiền lương cơng nhân trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch

vụ được cung cấp (như: Tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…)

Do đặc điểm của từng loại chi phí nêu trên khi quy mơ sản xuất kinh

doanh càng tăng thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá,

dịch vụ càng giảm. Riêng đối với chi phí biến đổi, việc tăng hoặc giảm hay

khơng thay đổi khi tính chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào

tương quan biến đổi giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi

của doanh nghiệp.

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi

của từng loại chi phí theo quy mơ kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác

định được sản lượng hồ vốn cũng như quy mơ kinh doanh hợp lý để đạt được

hiệu quả cao nhất.

1.1.2.Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của giá thành sản phẩm

Trong sản xuất kinh doanh chí phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí

đã chi ra. Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phí

phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ

bản trong q trình sản xuất. Đó là, kết quả sản xuất thu được biểu hiện dưới

10



hình thái tiền tệ, quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu “Giá thành sản

phẩm”.

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền tồn bộ chi phí của doanh

nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm

hay một khối lượng sản phẩm nhất định.

Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độ

quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Chính vì vậy mà giá

thành sản phẩm mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp.

Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm có

một ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:

 Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,

là căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn lựa chọn sản xuất một

loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường,

gía cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy

mới xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định

khối lượng sản xuất tối ưu.

 Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm sốt

tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ

chức, kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp

có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát hiện và tìm ra

các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí khơng hợp lý để có biện pháp loại trừ.

 Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng

chính sách giá cả đối với từng loại sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có đủ sức

cạnh tranh trên thị trường.

1.1.2.2. Các loại giá thành sản phẩm

Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành

sản xuất sản phẩm và giá thành toàn bộ.

11



Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ bao gồm:

 Chi phí vật tư trực tiếp

 Chi phí nhân cơng trực tiếp

 Chi phí sản xuất chung

Giá thành tồn bộ sản phẩm đã tiêu thụ gồm tồn bộ chi phí liên quan đến

quá trình sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định gồm:

 Giá thành sản xuất của sản phẩm

 Chi phí bán hàng

 Chi phí quản lý doanh nghiệp

Đứng trên góc độ kế hoạch hố, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp còn

được chia thành:

 Giá thành kế hoạch: Việc xác định gía thành kế hoạch được xây

dựng trước khi bước vào chu kỳ sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch

được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấu

của doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh gía tình hình thực hiện kế hoạch

giá thành, kế hoạch hạ gía thành của doanh nghiệp.

 Giá thành định mức: Được thực hiện trước khi tiến hành sản

xuất chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức được tính trên cơ sở các chi phí hiện

hành và chi phí đơn vị sản phẩm. Nó là công cụ quản lý định mức của doanh

nghiệp, là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, vật tư, lao

động trong sản xuất giúp cho việc đánh gía đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ

thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm

nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

 Giá thành thực tế: Được xác định khi q trình sản xuất, chế tạo

sản phẩm đã hồn thành và được xác định trên cơ sở lượng chi phí sản xuất thực

tế đã phát sinh trong kỳ. Giá thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của



12



doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Nó là cơ sở để

xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ để

xây dựng giá thành kế hoạch cho kỳ sau, đảm bảo cho giá thành kế hoạch ngày

càng sát thực và hợp lý.

1.1.2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.

*Phương pháp thứ nhất: Phương pháp tính giá thành giản đơn :

Phương pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là phương pháp tính trực tiếp

phương pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm, cơng việc có quy trình

cơng nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất

ngắn và xen kẽ liên tục, đối tượng tính giá thành tương ứng phù hợp với đối

tượng kế toán tập hợp CPSX, kỳ tính giá thành định kỳ hàng tháng (quý) phù

hợp với kỳ báo cáo . Ví dụ tính giá thành sản phẩm điện, nước, bánh kẹo, than

quặng, kim loại ... .

Trường hợp cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dang & không ổn định, cần tổ

chức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phương pháp thích hợp. Trên cơ

sở số liệu CPSX đã tập hợp trong kỳ & chi phí của sản phẩm dở dang đã xác

định, tính giá thành sản phẩm hồn thành cho từng khoản mục chi phí theo cơng

Z

thức:

Z = C + Dđk - Dck

Giá thành đơn vị sản phẩm tính như sau: z=



Q



Trong đó:

Z, z: Tổng giá thành đơn vị sản phẩm, lao vụ sản xuất thực tế.

C: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ theo từng đối tượng.

Dđk, Dck: Chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ & cuối kỳ.

Q: Sản lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.



13



Trường hợp cuối kỳ khơng có sản phẩm dở dang hoặc có nhưng ít & ổn định

nên khơng cần tính chi phí của sản phẩm dở thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợp

trong kỳ cũng đồng thời là tổng giá thành sản phẩm hoàn thành: Z = C.

*Phương pháp thứ hai: Phương pháp hệ số:

Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo hệ số áp dụng đối với những

DN trong cùng một quy trình cơng nghệ sản xuất, cùng sử dụng một loại nguyên

liệu, vật liệu, nhưng kết quả sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm khác nhau

như DN sản xuất hố chất, cơng nghiệp hố dầu, cơng nghiệp ni ong. Khi đó

đối tượng tập hợp CPSX là tồn bộ quy trình cơng nghệ sản xuất, còn đối tượng

tính giá thành là từng loại sản phẩm hồn thành.

Theo phương pháp này muốn tính được giá thành cho từng loại sản phẩm

phải căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ số

tính giá thành, trong đó lấy loại sản phẩm có hệ số bằng 1 làm sản phẩm tiêu

chuẩn. Căn cứ vào sản lượng thực tế hoàn thành của từng loại sản phẩm & hệ số

tính giá thành quy ước cho từng loại sản phẩm để quy đổi sản lượng thực tế ra

sản lượng tiêu chuẩn (sản phẩm có hệ số bằng1).

Gọi Hi là hệ số tính giá thành quy ước của sản phẩm i

Qi là sản lượng sản xuất thực tế của sản phẩm i

Tính quy đổi sản lượng thực tế ra sản lượng tiêu chuẩn

Q = ∑Qi x Hi

Trong đó Q: Tổng sản lượng thực tế hồn thành quy đổi ra sản lượng sản

phẩm tiêu chuẩn.

Tính tổng giá thành & giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm

Dđk + C - Dck

x QiHi



Zi =



Q

Zi

Qi



14



zi =



*Phương pháp thứ ba: Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ.

Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo tỷ lệ áp dụng thích hợp đối với

doanh nghiệp mà cùng một quy trình cơng nghệ sản xuất, kết quả sản xuất được

nhóm sản phẩm cùng loại, với nhiều chủng loại phẩm cất, quy cách khác nhau

như sản xuất nhóm ống nước với nhiều kích thước đường kính & độ dài khác

nhau, sản xuất quần áo dệt kim với nhiều cỡ số khác nhau, sản xuất chè hương

với nhiều phẩm cấp khác nhau.

Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình cơng

nghệ sản xuất của nhóm sản phẩm, còn đối tượng tính giá thành sẽ là từng quy

cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó. Để tính giá thành thực tế cho từng quy

cách của sản phẩm có thể áp dụng phương pháp tính hệ số hoặc phương pháp tỷ

lệ.

Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ phải căn cứ vào tiêu

chuẩn phân bổ hợp lý và chi phí sản xuất đã tập hợp để tính ra tỷ lệ tính giá

thành. Tiêu chuẩn phân bổ thường là giá thành kế hoạch hoặc giá thành định

mức. Sau đó tính giá thành cho từng thứ sản phẩm.

Cách tính như sau:

Tỷ lệ tính giá thành

từng khoản mục

Giá thành thực tế



=



Giá thành thực tế cả nhóm sản phẩm (theo từng khoản mục)



Tổng tiêu chuẩn phân bổ (theo từng khoản mục)

= Tiêu chuẩn phân bổ của từng

x Tỷ lệ tính giá thành



từng qui cách (theo từng khoản mục)



khoản mục.



Sản phẩm chính còn thu được sản phẩm phụ. Ví dụ nhà máy đường cung một

qui trình cơng nghệ ngồi sản phẩm chính là đương kính, còn thu được sản phẩm

phụ là rỉ đường; nơng trường chăn ni lợn thịt thì ngồi sản phẩm chính là sản

lượng lợn thịt, còn có sản phẩm phụ là phân bón.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×