Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại bộ

phận các hoạt động khác nhau của con người tạo nên. Những hoạt động gây tác

động trực tiếp hay gián tiếp đến những thay đổi về mặt năng lượng, mức độ bức xạ

mặt trời, thành phần vật lý, hoá học của nước và sự phong phú của các lồi sinh vật

sớng trong nước.

2.1.2. Chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh mơi trường nông thôn

Công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường (NS & VSMT) đã từng

được ngành y tế triển khai sâu rộng ngay từ những năm 50-60 của thế kỷ trước.Sang

thập kỷ 80, một thập kỷ có thể được coi là khó khăn nhất về kinh tế của đất nước thì

sự hỗ trợ về kinh phí của Nhà nước cho các hoạt động về NS & VSMT dường như

là khơng còn nữa. Đây cũng là thời điểm mà các cơng trình nước sạch và vệ sinh

được xây dựng và sử dụng hàng chục năm qua đã và đang xuống cấp trầm trọng.

Bởi vậy, trong giai đoạn này vấn đề NS & VSMT thực sự đứng trước những thách

thức to lớn.

Trong hồn cảnh khó khăn ấy, năm 1982 Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc

(UNICEF) tại Việt Nam đã khởi động Dự án cung cấp nước sạch tại 6 tỉnh trọng

điểm là Kiên Giang, Minh Hải và Long An thuộc miền Nam và Hà Nam Ninh,

Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh thuộc miền Bắc. Thành công của các hoạt động tại các

tỉnh điểm đã là cơ sở vững chắc cho UNICEF và các cơ quan đới tác phía Việt Nam

quyết định mở rộng dự án ra các tỉnh mới. Các giếng khoan lắp bơm tay UNICEF

mang nhãn hiệu VN6 đã xuất hiện ở mọi miền của đất nước, đặc biệt là ở những

cộng đồng dân nghèo, vùng sâu, vùng xa. Đến giữa những năm 90 thì các kỹ thuật

cung cấp nước sạch không chỉ dừng lại ở các giếng khoan lắp bơm tay nữa. Các

hình thức cung cấp nước tập trung quy mô vừa và nhỏ đã được triển khai bao gồm

các hệ thớng nước tự chảy, các giếng khoan có đường kính lớn. Các hình thức cung

cấp nước nhỏ lẻ quy mơ gia đình cũng đã đa dạng hơn. Cùng với UNICEF, các nhà

tài trợ lớn khác như DFID, DANIDA, SIDA Thụy Điển và các tổ chức phi Chính

phủ q́c tế cũng đã tập trung đầu tư, hỗ trợ và triển khai xây dựng rất nhiều cơng

trình cung cấp nước sinh hoạt tại nhiều vùng trong cả nước. Bên cạnh đó, Chương



20



trình mục tiêu Q́c gia về nước sinh hoạt và vệ sinh mơi trường nơng thơn cũng đã

được Chính phủ phê dụt với những khoản kinh phí khơng nhỏ từ ngân sách trung

ương và địa phương (nguồn http://www.moh.gov.vn).

Dự án cung cấp nước sinh hoạt nông thôn là một phần của Chương trình hợp

tác giữa Việt Nam và UNICEF vơi mục tiêu cùng với Chính phủ Việt Nam giải

quyết về nhu cầu nước sinh hoạt và phương tiện vệ sinh cho các vùng nơng thơn

Việt Nam. Dự án đã góp phần giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ cấp nước hợp vệ

sinh cho các vùng nông thôn ở 64 tỉnh thành phớ trong cả nước.

Tổng kinh phí UNICEF tài trợ: 53.815.875 USD

Trong đó: Từ 1982 - 2005 là: 47.370.875 USD

Từ 2006 - 2010 là: 6.445.000 USD (nguồn http://www.cerwass.org.vn/).

2.1.6. Trạm cấp nước tập trung

Trạm cấp nước tập trung là một trạm xử lý và cấp nước với quy mô vừa và

nhỏ. Ngun lý hoạt động của nó thì cũng rất đơn giản. Nguồn nước thô được bơm

lên và vận chuyển đến bể xử lý. Nước sau khi đi qua hệ thống xử lý của nhà máy,

nước được bơm lên các tháp nước cao nhằm cung cấp nguồn năng lượng để nước có

thể chảy qua mạng lưới phân phới đến khu dân cư và hộ gia đình.



Ca(OH)2

Giếng

Giếng



Cl2



Chỉnh

pH

Chỉnh



Clo Clo

hóa an

hóatồn



Bể chứa

Bể nước

chứa sạch



pH



an tồn



nước

sạch



Thủy

đài



Mạng lưới cấp nước



Hình 2.1. Mơ hình đơn giản xử lý nước ngầm



21



Thủy

đài



Ưu điểm:Thiết bị xây dựng trạm đơn giản, dễ chế tạo, tính cơ động cao, hiệu

quả xử lý cao. Và dễ dàng nâng cấp công suất của trạm xử lý khi cần thiết. Mơ hình

cấp nước này thích hợp với diện tích vớn hạn hẹp. Ngồi ra, nó còn thích hợp cung

cấp nước sạch cho dân cư vùng ngoại thành, vùng ven, nơng thơn,… góp phần cải

thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Nhược điểm: Cung cấp nước cho không nhiều hộ dân, quy mô nhỏ.

2.1.7. Khái niệm mức sẵn lòng trả(WTP)

Theo Cho-Ming-Naing (2000), thì mức sẵn lòng trả được định nghĩa như

một khoản tiền tối đa mà cá nhân chi trả để cân bằng sự thay đổi thỏa dụng. Kỹ

thuật chủ yếu dựa trên khoản tiền tối đa mà cá nhân đó sẵn lòng trả cho một hàng

hóa.

Thước đo trực tiếp về WTP cho hàng hóa và dịch vụ cụ thể có thể được định

giá bằng cách hỏi người ta một cách trực tiếp họ sẽ sẵn lòng trả bao nhiêu cho các

dịch vụ hoặc sản phẩm chăm sóc sức khỏe phù hợp. Thước đo trực tiếp về mức

WTP của một cá nhân cho hàng hóa phi thị trường thì phương pháp CVM là thích

hợp nhất.

Phương pháp CVM được tiến hành bằng cách hỏi trực tiếp các cá nhân để

đánh giá giá trị của tài nguyên thiên nhiên môi trường hay giá trị của một sự thay

đổi chất lượng môi trường.

Trước hết các cá nhân được điều tra sẽ được cung cấp các thông tin mô tả về

một sự thay đổi chất lượng môi trường được giả định. Sau đó, các cá nhân này được

hỏi về: Họ sẵn lòng trả bao nhiêu cho cải thiện mơi trường (hoặc WTP bao nhiêu để

tránh một sự giảm sút chất lượng môi trường) giả định đã được mô tả. Hoặc họ sẵn

lòng chấp nhận (WTA) là bao nhiêu để chịu chấp nhận một sự giảm sút chất lượng

môi trường được giả định.

Phương pháp CVM có thể được sử dụng để đánh giá các giá trị sử dụng và

không sử dụng của tài nguyên thiên nhiên môi trường. Phương pháp này ưu điểm

hơn so với các phương pháp định giá tài ngun thiên nhiên mơi trường khác là nó

có thể sử dụng để đánh giá được các giá trị của tài nguyên môi trường mà nhiều



22



phương pháp khác không thực hiện được như đánh giá giá trị lựa chọn, giá trị lưu

truyền. giá trị tồn tại của tài nguyên môi trường.

Phương pháp CVM thường được sử dụng trong các lĩnh vực như: Chất lượng

nước, chất lượng khơng khí, những nơi có các hoạt động vui chơi giải trí (như câu

cá, săn bắn…) mà do một dự án nào đó sắp được triển khai gây ảnh hưởng đến

chúng, việc bảo tồn các khu rừng tự nhiên, các khu vực hoang dã, bảo tồn đa dạng

sinh học, bảo tồn loài và những rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng…

Phương pháp CVM sẽ thích hợp hơn khi vùng nghiên cứu có những đặc

điểm sau: những sự thay đổi chất lượng môi trường không gây ảnh hưởng trực tiếp

lên năng suất, sản lượng…, khó theo dõi được một cách trực tiếp sở thích của người

dân, khu vực lấy mẫu là tiêu biểu, quan tâm, am hiểu tầm quan trọng của nghiên

cứu và có nhận thức cao về vấn đề đang được nghiên cứu…

Ưu điểm:

Những người làm nghiên cứu thích phương pháp đánh giá ngẫu nhiên vì nó

có thể áp dụng được cho nhiều loại hàng hóa mơi trường khác nhau. Bên cạnh việc

ước lượng đượccác giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp nó có thể đánh giá được giá

trị khơng sử dụng mà cụ thể là giá trị tồn tại hay giá trị lưu truyền. Như vậy có thể

thấy rằng CVM là một phương pháp rất linh hoạt, áp dụng được cho hầu hết các

loại giá trị của một hàng hóa mơi trường hay một loại tài nguyên.

CVM là một phương pháp quan trọng để ước lượng các sản phẩm, dịch vụ

của tài ngun mơi trường khi khơng có thị trường tồn tại cho chúng. Đây là một ưu

điểm nổi trội của phương pháp CVM. Thông thường, các phương pháp định giá cần

một thị trường cụ thể về giá cả của một loại hàng hóa nào đó, để biết được các yếu

tớ mơi trường tác động lên giá cả của hàng hóa đó như thế nào? Các nhà nghiên cứu

sẽ thu thập nhiều thơng tin liên quan đến đặc điểm của hàng hóa đó cùng với yếu tớ

mơi trường. Sau q trình xử lí sớ liệu sẽ xác định được mức độ ảnh hưởng của yếu

tớ mơi trường lên giá cả hàng hóa đó. Từ đó xác định được tổng lợi ích hay thiệt hại

do yếu tố môi trường mang lại. Các dạng phương pháp này có thể kể đến như là :

Hedonic Pricing Method, Replacement Cost Method, … Đối với các giá trị không



23



sử dụng như giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền, bảo tồn đa dạng sinh học… khơng có

một thị trường nào quyết định giá cả cho nó, vì thế ḿn định giá được nó khơng

có phương pháp nào ngoài việc sử dụng CVM. Một thị trường giả định sẽ được xây

dưng nên để ước lượng cho các loại giá trị đó. Các kết quả sẽ thay đổi tùy thuộc vào

các điều kiện giả thiết đặt ra trong thị trường giả định.

Nhược điểm:

Các ước lượng có được từ phương pháp CVM chỉ phản ánh các hoạt động

giả định do các hoạt cảnh đưa ra khi điều tra phỏng vấn là những hoạt cảnh, trường

hợp giả định đã được xây dựng nên.

Khi áp dụng phương pháp CVM, có thể gặp phải vấn đề sai lệch do chiến

thuật: nếu người được điều tra cho là các giá trị mà họ đưa ra có thể có một ảnh

hưởng nào đó đến chính sách sẽ đề ra và có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì họ

có thể trả lời các giá trị quá cao hay quá thấp so với giá trị thực sự của họ.

Sai lệch xuất phát từ các giả định chúng ta sử dụng khi chúng ta xây dựng

các hoạt cảnh ban đầu.

Sai lệch tổng thể và bộ phận: người được phỏng vấn cũng có thể hiểu nhầm

vấn đề được hỏi trong quá trình điều tra phỏng vấn và có thể đưa ra các giá trị đánh

giá một bộ phận của vấn đề mà ta quan tâm thành giá trị tổng thể hoặc ngược lại. Ví

dụ: Thay vì trả lời mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng môi trường nước

của một đoạn sông, người được điều tra có thể đưa ra giá trị sẵn lòng trả cho việc

cải thiện chất lượng môi trường nước của cả dòng sơng đó.

Sai lệch do điểm khởi đầu (Starting point bias) khi xây dựng các bảng điều

tra mức sẵn lòng trả. Bên cạnh đó cũng có thể có những sai lệch do thông tin cung

cấp cho người được điều tra, sai lệch do sự không hiểu giữa người điều tra và người

được điều tra, sai lệch do cách chọn phương thức đóng góp tiền khi hỏi về mức sẵn

lòng trả.

Sai lệch giữa mức sẵn lòng trả và sẵn lòng nhận đền bù. WTP thường thấp

hơn so với WTA do WTP chịu ảnh hưởng bới giới hạn thu nhập của người được

phỏng vấn còn WTA thì khơng bị ảnh hưởng (Đặng Thanh Hà, 2003).



24



Lập thị trường giả định

Thị trường giả định được hợp thành bởi ba phần: (1) Một “kịch bản” giới

thiệu cho người được phỏng vấn một viễn cảnh tốt để họ sẽ trả lời các câu hỏi định

giá. (2) Mơ tả một chính sách hay một chương trình sẽ được thực hiện mà phải bảo

đảm cho người được phỏng vấn nhận xét đó là một chương trình tớt. (3) Phương

thức trả tiền phải được mô tả kĩ nhằm để người trả lời tin rằng họ sẽ trả cho dự án/

chính sách đó. Kịch bản, chính sách và phương thức trả tiền trong giả thuyết CV

phải được thực hiện tốt trong bảng phỏng vấn nhằm cho người trả lời thấy được số

tiền họ trả sẽ được sử dụng đúng.

Xác định nên hỏi WTP hay WTA

Mục đích chính của CVM là để suy ra giá trị mà người ta gán cho loại “hàng

hóa” đang nghiên cứu.

Hỏi các cá nhân về sớ tiền tới đa mà họ sẵn lòng trả (WTP) để sử dụng hay

bảo tồn hàng hóa/ dịch vụ mơi trường nào đó.

Hay hỏi họ về sớ tiền đền bù mà họ chấp nhận (WTA) để từ bỏ hàng hóa/

dịch vụ mơi trường.

Về mặt lý thuyết thì WTP bằng với WTA. Nhưng trên thực tế, mức sẵn lòng

chấp nhận khác hồn tồn mức sẵn lòng trả. Khi hỏi về mức sẵn lòng trả thì người

được hỏi ln trả lời mức sẵn lòng trả tới thiểu, còn hỏi về mức sẵn lòng chấp nhận

thì trả lời mức tới đa.

Hammacks Brown (2000) đã chỉ ra rằng mức sẵn lòng trả để bảo tồn vùng

đầm lầy nơi vịt trời sinh sống là 274 $, trong khi đó, mức sẵn lòng chấp nhận

(WTA) để từ bỏ khu vực đó lại là 1044 $. Có sự khác biệt này do WTP bị giới hạn

bởi thu nhập, còn WTA thì khơng bị giới hạn.

Đới với việc cải thiện mơi trường, thì những câu hỏi nên được thiết kế sao

cho để lộ ra mức sẵn lòng trả (WTP).

Đới với những thiệt hại gây ra cho mơi trường thì về lý thuyết người trả lời

nên được hỏi về mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) đền bù.

Trong thực tế, mức sẵn lòng trả (WTP) thường được chọn để hỏi.



25



Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu đã đặt ra trong phần Mở Đầu, nghiên

cứu chọn phương pháp WTP vì ở đây người dân sẽ là người được hưởng lợi từ việc

xây dựng hệ thống nước máy.

Các cách hỏi mức sẵn lòng trả (WTP):

Open- ended (câu hỏi mở): Người trả lời được u cầu nói mức sẵn lòng trả

(WTP) tới đa của họ. Như số tiền tối đa mà anh/chị sẵn lòng trả thêm vào tiền thuế

hàng năm để góp phần cải thiện cảnh quan vùng Stonchenge đã được chúng tôi mô

tả là bao nhiêu? (Edward Elgar, 2002).

Nhược điểm của cách hỏi này là người được phỏng vấn khó trả lời về WTP,

và có những sai lệch cớ ý do họ tự do nói nên họ sẽ nói WTP cao hay thấp hơn mức

sẵn lòng trả (WTP) thật của họ. Hơn nữa, tính khơng quen với câu hỏi mở có thể

dẫn đến những người trả lời theo chiến lược khơng thích rủi ro có xu hướng phát

biểu mức sẵn lòng trả thấp, hoặc người trả lời khơng biết mức sẵn lòng trả là bao

nhiêu để trả lời.

Bidding games: Phỏng vấn viên sẽ đưa mức giá ngày càng cao cho người trả

lời, cho đến khi người trả lời đạt mức sẵn lòng trả (WTP) tới đa của chính họ.

Chẳng hạn như, bạn có đồng ý trả thêm 5$ vào tiền thuế hàng năm để góp phần cải

thiện cảnh quan vùng Stonchenge để được như chúng tơi mơ tả khơng?

Nếu có, phỏng vấn viên tiếp tục tăng giá cho đến khi người được phỏng vấn

trả lời khơng. Như vậy, mức sẵn lòng trả (WTP) tối đa đã được khai thác.

Nếu không, phỏng vấn viên tiếp tục giảm giá dần cho đến khi người được

phỏng vấn trả lời có. Như vậy, mức sẵn lòng trả tối đa cũng đã được khai thác.

Nhược điểm của phuong pháp này là các sai lệch xảy ra trong mức giá khởi

đầu. Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng

của nghiên cứu.

Payment card: Một loạt các mức giả được viết lên thẻ và người trả lời được

yêu cầu chọn một mức giá.

Câu hỏi đóng (Dichotomous Choice hay Close- Ended Question): Có hai

cách:



26



Single – bounded dichotomous choice: Bạn có sẵn lòng trả ….. $/ năm cho 5

năm tới vào quỹ tín nhiệm để giúp bảo tồn rặng san hô của đảo Phỉ từ mức độ 75 %

ABU hiện nay lên 100 % ABU không? Một mức giá được đưa ra và người được

phỏng vấn được yêu cầu trả lời “đồng ý” hay “không đồng ý” với mức giá này.

Ưu điểm của cách hỏi này: giúp người trả lời dễ quyết định

Nhược điểm: phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên.

Double – bounded dichotomous choice: Trong phương pháp này, người được

phỏng vấn được hỏi một câu hỏi “Có – Khơng” về việc họ sẵn lòng trả một khoản

tiền nhất định cho mục đích mà nó đã được mơ tả. Nếu họ trả lời “có” thì câu hỏi

này sẽ được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trả lời “khơng” thì câu hỏi thứ

hai sẽ hỏi một khoản tiền nhỏ hơn. Điều này được lặp lại cho đến khi WTP cuối

cùng được xác định.

Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được chuẩn bị trước cho mục đích khảo sát các thơng tin. Bảng

câu hỏi gồm nhiều mục, xếp theo một trình tự logic. Bắt đầu là phần giới thiệu với

người được phỏng vấn về mục đích cuộc phỏng vấn, sau đó là thơng tin chung về

đới tượng được phỏng vấn( ví dụ: Tên, tuổi, giới tính, địa chỉ,…..). Phần tiếp theo là

các câu hỏi, có thể xếp thành nhiều mục khác nhau, mỗi mục chứa đựng những

thơng tin có liên quan chặc chẽ với nhau theo một chủ đề.

Phần giới thiệu: Thông thường phần này ngắn, chỉ vài câu. Người phỏng vấn

phải giới thiệu tên, cơ quan, mục đích phỏng vấn.

Phần cấu trúc các câu hỏi:

Phần này phải đi từ nội dung tổng quát cho đến chi tiết. Bảng câu hỏi phải

dịch chuyển lưu loát từ đề tài này sang đề tài khác. Cấu trúc chung của bảng câu hỏi

phải đi từ những câu hỏi đon giản đến những câu hỏi khó, rồi quay lại những câu

đơn giản trước khi bắt đầu những câu hỏi phức tạp khác. Cần để cho người được

phỏng vấn bớt căng thẳng.

Phần thông tin nhân khẩu và thu nhập nên là phần sau cùng của bảng câu

hỏi. Phần này hỏi về tuổi, học vấn, thu nhập, công việc của từng thành viên trong



27



gia đình. Đây là những điều nhạy cảm, nhiều người khơng thích nói đến thu nhập,

một sớ người lại khơng thích nói đến tuổi tác. Do đó, nếu đặt phần này trước họ có

thể quyết định ngừng trả lời trước khi kết thúc bảng phỏng vấn hoặc trả lời có thái

độ dè dặt.

Các phương pháp phỏng vấn

Có 4 phương pháp phỏng vấn bảng câu hỏi:

Phỏng vấn gián tiếp: Phỏng vấn qua thư hoặc fax hoặc phỏng vấn qua thư

điện tử

Phỏng vấn trực tiếp

Phỏng vấn qua điện thoại

Phỏng vấn bằng cách tổ chức buổi họp mặt hay thảo luận nhóm

Nghiên cứu chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp để thực hiện phỏng vấn

bảng câu hỏi. Vì nó giúp truyền tải thơng tin một cách tớt nhất về tình h́ng giả

định đến người được hỏi, kết hợp với các công cụ minh họa như: hình vẽ, biểu đồ…

sẽ giúp người được hỏi hiểu kĩ hơn về mục đích của nghiên cứu. Ngồi ra, việc ngồi

nghe phỏng vấn viên mơ tả về tình h́ng sẽ hấp dẫn người được hỏi hơn nhiều so

với việc họ phải tự đọc tình h́ng đó. Điều này tạo nên sự hợp tác giữa người

phỏng vấn và người trả lời làm cho chất lượng cuộc phỏng vấn cao hơn. Để tiến

hành thu thập dữ liệu theo phương pháp này, đòi hỏi phải được lập kế hoạch cẩn

thận khi sử dụng nhiều người phỏng vấn và cần phải huấn luyện. Giá trị thông tin sẽ

tùy thuộc vào kỹ năng của người phỏng vấn, người trả lời có thể nói những điều làm

hài lòng người phỏng vấn. Ngồi ra, phương pháp này tiêu tốn nhiều thời gian đối

với các bên và chi phí cao.

Những quy tắc để có cuộc phỏng vấn tốt

Kết quả của các nghiên cứu CVM phụ thuộc vào rất nhiều yếu tớ. Vì thế, để

hạn chế thấp nhất những sai lệch xảy ra trong quá trình nghiên cứu, đội ngũ nghiên

cứu phải tuân theo những qui tắc nhất định nhằm khắc phục các hạn chế của

phương pháp này. Để một cuộc phỏng vấn có chất lượng tốt, các phỏng vấn viên

cần tuân theo các quy tắc sau: (1) Đọc các câu hỏi chính xác giớng như trong bảng



28



câu hỏi, đừng thay đổi. (2) Đọc câu hỏi đủ chậm để người nghe có thể hiểu được.

(3) Để cho người được hỏi có thời gian trả lời. (4) Nếu người được hỏi không hiểu

hãy lập lại câu hỏi. (5) Giữ nguyên thái độ đối với câu trả lời của người được hỏi.

(6) Đừng tỏ ra bối rối đối với những câu trả lời tế nhị. (7) Đừng gợi ý câu trả lời. (8)

Đừng lập lại câu trả lời. (9) Phỏng vấn riêng với người được phỏng vấn. (10) Không

nên khuyên nhủ người nghe về những vấn đề cá nhân của họ. (11) Trả lời trực tiếp

bất kỳ câu hỏi nào mà người được phỏng vấn hỏi về mục đích của cuộc khảo sát.

(12) Lắng nghe một cách cẩn thận các câu trả lời của họ. (Amon, Joseph et al 2000,

Martha Ainsworth, 2003)

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả được sử dụng để mơ tả những đặc tính cơ bản của dữ

liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau.

Trong nghiên cứu, sử dụng phương pháp thớng kê mơ tả để phân tích tình

hình sử dụng nước sinh hoạt tại 2 xã Trạm Hành và Tà Nung trong thời gian qua, và

phân tích thớng kê đặc điểm mẫu điều tra.

2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp thu thập từ các nghiên cứu trước đây có liên quan đến địa bàn

nghiên cứu: Sớ liệu về kết quả xây dựng nông thôn mới tại thành phố Đà Lạt được

thu thập từ các báo cáo của UBND TP Đà Lạt, ngồi ra có một sớ thông tin được

thu thập từ internet.

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên trực tiếp 120

người dân:

Chọn ngẫu nhiên 60 người dân sống ở Trạm Hành, đây là những hộ nằm

trong danh sách chưa được tiếp cận với nguồn nước máy do cán bộ xã cung cấp.

Chọn ngẫu nhiên 60 người dân sống ở Tà Nung, đây là những hộ nằm trong

danh sách chưa được tiếp cận với nguồn nước máy do cán bộ xã cung cấp.



29



2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được để trong cách tập tin excel, và cho xử lý bằng phần

mềm eview 3.0 cùng các thao tác xử lý trong excel, sử dụng mơ hình logit để chạy

dữ liệu.

2.3. Nội dung nghiên cứu

Tìm hiểu nhận thức của người dân về Chương trình cung cấp nước sinh hoạt

Nhận thức của người dân có ảnh hưởng rất lớn trong việc xây dựng hệ thống

cung cấp nước sinh hoạt và nó cũng ảnh hưởng đến mức sẵn lòng đóng góp cho

việc xây dựng hệ thớng cung cấp nước sạch. Nhận thức của người dân càng cao thì

ý thức về những lợi ích mà họ có thể nhận được càng cao. Từ đó, ảnh hưởng đến

mức họ sẵn sàng đóng góp để tham gia xây dựng hệ thớng nước sach. Vì vậy, đánh

giá nhận thức của người dân là rất quan trọng và cần thiết.

Để đánh giá được nhận thức của người dân, trong nội dung bảng câu hỏi có

những câu hỏi về việc sự đánh giá cũng như hiểu biết của người dân về ý nghĩa, lợi

ích của nguồn nước đối với đời sống của họ.

Ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình của người dân

Trước tiên, phải xác định vấn đề cần đánh giá. Người dân ở 2 xã vùng ven

Đà Lạt gồm Trạm Hành và Tà Nung chủ yếu sớng bằng nghề nơng và có điều kiện

khó khăn hơn so với các phường thuộc thành phố Đà Lạt về cơ sở vật chất và hạ

tầng. Nước ta đang từng ngày phất triển nên có sự ưu tiên phát triển ở những khu

vực nông thôn, nhằm giúp đỡ và góp phần cải thiện đời sớng cho người dân vùng

nơng thơn. Tuy nhiên, khơng chỉ có nhà nước xây dựng hồn tồn mà cần có sự

giúp sức của người dân mới có thể xây dựng thành cơng và hiệu quả chương trình

cung cấp nước sinh hoạt. Vì vậy, đề tài này nhằm xác định mức sẵn lòng trả của

người dân để người dân có được những lợi ích sau khi hồn thành hệ thớng cung

cấp nước sạch.

Cuộc khảo sát được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp những người

được hỏi thông qua Bảng câu hỏi được thiết kế và điều tra thử trước khi đi phỏng



30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×