Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Quá trình đơ thị hóa là sự phát triển của nền văn minh phi nông ngiệp trên cơ

sở phát huy các tiềm năng KT-XH của mỗi quốc gia. Q trình đơ thị hóa là một

vấn đề tổng thể của nhiều lĩnh vực, trong đó việc tổ chức lại các khu dân cư, sự hình

thành các quy hoạch khơng gian lãnh thổ, sự quy hoạch hóa các loại kiến trúc đều

gắn liền với đặc điểm lịch sử, xã hội và nhân văn của thị dân. Đơ thị hóa đã, đang

và sẽ mang lại các mặt tích cực như thúc đẩy phát triển KT-XH rõ rệt, đồng thời nó

cũng nảy sinh những mặt tiêu cực như thu hẹp đất đai canh tác nông nghiệp, gây

nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Theo Lê Quang Huyên (2003) đơ thị hóa khơng bị bó hẹp ở việt hình thành

các đơ thị trong đó có cơng nghiệp – dịch vụ mà chính xác hơn, đơ thị hóa còn có ý

nghĩa là cơng nghiệp hóa cả địa bàn nơng thơn, đưa cơng nghiệp về nơng thơn thơng

qua các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút lao động nông thôn, hạn chế sự di động nhân

lực từ nông thôn vào thành thị.

Theo Đỗ Văn Qúy (2007) đối với Việt Nam, quá trình phát triển đơ thị có thể

chia thành các giai đoạn như sau: Giai đoạn trước năm 1954, Pháp thiết lập bộ máy

quản lý tại Việt Nam, củng cố và mở rộng các thành phố cũ và phát triển các thành

phố mới, đặc trưng là Hải Phòng, Hà Nội và Sài Gòn. Thời kỳ này cơng nghiệp phát

triển nhưng còn yếu. Giai đoạn từ năm 1990: Vào những năm 1954 đến 1975, tốc

độ đơ thị hóa của Việt Nam đã phát triển nhưng còn chậm. Từ năm 1975 đến năm

1990, nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng trì trệ, đơ thị hóa diễn ra chậm. Giai

đoạn từ năm 1990 trở lại đây, đơ thị hóa của Việt Nam phát triển nhanh. Năm 1990,

cả nước có 500 đơ thị lớn, nhỏ; đến năm 2000 đã tăng lên tới 649 đô thị, năm 2003



5



số đô thị đã lên tới 656. Dân số đô thị tăng lên từ 11,87 triệu người (năm 1986

chiếm 19,3 % dân số cả nước) lên 13 triệu người (năm 1990 chiếm 20,75% dân số

cả nước); năm 2000 chiếm 25%; năm 2002 chiếm 25,3%; dự báo năm 2010 là 33%

và đến năm 2020 sẽ là 45%. Đô thị hóa làm diện tích đất đơ thị tăng dần. Năm

1999, diện tích các đơ thị chiếm 0,2 % trên tổng diện tích đất tự nhiên của mỗi quốc

gia đã tăng lên 1% vào năm 2003. Các khu công nghiệp cũng phát triển mạnh, năm

1991, cả nước mới có 1 khu cơng nghiệp mói nhưng đến năm 2003 cả nước đã

thành lập thêm 82 khu cơng nghiệp. Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước

đã có gần 200 khu công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên

6.000 dự án đầu tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần lớn

diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ

yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân (Ngô Thị Mỹ, 2009).

Việc phát triển các khu công nghiệp bên cạnh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

nâng cao đời sống kinh tế xã hội của địa phương, nhưng việc phát triển các KCN đã

và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, nhất là việc chăm lo ổn định đời

sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất (Lê Du Phong, 2005).

Khi phân tích tác động của cơng nghiệp hóa đến sinh kế của hộ thì sinh kế

(hay hướng SX) của hộ hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn lực mà hộ có. Khi diện tích

đất nơng nghiệp giảm nên các hộ không thể tập trung hết vào hoạt động trồng trọt

được và do đó họ phải tự có sự thay đổi trong hướng sản xuất của mình. Qua điều

tra tại địa bàn huyện cho thấy có khá nhiều hộ đã chuyển sang tập trung cho chăn

ni, một số ít thì kiêm thêm ngành nghề phụ như đan lát, may thêu hoặc phụ hồ,…

để góp phần tăng thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên cũng có rất nhiều hộ đã biết tận

dụng những lợi thế về vị trí của mình để kinh doanh dịch vụ phục vụ người dân địa

phương cũng như các KCN. Bởi vậy theo nhận định của những hộ bị mất đất thì

trên 60% số hộ cho rằng thu nhập của hộ có xu hướng ổn định và tăng lên (Ngô Thị

Mỹ, 2009).



6



Khi đánh giá những tác động tiêu cực của người dân bị thu hồi đất để phục

vụ cho cơng nghiệp hóa thì Nguyễn Phúc Thọ (2005) kết luận rằng lao động của hộ

thu hồi đất chủ yếu là lao động nơng nghiệp, trình độ học vấn thấp, lao động khơng

qua đào tạo là khó khăn cho việc chuyển đổi nghề giải quyết việc làm ở địa phương.

Nhóm nghiên cứu về đời sống của người dân bị thu hồi đất do đơ thị hóa ở Đồng

Tháp, Vũ Đình (2010) kết luận nghề nghiệp và việc làm của người dân thu hồi đất

bị xáo trộn: có 34,5% số hộ tiếp tục làm nông nghiệp tại chổ, gần 36% số lao động

có việc làm ổn định, 20% số hộ chuyển nơi khác làm ăn, 44% số đi làm thuê, làm

mướn và có tới 30% số hộ trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp do thu hồi đất. Theo

Ngô Lê Duy (2011) đã sử dụng hàm Cobb-Douglas trong nghiên cứu các yếu tố ảnh

hưởng đến thu nhập của hộ nông dân ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang kết quả

phân tích hồi quy cho thấy có những yếu tố bất ổn trong thu nhập của hộ do bị thu

hồi đất.

Theo Ngân hàng Thế giới (Work Bank, 2004), cho rằng q trình đề bù giải

tỏa có thể dẫn đến những nguy cơ như người thu hồi đất bị mất cơng ăn việc làm,

mất văn hóa làng q, mất điều kiện và môi trường sinh hoạt truyền thống. Người

dân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo khi những điều kiện sản xuất và nguồn thu

nhập của họ mất đi, các mối quan hệ họ hàng cũng bị ảnh hưởng.

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2006), khi một dự án được triển

khai đầu tư thì các hộ dân sẽ bị ảnh hưởng, họ nên được tư vấn, được đền bù cho

những mất mát của họ, được hỗ trợ xây nhà và những hoạt động cộng đồng khác.

Những vấn đề này rất quan trọng nếu những hộ ảnh hưởng là người nghèo, khi họ

khơng có khả năng xoay sở thì việc hỗ trợ là hết sức cần thiết. Để tránh hoặc tối

thiểu hóa những tổn thất khi thực hiện dự án thì việc thu hồi đất và tái định cư là

không thể tránh khỏi, những kế hoạch này được đưa lên kế hoạch và thực hiện như

chương trình phát triển. ADB còn nêu thêm, những thiệt hại khác mà người dân bị

thu hồi đất có thể gặp phải như dân cư tại nơi sống mới không thân thiện hay

không có những nét tương đồng về văn hóa, những khó khăn về cơng việc làm ăn

nơi ở mới, có thể khiến người dân bị thu hồi đất phải khai thác tối đa đến mức kiệt



7



quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn và điều này gây ra hậu quả hết sức tai

hại cho môi trường; Đồng thời cũng chỉ ra rằng những người ảnh hưởng nên được

hỗ trợ để họ cải thiện mức sống, hoặc ít nhất là phục hồi cuộc sống của họ, bằng

cuộc sống cũ hoặc cao hơn trước khi họ bị thu hồi đất và di chuyển (ADB, 1995).

Những người bị thu hồi đất có nhiều rủi ro dẫn đến cuộc sống khó khăn do

họ mất đất, mất việc làm, mất nhà cửa, mất phương tiện sản xuất kinh doanh. Do

đó cần có kế hoạch chi tiết để phục hồi thu nhập cho họ, đảm bảo cuộc sống của họ

sau khi thu hồi đất được tốt hơn.

Các nguyên tắc về bồi thường đất, tại Điều 74, Luật Đất đai 2013 quy định:

Người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường

quy định tại Điều 75 của luật này thì được bồi thường. Việc bồi thường được thực

hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu khơng

có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất

thu hồi do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

Việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công

bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Về hỗ trợ, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi

nhà nước thu hồi đất, Luật Đất đai năm 2013 quy định, tai Điều 84. Hộ gia đình, cá

nhân trực tiếp sản xuất nơng nghiệp, khi nhà nước thu hồi đất nơng nghiệp mà

khơng có đất nơng nghiệp để bồi thường thì ngồi việc được bồi thường bằng tiền

còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm. Trường hợp người

được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có

nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn

hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đải để phát triển sản xuất, kinh

doanh.

Mặc dù, các chính sách được quy định khá chặt chẽ và cụ thể. Tuy nhiên,

việc triển khai thực hiện các chính sách này trong thực tế vẫn còn nhiều bất cập,

đơi lúc bỏ sót làm người bị thu hồi đất chịu nhiều thiệt thòi, cuộc sống khó khăn

hơn. Do vậy, sự tham vấn và tham gia của những người bị ảnh hưởng từ thu hồi đất



8



và cộng đồng dân cư trong vùng thực hiện dự án là điều quan trọng cho sự thành

cơng của chương trình phục hồi thu nhập.

1.2. Khảo luận nghiên cứu có liên quan

Theo Scoones (1998), những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình

bao gồm: vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội. Vốn tự nhiên

là đất đai, nước, khơng khí… là cơ sở cho tất cả các hoạt động kinh tế của con

người. Vốn tài chính bao gồm các khoản tiết kiệm và tín dụng cho biết khả năng

của một hộ gia đình trong việc tiết kiệm và tiếp cận tín dụng cho đầu tư vào hoạt

động tạo thu nhập. Vốn con người mô tả các yếu tố như giáo dục, lực lượng lao

động và giới tính. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao

động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả

công việc của họ. Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa con

người với nhau: sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẽ những giá trị đạo

đức, phong cách kết nối những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại

với nhau.

Có nhiều nghiên cứu về sự thay đổi thu nhập do thay đổi điều kiện sống,

chẳng hạn như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995), để tránh hoặc tối thiểu

quá những tổn thất khi thực hiện dự án thì việc thu hồi đất và tái định cư là không

thể tránh khỏi, cần được lên kế hoạch và thực hiện như chương trình phát triển.

ADB chỉ ra rằng những người chỉ ảnh hưởng nên được trợ giúp để họ cải thiện

mức sống, hoặc ít nhất là phục hồi cuộc sống của họ về mức ngang bằng cuộc sống

cũ hoặc cao hơn trước khi họ bị thu hồi đất và di chuyển. Điều quan trọng là khi

lấy đất người dân cần chú ý đến sinh kế và thu nhập; Ngân hàng Thế giới (World

Bank, 2004) cụ thể hơn bằng cách đưa ra sinh kế cho người dân bị thu hồi đất như

tạo cơng ăn việc làm, cung cấp tín dụng và các giải pháp sinh kế khác.

Phục hồi thu nhập là một phần quan trọng của chính sách thu hồi đất khi

những người bị ảnh hưởng mất đi cơ sở sản xuất, kinh doanh, việc làm hoặc các

nguồn thu nhập khác. Các phương án tạo thu nhập bao gồm: tín dụng trực tiếp đối

với doanh nghiệp nhỏ và tự làm; xây dựng các kỹ thuật thông qua đào tạo; hỗ trợ



9



trong việc tìm kiếm các cơ hội trong doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân và ưu tiên

đối với những người bị ảnh hưởng trong việc tuyển chọn lao động liên quan đến dự

án hoạt động. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, cần phục hồi khơng phải chỉ có thu nhập

mà còn cả sinh kế bền vững cho những đối tượng bị tổn thương do thu hồi đất. Sinh

kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội)

và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (DFID, 1999).

Theo mơ hình sinh kế bền vững (DFID, 1999), một chính sách về bồi

thường, hỗ trợ người bị thu hồi đất tạo được sinh kế bền vững khi nó tác động các

tài sản sinh kế của người dân (con người, nhân lực, vật chất, tài chính và nguồn lực

tự nhiên) và kết hợp thay đổi phương thức sinh kế (nông nghiệp và phi nông

nghiệp) đảm bảo tăng thu nhập người dân sau khi thu hồi đất. Vốn tự nhiên là tài

nguyên thiên nhiên như khí hậu, đất đai, nguồn nước, tính đa dạng sinh học, hệ

sinh thái, quyền tiếp cận và sử dụng tài nguyên tự nhiên. Vốn tự nhiên đặc biệt

quan trọng đối với những người có cuộc sống chủ yếu dựa vào tài nguyên (chăn

nuôi, trồng trọt, đánh bắt cá, hái lượm trong rừng, khai thác khoáng sản...). Vốn vật

chất bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, nhà xưởng, nước sạch vệ sinh

môi trường, nhiên liệu, năng lượng, thông tin), tài sản sản xuất: cơng cụ sản xuất,

máy móc thiết bị, tài sản tiêu dùng. Vốn vật chất đáp ứng cơ bản nhu cầu của con

người, do vậy nó rất cần thiết để hỗ trợ thu nhập. Vốn tài chính bao gồm tiền mặt,

tiền gửi, vàng bạc đá quý, khả năng tiếp cận tín dụng, tiền hưu, tiền trợ cấp chính

phủ, tiền gửi nhân dân. Vốn tài chính là loại tài sản linh hoạt nhất trong 5 loại tài

sản bởi nó có thể được chuyển đổi một cách dễ dàng thành các loại vốn khác. Vốn

con người là số lượng và vật chất lao động, quy mô nhân khẩu, giáo dục, học vấn,

kiến thức, kỹ năng, tiềm năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe. Đây là yếu tố được

xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng của một cá nhân, một gia

đình sử dụng và quản lý các nguồn vốn khác. Vốn xã hội bao gồm vị trí xã hội, liên

kết với các mạng xã hội, thành viên trong nhóm cộng đồng, tổ chức, các mối quan

hệ tin cậy, nhượng bộ, trao đổi. Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng

nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng thu



10



nhập của họ. Vốn xã hội tác động trực tiếp đến các loại vốn khác bằng cách cải

thiện hiệu quả của quan hệ kinh tế, vốn xã hội có thể giúp tăng thu nhập của người

dân và tỷ lệ tiết kiệm, giúp cải thiện quản lý các nguồn lực chung duy trì cơ sở hạ

tầng dùng chung, mạng xã hội tạo điều kiện cho sự đổi mới, sự phát triển của kiến

thức và chia sẽ các kiến thức đó.



Hình 1.1. Khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, 1999

Nguồn: Khung sinh kế bền vững của DFID, 1999

Theo nghiên cứu của Trần Hoàng Anh (2001) về các yếu tố tác động đến

thu nhập của hộ gia đình ở nơng thơn Việt Nam thì có các yếu tố tác động đến thu

nhập của hộ như: số năm đến trường của các thành viên trong hộ; kích cỡ hộ; diện

tích đất canh tác của hộ gia đình.

Theo nghiên cứu của Thái Thanh Phong (2009) thì tiền đền bù đất và đất tái

định cư là tài sản quan trọng mà các hộ dân bị di dời đã sử dụng cho đầu tư phục

hồi sinh kế. Số tài sản này ảnh hưởng trực tiếp đến tổng mức thu nhập của hộ gia

đình sau thu hồi đất. Qua nghiên cứu, có một số yếu tố có mối quan hệ đồng biến



11



với thu nhập của hộ gia đình như: Trình độ học vấn của chủ hộ; số lao động trong

hộ. Các yếu tố có mối qua hệ nghịch biến với thu nhập của hộ gia đình như: tỷ lệ

số người lao động phụ thuộc trong hộ gia đình; diện tích đất bị thu hồi.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Thị Bảo Châu và Nguyễn

Đinh Yến Oanh, Nguyễn Thị Thanh Huệ và Trương Toại Nguyện (2012). Nghiên

cứu tác động của khu công nghiệp đến sự thay đổi thu nhập của cộng đồng bị thu

hồi đất đối với trường hợp khu công nghiệp Hòa Phú tỉnh Vĩnh Long. Qua kết quả

nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi đáng kể về sinh kế của cộng đồng sau khi bị thu

hồi đất. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi thu nhập của hộ dân là trình độ học

vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ, tỷ lệ người phụ thuộc, diện tích đất bị thu

hồi, phương án sử dụng tiền đền bù, tham gia làm việc tại khu công nghiệp.

Theo nghiên cứu của Huỳnh Văn Chương, Ngô Hữu Hoạnh (2010), nghiên

cứu ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến thu

nhập người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Nghiên

cứu chỉ ra việc thu hồi đất làm thay đổi tài nguyên tạo thu nhập thực sự là một xáo

trộn cuộc sống của người nông dân. Các nguồn tài nguyên tạo thu nhập có sự luân

chuyển cho nhau, qua điều tra và phân tích thì tài sản đất đai của người nơng dân

chuyển thành vốn tài chính và vốn vật chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn

vốn xã hội và nguồn vốn con người trong nhóm các nguồn tài nguyên tạo thu nhập.

Nhiều hộ dân tuy có thu nhập cao hơn sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang

đất phi nơng nghiệp để thực hiện q trình đơ thị hóa nhưng người dân khơng n

tâm do thu nhập không ổn định và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận An (2012) về đánh giá ảnh hưởng

của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới thu nhập của người dân tại dự án xây

dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Nghiên cứu cho thấy

70,75% số hộ điều tra có thu nhập cao hơn so với trước khi thu hồi đất. Nguồn thu

nhập của những hộ này chủ yếu từ các hoạt động buôn bán nhỏ lẻ, làm dịch vụ.

Tuy nhiên, nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp bị giảm đi đáng kể

trong tổng thu nhập của người dân, thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi nông



12



nghiệp.

Theo nghiên cứu của Đinh phi Hổ và Nguyễn Huỳnh Sơn Vũ (2011) dựa trên

kết quả của việc phân tích khung sinh kế bền vững đưa ra nhận định các yếu tố ảnh

hưởng đến thu nhập của người dân: trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, tỷ

lệ phụ thuộc, quy mô lao động, diện tích đất bị thu hồi, mục đích sử dụng tiền đền

bù, lao động làm việc trong khu cơng nghiệp.

Nhìn chung những kết quả từ những đề tài, cơng trình nghiên cứu của các

tác giả, nhà nghiên cứu đều cho rằng việc thu hồi đất để thúc đẩy phát triển kinh tế

có tác động tích cực đến thu nhập của người dân, làm thu nhập có tăng lên, góp

phần phát triển kinh tế chung của từng địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc

thu hồi đất cũng tồn tại khơng ít những bất cập về các chính sách bồi thường, hỗ

trợ tái định cư, ổn định tìm kiếm việc làm, từ đó xuất hiện nhiều vụ việc khiếu nại,

khiếu kiện đơng người gây mất ổn định chính trị - xã hội của địa phương.

Mặc dù có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến công tác thu hồi đất nhưng

tại tỉnh Đồng Nai, có thể nói chưa có đề tài nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng

đến thu nhập của người dân bị thu hồi đất một cách cơ bản, tồn diện và hệ thống.

Vì vậy nghiên cứu này sẽ giúp rút ra được những yếu tố có ý nghĩa thiết thực cho

công tác thu hồi đất được thực hiện tốt hơn trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy

phát triển kinh tế xã hội của huyện Nhơn Trạch nói riêng và các nơi khác nói chung.

1.3. Khung phân tích

Dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển quốc tế

Vương Quốc Anh (DFID, 2003)

Khung sinh kế bền vững thể hiện sự tác động qua lại giữa các nhóm sinh kế,

gồm năm nhóm: nhóm chính sách sinh kế, nhóm dễ tổn thương, nhóm tài sản sinh

kế, nhóm chiến lược sinh kế, nhóm kết quả sinh kế. Trong mỗi nhóm sinh kế chứa

các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự thay đổi cuộc sống của

người dân. Dựa vào nhóm tài sản sinh kế, nghiên cứu sẽ rút ra những yếu tố có ý

nghĩa giải thích cho sự thay đổi thu nhập của người dân khi bị thu hồi đất.



13



Hình 1.2. Khung phân tích thu nhập bền vững

Nguồn: Dựa trên khung sinh kế bền vững (DFID, 2003)

Theo mơ hình thu nhập bền vững, nhóm chính sách thu nhập cho thấy sự

chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp cho tiến trình cơng

nghiệp hóa và đơ thị hóa tác động lên nhóm dễ bị tổn thương là người dân bị thu

hồi đất (đời sống, sinh kế, thay đổi thu nhập). Nhóm nghiên cứu phân tích các yếu

tố tác động, ảnh hưởng để tìm ra các yếu tố từ nhóm tài sản thu nhập bao gồm:

Trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, số lao động trong hộ, tuổi chủ hộ, tỷ lệ phụ

thuộc, diện tích thu hồi đất, số lao động có việc làm trong khu cơng nghiệp, khả

năng đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm có một kết quả sinh kế bền vững là nâng

cao thu nhập và ổn định cuộc sống người dân.

1.4. Các giả thuyết nghiên cứu

Qua các lý thuyết nghiên cứu, các nghiên cứu trong và ngoài nước và dựa

trên khung sinh kế bền vững (DFID, 2003), Đinh Phi Hổ và Nguyễn Huỳnh Sơn

Vũ, 2001; Nguyễn Hoàng Bảo và Nguyễn Minh Tuấn, 2013 đã nhận diện tám yếu

tố ảnh hưởng đến thu nhập sau thu hồi đất: Trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, số



14



lao động trong hộ, tuổi chủ hộ, tỉ lệ phụ thuộc, diện tích đất thu hồi, số lao động có

việc làm trong khu cơng nghiệp, khả năng đầu tư sản xuất kinh doanh.

Giả thuyết nghiên cứu các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến sự thay đổi thu

nhập của hộ dân sau khi bị thu hồi đất ở dự án thu hồi đất xây dựng khu dân cư đô

thị tại xã Phước Thiền bao gồm:

Tuổi của chủ hộ: Khi người chủ hộ có tuổi đời càng cao thì càng tích lũy

được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, điều này có thể giúp họ có khả năng

kiếm được mức thu nhập cao hơn so với hộ ít tuổi hơn, do đó sẽ làm gia tăng xác

suất cải thiện thu nhập của hộ.

Giới tính của chủ hộ: Ở vùng nơng thơn do cần nhiều sức khỏe cơ bắp để

lao động. Vì vậy những hộ gia đình có chủ hộ là nam có nhiều khả năng có thu

nhập cao hơn những hộ là nữ sau khi thu hồi đất.

Trình độ học vấn của chủ hộ: Những hộ có trình độ học vấn tốt sẽ biết vận

dụng khoa học tiến bộ vào lao động sản xuất. Vì vậy khả năng những hộ có trình

độ học vấn sẽ có mức thu nhập cao hơn những hộ khơng có trình độ học vấn.

Số lao động trong hộ: Khi gia đình mà số người có khả năng lao động tạo ra

của cải càng cao, thì khả năng tạo ra nguồn thu nhập càng lớn cho gia đình và xã

hội và vì vậy sẽ làm cho xác suất cải thiện thu nhập của hộ đó cao hơn hộ có ít lao

động.

Tỷ lệ người phụ thuộc: Khi một hộ có số người khơng tạo ra được nguồn

thu nhập cho gia đình, ngược lại người khác còn phải ni sống họ làm cho nguồn

thu nhập bị giảm đi. Vì vậy sẽ làm cho xác suất cải thiện thu nhập của hộ cũng thấp

đi.

Hộ gia đình có người làm việc trong khu cơng nghiệp: Khi hộ gia đình có

nhiều lao động làm việc trong khu công nghiệp, tức là họ có người tạo ra nguồn thu

nhập cho gia đình đó. Vì vậy, xác suất đối với hộ có người đi làm việc thì thu nhập

càng tăng.

Diện tích đất bị thu hồi lớn: Khi diện tích đất bị thu hồi càng lớn thì số tiền

nhận bồi thường từ đất càng cao, điều này làm cho hộ đó có được nhiều tiền nâng



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×