Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VKD VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD CỦA DOANH NGHIỆP.

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VKD VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD CỦA DOANH NGHIỆP.

Tải bản đầy đủ - 0trang

mục đích sinh lời. Chỉ có những tài sản có giá trị được sử dụng vào SXKD

mới được coi là VKD.

*Đặc điểm của VKD:

Trong kinh tế thị trường, vốn SXKD của doanh nghiệp có những đặc

điểm cơ bản sau:

+ Vốn không những được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực của

những tài sản hữu hình như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,

đất đai…để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm, mà nó còn biểu hiện bằng

tiền của những tài sản vơ hình như: vị trí kinh doanh, bí quyết cơng nghệ,

nhãn hiệu…

+ Mục đích vận động của VKD là phải sinh lời : vốn phải được biểu hiện

bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để tiền biến thành vốn

thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời. Trong q trình vận động, đồng vốn

có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng

của tuần hoàn phải là giá trị, là tiền; đồng thời phải quay về nơi xuất phát với

giá trị lớn hơn, đó cũng là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn VKD.

+ Bất kỳ đồng VKD nào cũng gắn với một chủ sở hữu. Song tuỳ vào từng

loại hình doanh nghiệp mà người sở hữu vốn có đồng thời là người sử dụng

vốn hay khơng, bởi vì trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hoá

đặc biệt, người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một khoảng

thời gian nhất định. Khi doanh nghiệp thiếu vốn mà đi huy động vốn phải trả

một khoản chi phí và được gọi là chi phí sử dụng vốn. Chính việc nhận thức

được đặc điểm này đã giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng VKD có hiệu

quả, tránh thất thoát và bị thua thiệt.

Việc nhận thức đúng đắn về đặc trưng VKD có ý nghĩa quan trọng, thể

hiện:

Giúp doanh nghiệp phát hiện được những tiềm năng về vốn bởi vì biểu

hiện bằng tiền của tài sản là vốn, mà tài sản lại bao gồm TSHH và TSVH. Do

vậy khi phản ánh lên sổ sách kế toán, doanh nghiệp phải phản ánh đúng giá trị



SV: Nguyễn Thị Nhàn



4



Lớp: K39 – 11.02



của cả TSHH và TSVH, từ đó có biện pháp khai thác, bảo tồn và sử dụng

VKD có hiệu quả.

*Phân loại VKD của doanh nghiệp

Căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển của VKD khi tham gia vào

quá trình SXKD thì VKD của doanh nghiệp bao gồm hai loại vốn là : VCĐ và

VLĐ.

a, VCĐ của doanh nghiệp.

- VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm

của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hồn

thành một vòng tuần hồn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.

- Đặc điểm luân chuyển của VCĐ trong quá trình sản xuất: giá trị của vốn

luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất và được thu hồi

dưới hình thức khấu hao cơ bản. Như vậy, trong quá trình tham gia vào sản

xuất, một bộ phận giá trị của VCĐ được rút ra khỏi q trình sản xuất và được

tích luỹ lại dưới hình thức quỹ khấu hao cơ bản, trong khi đó một bộ phận giá

trị vẫn được “cố định” trong hình thái của TSCĐ. Và cứ sau mỗi chu kỳ sản

xuất, bộ phận giá trị “hao mòn” rút ra khỏi q trình sản xuất tăng dần, do đó

quỹ khấu hao cơ bản tăng dần lên còn bộ phận “cố định” trong TSCĐ thì

giảm dần đi. Khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng thì VCĐ mới hồn thành một

vòng tuần hồn còn gọi là “một vòng luân chuyển”.

Đặc điểm luân chuyển của VCĐ đã chi phối việc bảo toàn vốn ở tất cả các

khâu từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng, quản lý TSCĐ trong kinh doanh,

trích khấu hao để thu hồi và sử dụng quỹ khấu hao cơ bản. Bên cạnh đó, việc

kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, giá bán thấp

hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức hao mòn của TSCĐ. Thiểu

phát cũng là nguyên nhân gây thất thốt vốn mà trong cơng tác bảo tồn VCĐ

doanh nghiệp phải chú trọng.

b, VLĐ của doanh nghiệp .



SV: Nguyễn Thị Nhàn



5



Lớp: K39 – 11.02



VLĐ của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm các

TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD được bình

thường, liên tục. VLĐ thuần của các doanh nghiệp được xác định bằng tổng

giá trị TSLĐ của doanh nghiệp trừ đi các khoản nợ ngắn hạn.

Theo vai trò của từng loại VLĐ trong quá trình SXKD thì VLĐ được phân

bổ ở các khâu như sau:

+ VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: gồm giá trị của các khoản nguyên vật

liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, cơng cụ lao

động nhỏ, bao bì, vật đóng gói.

+ VLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang,

bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.

+VLĐ trong khâu lưu thơng: gồm các khoản giá trị thành phẩm trong kho

chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp,

ký cược, ký quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán.

Đặc điểm luân chuyển của VLĐ: VLĐ ln vận động chuyển hố qua

nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật

tư hàng hoá và cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Q trình

SXKD của doanh nghiệp diễn ra liên tục khơng ngừng cho nên VLĐ cũng

tuần hồn khơng ngừng, được gọi là quá trình chu chuyển của VLĐ.

Trong quá trình sản xuất khác với TSCĐ, TSLĐ ln thay đổi hình thái

biểu hiện để tạo ra sản phẩm, vì vậy giá trị của nó cũng được chuyển dịch

tồn bộ một lần vào giá trị thành phẩm tiêu thụ. đặc điểm này đã quyết định

sự vận động của VLĐ: T-H…s x…H’-T’ ( T’ >T).

Từ đặc điểm, phương thức chuyển dịch giá trị và vận động của VLĐ mà

trong công tác quản lý vốn, doanh nghiệp cần quan tâm:

-Phải xác định được VLĐ cần thiết cho chu kỳ SXKD của doanh nghiệp.

Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý vốn, đảm bảo đầy đủ, kịp

thời VLĐ cho quá trình SXKD được liên tục tránh ứ đọng vốn.



SV: Nguyễn Thị Nhàn



6



Lớp: K39 – 11.02



- Tổ chức khai thác các nguồn tài trợ VLĐ cũng như bảo toàn và phát

triển VLĐ để việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn.

1.1.2. Nguồn hình thành VKD của doanh nghiệp .

Để có vốn hoạt động SXKD, doanh nghiệp phải khai thác, tạo lập vốn.

Hiện nay Nhà nước cho phép các doanh nghiệp được quyền huy động vốn từ

nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn đều có ưu và nhược điểm riêng. Tuỳ theo

các cách phân loại khác nhau mà VKD của doanh nghiệp được hình thành từ

các nguồn sau:

+) Nếu căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn thì vốn SXKD của doanh nghiệp

gồm 2 nguồn:

 Nguồn vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc chủ sở hữu của doanh

nghiệp bao gồm: vốn pháp định do chủ doanh nghiệp bỏ ra( đối với doanh

nghiệp Nhà nước đó là nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp hoặc có nguồn

gốc từ ngân sách Nhà nước), vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại trong quá

trình hoạt động kinh doanh hoặc từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do Nhà

nước tài trợ(nếu có), vốn huy động từ phát hành cổ phiếu…

 Nguồn vốn vay: là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản

xuất của doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh tốn như:

khoản vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng khác, vay từ phát hành trái

phiếu, phải trả cho ngân sách Nhà nước, phải thanh toán với người bán, phải

trả công nhân viên và các khoản phải trả khác.

Cách phân loại như trên nhằm tạo khả năng xem xét và có các phương án

tối ưu để huy động các nguồn vốn sao cho tạo ra cơ cấu nguồn vốn hợp lý,tối

ưu để đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh

và tăng giá trị của doanh nghiệp.

+) Nếu căn cứ vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn thì có thể chia

nguồn vốn của doanh nghiệp thành: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn

tạm thời.



SV: Nguyễn Thị Nhàn



7



Lớp: K39 – 11.02



 Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng có

tính chất ổn định và lâu dài trong SXKD bao gồm: vốn chủ sở hữu và các

khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn lâu dài, được dùng để đầu tư, mua sắm

TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp.

 Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn( dưới một

năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất

tạm thời như : các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng

khác, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả.

Việc phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xem xét huy

động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng kịp thời vốn cho

SXKD với chi sử dụng vốn hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

+) Nếu căn cứ vào phạm vi hoạt động thì nguồn vốn kinh doanh được chia

thành 2 loại là: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.

 Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được từ chủ sở

hữu doanh nghiệp và được hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh, đó là

lợi nhuận để lại, từ tiền khấu hao cơ bản TSCĐ, từ các quỹ của doanh nghiệp

( quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, quỹ dự phòng tài chính) và các khoản

thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Đây là nguồn vốn đảm bảo vững mạnh về

tài chính của doanh nghiệp.

 Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có

thể huy động từ bên ngồi để đáp ứng cho nhu cầu thiếu vốn SXKD của mình.

Nguồn vốn này bao gồm: vốn liên doanh, liên kết, vốn vay ngân hàng hoặc

các tổ chức tín dụng, vốn huy động do phát hành trái phiếu và các khoản nợ

khác. Đây là nguồn vốn khá quan trọng bổ sung vốn cho hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp.

Việc phân loại trên giúp cho doanh nghiệp xác định được nhu cầu vốn,

nguồn hình thành vốn SXKD của doanh nghiệp mình đồng thời đề ra các biện

pháp huy động vốn tối ưu.



SV: Nguyễn Thị Nhàn



8



Lớp: K39 – 11.02



2. Hiệu quả sử dụng VKD và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử

dụng VKD của doanh nghiệp.

2.1. Hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.

Trước đây, trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp, quan hệ giữa Nhà

nước và doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc thu đủ- chi đủ. Nhà nước giao kế

hoạch cho doanh nghiệp mang tính chất pháp lệnh về mặt hàng kinh doanh

chủ yếu, về nguồn hàng, nơi tiêu thụ và doanh thu. Vì vậy doanh nghiệp

khơng thể và cũng khơng cần thiết phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của

mình trong SXKD. Do đó, quan điểm về sử dụng VKD có hiệu quả được xác

định dựa trên cơ sở: mức độ thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh, sự tiết kiệm chi

phí trong giá thành sản phẩm, khối lượng giá trị sử dụng mà doanh nghiệp

cung cấp cho nền kinh tế. Đây chính là sự lẫn lộn, khơng xác định được ranh

giới giữa chi tiêu hiệu quả và chi tiêu kết quả. Từ đó dẫn đến việc đánh giá

hiệu quả kinh tế khơng đúng. Đó là ngun nhân cơ bản làm cho tình hình sử

dụng vốn của các doanh nghiệp bị lãng phí dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị

mất vốn, làm ăn thua lỗ, sức cạnh tranh yếu và nền kinh tế trở nên trì trệ.

Khi bước sang nền kinh tế thị trường các đơn vị hoạt động SXKD tuân

theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Việc sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và

sản xuất như thế nào không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của doanh

nghiệp mà xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của thị trường theo phương châm “Tất

cả nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường một cách tốt nhất”. Vì thế nó đã tạo ra

tính chủ động, sáng tạo trong việc SXKD của các tổ chức kinh tế, và cũng

chính vì thế mà nó tạo ra một mơi trường cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh

nghiệp.

Ta biết rằng mọi hoạt động có ý thức của con người nói chung đều hướng

cho hoạt động đó đạt tới những mục đích nhất định. Mục đích quan trọng nhất

của các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường là sản xuất kinh

doanh mang lại hiệu quả- hiệu quả đó càng cao thì càng tốt, lấy hiệu quả đó

làm thước đo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp – hiệu quả lợi ích kinh tế



SV: Nguyễn Thị Nhàn



9



Lớp: K39 – 11.02



đạt được từ việc sử dụng vốn vào hoạt động SXKD. Do đó hiệu quả là một

chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được từ hoạt động

SXKD với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.

Kết quả

Hiệu quả =

Chi phí

Chỉ số hiệu quả này càng lớn hơn 1 càng tốt, nó phản ánh hiệu quả

SXKD thu được biến chuyển theo chiều hướng tốt. Ngược lại nếu nhỏ hơn 1

nó phản ánh hiệu quả SXKD ngày càng xấu đi. Cũng qua hệ số này ta thấy

hiệu quả chịu ảnh hưởng của hai nhân tố: kết quả và chi phí.

Trong điều kiện hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì

yêu cầu đặt ra cho doanh nghiệp là phải sử dụng có hiệu quả lượng vốn đem

vào đầu tư. Tức là không những bảo tồn được vốn mà còn phải tăng được

mức sinh lời của đồng vốn. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có

nghĩa là làm sao với một lượng chi phí bỏ ra thấp nhất mà thu được kết quả

cao nhất.

Như vậy, khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn ta cũng phần nào thấy

được trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp vì qua chỉ tiêu hiệu

quả sử dụng vốn cũng đã chỉ ra được doanh nghiệp sử dụng chi phí có tiết

kiệm hay khơng, hoặc với một đơn vị kết quả đạt được cần một lượng chi phí

là bao nhiêu…

2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh

nghiệp.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, để được sử dụng một

lượng vốn nhất định thì tất yếu doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí

nhất định và gọi là chi phí sử dụng vốn. Do đó để đảm bảo đứng vững trên

thương trường đòi hòi doanh nghiệp phải sử dụng số vốn đó sao cho kết quả

đạt được đủ bù đắp các chi phí bỏ ra và có lợi nhuận cho đơn vị. Việc nâng



SV: Nguyễn Thị Nhàn



10



Lớp: K39 – 11.02



cao hiệu quả sử dụng vốn như một yêu cầu cấp bách mang tính bức thiết đối

với mọi doanh nghiệp. Bởi vì nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn không

những giúp cho doanh nghiệp đủ trang trải chi phí bỏ ra mà còn có một phần

tích luỹ để lại để tái sản xuất, mở rộng quy mô và lĩnh vực sản xuất, tăng thu

nhập, đổi mới được thiết bị công nghệ,… cũng như quyết định đến sự sống

còn của các doanh nghiệp. Ngồi ra, nó còn có một số vai trò sau:

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đảm bảo cho vốn của doanh nghiệp khơng

những được bảo tồn để tiếp tục tái sản xuất mà còn tạo điều kiện cho doanh

nghiệp thực hiện việc tái sản xuất mở rộng.

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng đồng nghĩa với việc giảm thiểu chi

phí SXKD. Từ đó tác động tới việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Bởi vậy

nó là yêu cầu khách quan đặt ra cho mọi doanh nghiệp thực hiện hạch toán

kinh doanh.

- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp đó là lợi nhuậnnguồn tích luỹ để tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Điều đó càng được

sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt trong điều kiện hiện nay. Một doanh

nghiệp có tồn tại được hay khơng là chịu sự tác động của việc doanh nghiệp

đó có tạo ra được lợi nhuận hay khơng. Chính vì thế, SXKD như thế nào để

thu được lợi nhuận cao nhất là mục tiêu hàng đầu trong tất cả các mục tiêu

quan trọng khác. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng

cao hiệu quả sử dụng VKD để đạt được lợi nhuận cao, tạo đà đưa doanh

nghiệp vững bước tiến lên đài vinh quang.

Nói tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu tất yếu đối với

doanh nghiệp sử dụng vốn hạch toán kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế

thị trường. Nó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, mở

rộng quy mô sản xuất, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần tăng

trưởng nền kinh tế xã hội.

2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.



SV: Nguyễn Thị Nhàn



11



Lớp: K39 – 11.02



Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn SXKD của doanh nghiệp người ta có

thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

- Vòng quay tồn bộ vốn trong kỳ =

Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng vốn hay tài sản của doanh

nghiệp trong kỳ, nó thể hiện rằng cứ một đồng vốn đem vào đầu tư trong kỳ

sẽ mang lại mấy đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Nói chung vòng quay

tồn bộ vốn càng lớn thể hiện hiệu suất sử dụng vốn càng cao.

Lợi nhuận trước( sau) thuế

- Tỉ suất lợi nhuận vốn =

Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư

vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nó cho ta thấy rằng trong kỳ cứ sử

dụng một đồng vốn vào hoạt động SXKD thì sẽ mang lại mấy đồng lợi nhuận

( trước thuế hoặc sau thuế).

Song để đánh giá được chính xác hơn về hiệu quả sử dụng vốn để từ đó

đưa ra được biện pháp tối ưu nhất, trọng tâm nhất, sát thực nhất… ta cần

nghiên cứu hiệu quả sử dụng của từng loại vốn.

2.3.1. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ

Để kiểm tra, đánh giá về hiệu quả sử dụng VCĐ người ta thường sử

dụng một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu

phân tích sau:

2.3.1.1. Các chỉ tiêu tổng hợp.

Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mặt chất của việc sử dụng VCĐ

+ Hiệu suất sử dụng VCĐ: Nó phản ánh bình qn cứ một đồng VCĐ được

sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.

Doanh thu( Doanh thu thuần) trong kỳ

Hiệu suất sử dụng VCĐ =

VCĐ bình quân trong kỳ



SV: Nguyễn Thị Nhàn



12



Lớp: K39 – 11.02



Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là kết quả thu được do sử dụng VCĐ vào

SXKD sản phẩm hàng hoá.

VCĐ bình quân trong kỳ là số bình quân giữa giá trị còn lại của TSCĐ

đầu kỳ và cuối kỳ.

+ Hàm lượng VCĐ: Nó phản ánh để tạo ra được một đồng doanh thu hoặc

doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng VCĐ.

Số VCĐ bình quân trong kỳ

Hàm lượng VCĐ =

Doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ

+ Doanh lợi VCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCĐ bỏ ra trong kỳ

có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế.

Lợi nhuận( trước) sau thuế

Doanh lợi VCĐ =

VCĐ bình quân trong kỳ

Lợi nhuận ở đây chỉ tính đến khoản thu nhập do có sự tham gia trực

tiếp của TSCĐ tạo ra.

2.3.1.2. Các chỉ tiêu phân tích

+ Hệ số hao mòn TSCĐ: Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh

nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu.

Số tiền khấu hao luỹ kế

Hệ số hao mòn TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá

Hệ số này càng cao chứng tỏ TSCĐ đã cũ và cần được đầu tư đổi mới.

Ngược lại hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp rất quan tâm tới đầu tư

đổi mới máy móc thiết bị.

+ Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Nó phản ánh cứ một đồng TSCĐ được sử dụng

trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ

Doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ



SV: Nguyễn Thị Nhàn



13



Lớp: K39 – 11.02



Hiệu suất sử dụng TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

+Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất: Nó phản ánh

giá trị TSCĐ bình qn trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất.

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Hệ số trang bị TSCĐ =

Số lượng công nhân viên trực tiếp sản xuất

+Tỉ suất đầu tư TSCĐ: Phản ánh mức độ đầu tư vào TSCĐ trong tổng giá

trị tài sản của doanh nghiệp. Nói một cách khác là trong một đồng giá trị tài

sản của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng được đầu tư vào TSCĐ.

Giá trị còn lại của TSCĐ

Tỉ suất đầu tư TSCĐ =



100%



Tổng tài sản

+ Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp: Nó phản ánh quan hệ tỉ lệ giữa giá trị

từng loại, nhóm TSCĐ trong tổng số giá trị TSCĐ của doanh nghiệp ở thời

điểm đánh giá. Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp lý trong

cơ cấu TSCĐ của doanh nghiệp. Dựa vào kết cấu này mà doanh nghiệp có

biện pháp đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp.

+ Chỉ tiêu về kết cấu nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ: là tỉ trọng từng nguồn

VCĐ so với tổng nguồn VCĐ của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này giúp cho người

quản lý có các biện pháp khai thác, mở rộng nguồn vốn. Mặt khác còn để

kiểm tra theo dõi tình hình thanh tốn chi trả các khoản nợ vay có đúng hạn

hay khơng.

2.3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.

Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp, ta có thể sử

dụng các chỉ tiêu sau:

+ Tốc độ luân chuyển VLĐ: được đánh giá và xác định qua hai chỉ tiêu

- Số lần luân chuyển VLĐ: chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay vốn

được thực hiện trong một thời kỳ nhất định. Nó được xác định như sau:

M



SV: Nguyễn Thị Nhàn



14



Lớp: K39 – 11.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VKD VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD CỦA DOANH NGHIỆP.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×