Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2- Chi ngân sách cho giáo dục Trung học phổ thông:

2- Chi ngân sách cho giáo dục Trung học phổ thông:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào mục lục NSNN, dựa vào những đặc điểm hoạt động của ngành

giáo dục - đào tạo, nội dung chi NSNN cho giáo dục THPT đựơc chia thành 4

nhóm.

* Chi cho con người.

Đây là một khoản chi lớn nó bao gồm về chi lương, phụ cấp lương,

BHXH, phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ công nhân viên của nhà trường.

Khoản chi này là khoản chi cho con người, do vậy nó giúp cho người lao

động bù đắp được sức lực đã bỏ ra và đảm bảo cho quá trình tái sản xuất sức

lao động của họ, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất xã hội diễn ra một

cách bình thường.

Trong giáo dục chi cho con người chủ yếu là chi kinh phí cho giáo viên,

cán bộ công nhân viên ngành giáo dục. Khoản chi này hàng năm được xác

định dựa vào số giáo viên, cán bộ cơng nhân viên dự kiến có mặt kỳ kế hoạch.

Cụ thể số chi có được thể hiện qua cơng thức:



n



ccn =  (mcni x Scni)

i=1

Trong đó:

Ccn: Số chi kinh phí giáo viên kế hoạch.

Mcni: Mức chi bình qn 1 giáo viên dự kiến kế hoạch.

Scni: Số giáo viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạc.

(Mcn: thường đựơc xác định dựa vào mức chi thực tế của kỳ báo cáo, có

tính đến những thay đổi của nhà nước có thể xảy ra về mức lương, phụ cấp và

một số khoản khác).

Scni = (Số giáo viên có mặt cuối năm báo cáo) + (Số giáo viên dự kiến

tăng bình quân năm kế hoạch) - (Số giáo viên dự kiến giảm bình qn năm kế

hoạch).



SV: Chu Hải Đơn



Lớp: K39 – 01.02



Số giáo viên dự kiến (Số giáo viên dự kiến tuyển dụng) x Số tháng làm việc

Tăng BQ năm KH =

12

Số giáo viên dự kiến (Số giáo viên dự kiến tuyển dụng) x Số tháng làm việc

=

Giảm BQ năm KH

12

* Chi phí quản lý hành chính:

Đây là khoản chi mang tính chất tiêu dùng tuy nó khơng lớn nhưng

khoản chi này mang lại lợi ích cho việc quản lý hoạt động bình thường gồm:

Cơng tác phí, hội nghị phí, cơng vụ phí, khoản chi này đối với ngành giáo dục

được xác định qua công thức:



n



cql =  (mqli x Scni)

i=1

Trong đó:

CQl: Số chi quản lý hành chính kỳ kế hoạch.

MQL: Mức chi quản lý hành chính BQ 1 giáo viên dự kiến kỳ KH.

SCni: Số giáo viên BQ dự kiến có mặt trong năm kế hoạch.

* Chi cho nghiệp vụ chuyên môn:

Bao gồm các khoản chi mua sắm sách giáo khoa, đồ thí nghiệm, các

mơ hình, đồ dùng cho hoạt động giảng dạy như: Phấn viết, bảng đen, thước

kẻ… Đây là khoản chi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục vì vậy

cần có sự quan tâm đầu tư thích đáng.

* Chi mua sắm sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ.

Đây là khoản chi không diễn ra thường xuyên hàng ngày, hàng tháng,

do vậy khi có nhu cầu thì khoản chi thường rất lớn. Khoản chi này thường

diễn ra hàng năm do trong quá trình sử dụng bàn ghế, bảng, trường lớp xuống



SV: Chu Hải Đôn



cms =  (ngi x Ti)



Lớp: K39 – 01.02



cấp, hỏng hóc, vì vậy cần có một khoản kinh phí đảm bảo cho việc tu bổ xây

dựng mới, nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy. Mức chi cho công tác

sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ được thiết lập dựa trên tình hình tài sản, khả

năng tài chính và khâu dự tính mức chi cho mua sắm, sửa chửa lớn và xây

dựng nhỏ. Cụ thể:

n

i=1

Trong đó:

CMS: Số chi mua sắm sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của NSNN dự kiến

kỳ kế hoạch.

NGi: Nguyên giá tài sản cố định hiện có của ngành.

Ti: Tỷ lệ phần trăm được áp dụng để xác định kinh phí dự kiến chi cho

mua sắm sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của ngành.

Các nhóm chi kể trên phát sinh thường xuyên và tương đối ổn định nên

các định mức chi được xây dựng khá khoa học và có tính thực tiễn. Ngồi

những nội dung chi kể trên, chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục còn có những

khoản chi ngồi định mức, đó là những khoản chi cho các chương trình mục

tiêu quốc gia mà NSTƯ cấp phát kinh phí uỷ quyền cho Sở Tài Chính.

Nhũng khoản chi này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục một cách tồn diện

nhưng phát sinh khơng thường xun nên việc quản lý các khoản này tương

đối phức tạp,dễ gây lãng phí, thất thốt.

1.2.2- Đặc điểm chi ngân sách nhà nước cho giáo dục Trung học phổ

thơng:

Trong nhóm các khoản chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn - xã

thì chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục chiếm tỷ trọng lớn, chi NSNN cho sự

nghiệp giáo dục là một trong những khoản chi thường xun vì vậy nó mang

đầy đủ đặc điểm của chi thường xuyên:



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Thứ nhất, chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi cơ bản có

tình ổn định khá rõ nét.

Tính ổn định ở đây được hiểu theo nghĩa là trong bất cứ hoàn cảnh nào,

giai đoạn phát triển nào của lịch sử thì Nhà nước cũng ln phải chăm lo cho

sự nghiệp Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và trình độ

khoa học kỹ thuật cho mọi người.

Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng

cuối cùng của vốn cấp phát thì chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục THPT mang

tính chất tiêu dùng xã hội.

Kết quả của hoạt động giáo dục không tạo ra của cải vật chất tuy nhiên

nó có mục đích đầu tư cho con người, tạo ra được những con người có đủ

năng lực làm việc và trình độ để tiếp thu, ứng dụng va sáng chế ra những phát

minh mới, luôn tự hồn thiện bản thân. Vì thế cũng có thể coi chi cho GD ĐT mang tính chất tích luỹ đặc biệt.

Thứ ba, phần lớn các khoản chi NSNN cho giáo dục THPT mang tính

chất khơng hồn trả trực tiếp.

Tính khơng hồn trả trực tiếp thể hiện ở chỗ khơng phải mọi khoản thu

với mức độ và số lượng của các địa chỉ cụ thể nêu đều được hoàn lại dưới

hình thức chi NSNN cho giáo dục THPT. Các khoản cấp phát từ NSNN cho

các trường khơng phải lo hồn trả mà coi như một khoản tài trợ hay bao cấp

của Nhà nước.

Thứ tư, chi NSNN cho giáo dục THPT là khoản chi mang tính chất tích

luỹ đặc biệt.

Xét theo từng niên độ của việc cấp phát NSNN thì chi NSNN cho sự

nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dụcTHPT nói riêng là khoản chi

mang tính chất tiêu dùng xã hội, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã

hội ở mỗi năm đó. Nhưng xét về tác dụng lâu dài, chi NSNN cho giáo dục nói

chung và giáo dụcTHPT nói riêng lại là khoản chi có tính tích luỹ đặc biệt.

Bởi vì khoản chi này là nhân tố quyết định đến việc làm, tăng trưởng nền kinh



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



tế trong tương lai. Đặc biệt trong thời đại hiện nay, khoa học kỹ thuật trở

thành yếu tố trực tiếp cua sản xuất, mọi của cải làm ra, tỷ lệ chất xám chứa

đựng trong giá trị của chúng ngày càng lớn. Có được khoa học, có được chất

xám là nhờ đầu tư tiền của cho hoạt động giáo dục - đào tạo.

Ngoài những đặc điểm trên chi NSNN cho giáo dục THPT còn có một

số các đặc điểm khác như chi NSNN cho giáo dục THPT gắn với quyền lực

Nhà nước, chi NSNN cho giáo dục THPT vừa mang tính ngang giá lại vừa

mang tính chất khơng ngang giá…

1.3.- Quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục Trung học phổ thông:

Quản lý chi NSNN là việc làm cần thiết gắn với việc chi NSNN nhằm

đảm bảo các khoản chi NSNN được thực hiện đúng với mục đích sử dụng và

đạt hiệu quả cao.

Nội dung quản lý NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và

sự nghiệp giáo dục THPT nói riêng bao gồm 3 khâu:

- Lập dự tốn.

- Chấp hành dự toán.

- Quyết toán chi NSNN

1..3.1- Lập dự tốn chi NSNN cho giáo dục Trung học phổ thơng:

Do tính phức tạp của chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục THPT, đòi hỏi

dự tính các khoản chi trong q trình lập dự tốn, mọi khoản chi phải được bố

trí trong dự toán và dự toán phải được cơ quan quyền lực nhà nứơc xét duyệt.

Lập dự toán chi NSNN cho giáo dục THPT, dựa vào các căn cứ sau:

Thứ nhất: Dựa vào định hướng phát triển KT - XH trung hạn và dài hạn

và hàng năm của các nước. Những chỉ tiêu, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển

giáo dục THPT.

Thứ hai: Dựa vào khả năng nguồn kinh phí để đáp ứng được nhiệm vụ

được giao và nội dung hoạt động của sự nghiệp giáo dục THPT.



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Thứ ba: Dựa vào các loại tiêu chuẩn định mức, các chính sách, chế độ

của nhà nước liên quan đến hoạt động giáo dục THPT.

Thứ tư: Căn cứ vào quy mô giáo dục, số giáo viên, cán bộ, số học sinh.

Cơ quan tài chính giao số kiểm tra cho các đơn vị giáo dục. Căn cứ vào

dự toán sơ bộ và thu chi NSNN kỳ kế hoạch, cơ quan tài chính xác định mức

chi tổng hợp dự kiến phân bổ cho mỗi đối tượng và trên cơ sở đó hướng dẫn

các đơn vị này lập dự tốn kinh phí.

Dựa vào số kiểm tra và các văn bản hướng dẫn lập dự tốn kinh phí,

các đơn vị dự tốn cơ sở tiến hành lập dự tốn kinh phí của đơn vị mình. Căn

cứ vào dự tốn chi thường xuyên được cơ quan quyền lực Nhà Nước xét

duyệt, cơ quan tài chính sau khi xem xét lại cho phù hợp sẽ chính thức phân

bổ dự tốn chi thường xun cho mỗi đơn vị cơ sở. Dự toán ngân sách của

các đơn vị phải phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu

chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

1.3.2- Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục Trung

họcphổ thông:

Tổ chức chấp hành kế hoạch chi là khâu thứ hai của chu trình quản lý

chi NSNN cho giáo dục THPT. Thời gian tổ chức chấp hành ở nước ta tính từ

ngày 1/1 - 31/12 dương lịch. Trong qúa trình tổ chức chấp hành dự toán chi

NSNN cho giáo dục THPT phải dựa trên các căn cứ sau:

Thứ nhất: Dựa vào chỉ tiêu trong dự toán đã được duyệt.

Thứ hai: Dựa vào mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự

toán.

Thứ ba: Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng nhu cầu chi

cho giáo dục THPT trong mỗi thời kỳ. Thứ tư dựa vào chính sách, chế độ chi

NSNN cho giáo dục THPT hiện hành.

Hình thức cấp phát:

Đối với sự nghiệp giáo dục THPT cấp phát theo hình thức hạn mức

kinh phí. Căn cứ vào dự tốn điều hành ngân sách q, Sở Tài chính thông



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



báo hạn mức chi cho các trường THPT, đồng gửi KBNN nơi giao dịch để

làm cơ sở kiểm soát, thanh toán và chi trả. Hạn mức chi ngân sách quý (Có

chi ra tháng) được phân phối là hạn mức cao nhất mà các trường phổ thơng

được chi cho q đó. Hạn mức chi ngân sách nếu sử dụng khơng hết thì được

chuyển sang tháng sau, quý sau nhưng đến ngày 31/12 vẫn không hết thì xố

bỏ.

Trình tự chấp hành dự tốn chi NSNN cho giáo dục THPT.

Căn cứ dự toán ngân sách được giao, các trường THPT lập dự toán chi

hàng quý gửi Sở Tài Chính xét duyệt kinh phí. Sở Tài chính tiến hành thẩm

tra dự toán ngân sách giáo dục nếu thâý phù hợp thì xét duyệt và ra thơng báo

gửi cho các đơn vị , đồng thời gửi KBNN nơi giao dịch.

Căn cứ vào hạn mức chi được phân phối, Hiệu trưởng các trường THPT

ra lệnh chuẩn chi kèm theo hồ sơ gửi KBNN nơi giao dịch.

KBNN nơi giao dịch căn cứ vào hạn mức chi được Sở Tài chính phân

phối cho các trường, kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ thanh toán và lệnh

chuẩn chi của Hiệu trưởng trường THPT thực hiện việc cấp phát, thanh toán.

1.3.3- Quyết toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dụcTrung họcphổ

thơng:

Quyết tốn là khâu cơng việc cuối cùng trong quy trình quản lý chi

NSNN cho giáo dục THPT. Đây là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại số

liệu đã được phản ánh sau một kỳ hạch tốn và tình hình chấp hành dự tốn

chi nhằm phân tích đánh giá kết quả thực hiện dự toán chi để rút ra kinh

nghiệm, bài học cần thiết cho việc thực hiện chi và quản lý chi ở kỳ sau.

Nội dung:

- Kiểm tra việc chấp hành định mức chi. Cụ thể kiểm tra tính hiện thực

của định mức chi và tính hợp pháp của các khoản chi so với định mức.

- Kiểm tra xác định đối tượng thụ hưởng. Cụ thể kiểm tra cách tính tốn

của các trường THPT và kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, hồ sơ thanh



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



toán, lệnh chuẩn chi của Hiệu trưởng các trường THPT so với chính sách chế

độ quy định.

Trình tự quyết toán chi NSNN cho giáo dục THPT:

Hết kỳ kế toán 31/12 các trường THPT tiến hành khoá sổ sách và đối

chiếu với KBNN nơi giao dịch, sau đó lập báo cáo quyết tốn năm gửi Sở Tài

chính xét duyệt báo cáo của các trường THPT, đồng thời tổng hợp lập quyết

tốn ngân sách của ngành giáo dục trình UBND và HĐND tỉnh phê duyệt.



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA.

2.1.Vài nét về đặc điểm tự nhiên, Kinh tế -Xã hội tỉnh Lạng Sơn:

Lạng Sơn là một tỉnh , vùng cao biên giới ở phía Bắc của tổ quốc. Lạng

Sơn có diện tích tự nhiên 8.325 km2, chiếm 2,5% diện tích cả nước. Lạng Sơn

có 10 huyện và 1 thành phố trong đó có 135/226 xã phường là xã vùng cao,

trong đó có 50 xã là xã thuộc vùng III chiếm 35,6% nên còn gặp khó khăn

trong cơng tác giáo dục ở các vùng xâu, vùng xa. Lạng Sơn với dân số

786.456 người, trong đó dân tộc Nùng chiếm khoảng 43,8%, dân tộc Tày

chiếm khoảng 35,9%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 15,3% còn lại 5% là các

dân tộc khác như : Dao, Sán Chay, Hoa ,Mông ,Thái, Mường...Địa bàn Lạng

Sơn tương đối phức tạp đồi núi chập trùng hiểm trở tuy nhiên giao thông đi lại

tương đối dễ dàng, nằm ở vị trí có các trục đường quốc lộ 1A, 1B, 4A , 4B và

3B nối liền với các tỉnh phía Bắc nên thuận lợi cho việc buôn bán , trao đổi

hàng hố khơng chỉ trong nội vùng, liên vùng mà còn là một thị trường trung

chuyển giữa nước ta với Trung Quốc, Châu á Thái Bình Dương, các nước



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



SNG và Đông Âu. Tuy nhiên giao thơng liên huyện còn rất khó khăn, đặc biệt

giao thơng giữa các xã vùng sâu, vùng cao.

Khí hậu Lạng Sơn là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung

bình từ 20-22 c so với cả nước nhiệt độ ở Lạng Sơn nhiệt độ thấp hơn từ 1-3

C

Trong vài năm trở lại đây kinh tế Lạng Sơn tương đối phát triển qua kế

hoạch phát triển KT-XH năm 1996-2000 tỉnh đã đạt được những kết quả sau:

Tổng sản phẩm quốc nội(GNP) bình quân tăng 9,25% là mức tăng

trưởng khá cao so với mức tăng trưởng bình quân của cả nước, trong đó tốc

độ tăng trưởng bình qn của ngành Nông ,Lâm nghiệp là 5,4%; Công nghiệp

và xây dựng tăng 18,09%; Dịch vụ tăng 13,7%;

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tương đối tích cực, giá trị ngành

Nơng, Lâm nghiệp tăng khá, song tỷ trọng giảm từ 62,1% năm 1995 xuống

còn 42% vào năm 2002. tỷ trọng ngành Công nghiệp và Xây Dựng tăng từ

9% lên 13,7%; các ngành Dịch vụ tăng từ 28,89% lên 37,2%.Công

nghiệp,tiểu thủ công nghiệp trong những năm qua đã phát triển đúng hướng

và có tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị ngành Cơng nghiệp bình quân hàng năm

tăng21,5% cao hơn mức tăng chung của cả nước. Một số cơ sở sản xuất công

nghiệp đã quan tâm đầu tư phát triển chiếu sâu, đổi mới thiết bị công nghệ,

nâng cao chất lượng sản phẩm,ổn định sản xuất và kinh doanh hiêu quả như:

Nhà máy Xi măng, xí nghiệp gạch Hợp Thành , cơng ty Cơ khí cơ điện...

Các ngành Dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng, hoạt động thương mại

sôi động ở khu vực đô thị, khu vưc cửa khẩu biên giới. Tỉnh đã quan tâm xây

dựng các chợ, cửa hàng thương mại ở Thành Phố,thị trấn, môt số trung tâm

cụm xã.Tổng mức lưu chuyển hàng hố tăng bình qn 16,02%/năm. Doanh

thu từ du lịch tăng 11,7%/năm. Có sự chuyển biến tích cực trong phát huy nội

lực cho đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng tạo điều

kiện thúc đẩy phát triển KT-XH . Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Tỉnh giai đoạn 1996-2000 là 3.565 tỷ đồng,gấp 4 lần so với thời kỳ 19911995.

Thu NSNN trên địa bàn tỉnh bình quân hàng năm tăng vân tăng trưởng

đều, do vậy có thêm điều kiện để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Quan hệ

sản xuất mới được củng cố hồn thiện, kinh tế hàng hố nhiều thành phần có

bước phát triển. Các doanh nghiệp Nhà nước được củng cố, sắp xếp lại với sự

hỗ trợ của Nhà Nước về vốn, tín dụng,hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nên đang từng

bước phát triển bền vững. Trong 5 năm qua đã chuyển đổi 22 hợp tác xã,

thành lập mới gần 30 hợp tác xã kiểu mới, kinh tế tư nhân ngày càng được mở

rộng và phát triển. Năn 2004 nền kinh tế Lạng Sơn có nhiều bứơc tiến rõ rệt

kinh tế phát triển ổn định, đặc biệt là ngành du lịch đã thu hút đựơc số lượng

du khách đến đơng là do tỉnh Lạng Sơn có một chiến lược văn hoá du lịch

một cách hợp lý

2.2.Thực trạng giáo dục Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng

Sơn:

Nhận thức được tầm quan trọng của giao dục trong sự nghiệp đổi mới

mọi mặt nền KT-XH Lạng Sơn, mặc dù còn rất nhiều khó khăn xong được sự

quan tâm của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND và

UBND tỉnh, sự phối hợp giữa các Ban,Ngành, Đoàn thể và Nhân dân trong

tỉnh, đặc biệt sự cố gắng của đội ngũ cán bộ quản lý,giáo viên và học sinh, sự

nghiệp giáo dục đào tạo THPT tỉnh Lạng Sơn đã không ngừng phát triển về cả

quy mô lẫn chất lượng.

Mạng lưới trường lớp được mở rộng, các loại hình đào tạo đã được đa

dạng hố, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Năm học 2001-2002 có 20

trường THPT (trong đó có 18 trường quốc lập ,1 trường bán công, 1trường

dân lập) và 331 lớp học (trong đó có 241 học sinh bán cơng trên tổng số 4 lớp

và334 học sinh thuộc trường dân lập) đến năm học 2002-2003 có 21 trường

THPT ,số trường THPT quốc lập tăng thêm 1 trường, tổng số hoc sinh

thuộc khối THPT cũng tăng lên là 20111 học sinh, tăng 5137 học sinh so với



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



năm học 2001-2002. Đến năm học 2003 - 2004 số học sinh PTTH đã tăng lên

đáng do một số trường mở rộng thêm quy mô và lớp học, cụ thể số lớp học ở

trường quốc lập tăng thêm 35 lớp so với năm 2002-2003, số lớp học ở trường

dân lập tăng thêm 04 lớp, do vậy số học sing cũng tăng theo theo, dự đoán số

học sinh THPT trong 5 năm trở lại đây mỗi năm tăng trung bình 1800 em

tương ứng với tỷ lệ 16%/năm. Có thể khái quát sự gia tăng về số trường lớp

qua bảng sau:



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2- Chi ngân sách cho giáo dục Trung học phổ thông:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×