Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN TỚI .

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN TỚI .

Tải bản đầy đủ - 0trang

-Trong nhưng năm trước mắt, nhanh chóng giải quyết dứt điểm những

vấn đề bức xúc, sửa chương trình đào tạo, cải tiến chế độ thi cử, khắc phục

khuynh hướng " Thương mại hoá" giáo dục.

Để thực hiện tốt các mục tiêu mà nhà nước đặt ra cho sự nghiệp giáo

dục của cả nước, ngành giáo dục tỉnh Lạng Sơn đã đưa ra nhiều kế hoạch phát

triển cho sự nghiệp GD tỉnh nói chung và cho từng cấp bậc nói riêng, nhằm

đưa chất lượng GD của tỉnh ngày càng được nâng lên. Kế hoạch phát triển

giáo dục THPT tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới đã đề ra các mục tiêu và

nhiệm vụ cụ thể sau:

Về nhận thức: Cần tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành, đoàn

thể, tổ chức cá nhân hiểu được tầm quan trọng của giáo dục, đặc biệt là đội

ngũ giáo viên nâng cao nhận thức và có trách nhiệm chăm lo phát triển cho sự

nghiệp giáo dục-đào tạo nói chung và giáo dục THPT nói riêng.

Về tăng cường cơ sở vật chất cho các trường THPT: Đây là điều kiện

quan trọng không thể thiếu được cho phát triển và nâng cao chất lượng giáo

dục và đào tạo. Tiếp tục củng cố, xây dựng mới và hiện đại hoá hệ thống

trường lớp , theo phương châm Nhà Nước và nhân dân cùng làm. Tăng cuờng

thêm trang thiết bị, đồ dùng dậy học và thí nghiệm cho tất cả các trường, đặc

biệt là trang bị hệ thống máy vi tính và phòng học ngoại ngữ cho các trường

THPT.Đến năm 2008 tất cả các trường cần phải có thư viện và các đồ dùng

dậy học thiết yếu, các trường đều phải có sân chơi, bãi tập cho học sinh.

Về hoạt động giảng dạy và học tập:

+Tiếp tục tăng cường kỷ cương, nề nếp, xây dựng môi trường giáo dục

lành mạnh, nghiêm túc thực hiện các quy định về giảng dạy và quản lý trong

nhà trường đặc biệt là khâu kiểm tra đánh giá thi cử.

+Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhất là chất lượng đạo đức

của học sinh, tiếp tục duy trì và phát triển những thành tích đạt được. Đổi mới

phương pháp dạy học. Đặc biệt chú ý đến việc thí điểm dạy học theo phòng

từng bộ mơn.



SV: Chu Hải Đơn



Lớp: K39 – 01.02



+ Rà soát lại đội ngũ giáo viên, nắm chắc số lưọng giáo viên thừa thiếu

nói chung. Sắp sếp phân cơng lại giáo viên, đảm bảo đủ tỷ lệ giáo viên phù

hợp cơ cấu các môn học vào đầu năm. Quan tâm bồi dưỡng lại đội ngũ giáo

viên, đa dạng hoá các loại hình bồi dưỡng, tạo điều kiện cho hầu hết giáo viên

đều được học tập và nâng cao trình độ, tổ chức hôị thảo và phổ biến kinh

nghiệm các giáo viên giỏi ở các bộ môn cơ bản. Xây dựng đội ngũ giáo viên

giỏi cấp tỉnh đến năm 2008 đạt tỷ lệ 5% giáo viên THPT. Triển khai kế hoạch

bồi dưỡng chu kỳ 2000-2008 cho giáo viên theo chương trình của Bộ GD-ĐT.

+Thực hiện công bằng trong giáo dục, đẩy mạnh việc phát triển ở địa

bàn KT-XH còn gặp nhiều khó khăn, phấn đấu giảm bớt chênh lệch giáo dục

ở các vùng miền.

Về tăng cường nguồn kinh phí đầu tư cho GD-ĐT:

Để tăng cưòng cơng tác đầu tư NSNN cho giáo dục cần: Hàng năm tỉnh

phải cấp đủ nguồn kinh phí thường xuyên cho GD-ĐT theo kế hoạch phân bổ

hàng năm của TƯ. Tỉnh cần nâng cao tỷ lệ đầu tư NS cho xây dưng cơ bản.

Ngoài ra trong những năm tới cần huy động học sinh, nhân dân và các cơ

quan đoàn thể,các đơn vị KT-XH trong và ngoài quốc doanh đóng góp xây

dựng nhằm hỗ trợ để giảm học phí cho học sinh hệ bán cơng dân lập, tăng

cường tranh thủ các nguồn viện trợ, các nguồn kinh phí của Bộ, TƯ và các tổ

chức nước ngồi.

Về mở rộng xã hội hoá GD- ĐT:

Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, sức manh của GD-ĐT

là ở xã hội hố giáo dục. Do đó cần: củng cố và mở rộng các hoạt động xã hội

hoá giáo dục như chăm lo động viên học sinh đi giúp học sinh nghèo, khuyến

khích học sinh giỏi, xây dựng và bảo vệ cơ sở vật chất trường khang trang

sạch đẹp.

Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm về thành lập, hoạt động và nâng cao

hiệu quả của các cơ sở GD-ĐT ngoài quốc lập cần có các biện pháp hỗ trợ về

tài chính , đất đai cho các cơ sở này.



SV: Chu Hải Đơn



Lớp: K39 – 01.02



Về cơng tác quản lý:

+Kiện tồn bộ máy quản lý, đổi mới cơ cấu tổ chức và tác phong công

tác. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đảm bảo chức năng quản lý Nhà Nước.

+Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ lãnh đạo, nâng cao

năng lực lãnh đạo và những hiểu biết cần thiết của người lãnh đạo giáo dục

hiện nay.

+Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nâng cao hiệu lực, hiệu quả

quản lý Nhà Nước về giáo dục.

3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi Ngân sách nhà

nước cho giáo dục Trung học phổ thông ở tỉnh Lạng Sơn :

3.2.1. Xây dựng tiêu chuẩn định mức chi cho giáo dục Trung học phổ

thông hợp lý và phù hợp với điều kiện từng vùng:

Định mức chi cho sự nghiệp giáo dục THPT là căn cứ để lập kế hoạch

chi, thực hiện cấp phát và cũng là căn cứ để kiểm tra việc cấp phát, quyết toán

chi. Xây dựng định mức chi chính xác, phù hợp với các đối tượng thụ hưởng

ngân sách sẽ làm cho q trình cấp phát chính xác, hiệu quả, đồng thời cũng

đảm bảo được sự công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng.

Phương thức phân bổ ngân sách cho giáo dục THPT theo đầu học sinh,

biên chế cán bộ, giáo viên đã hướng tới việc đảm bảo cấp đủ kinh phí cho các

trường hồn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên định mức chi này lại bị nhược điểm

lớn là làm tăng khoảng cách chênh lệch giữa các vùng . Bởi vì đối với vùng

giáo dục chậm phát triển, số lượng học sinh,cán bộ, giáo viên ít thì kinh phí

đầu tư cho vùng đó sẽ càng ít, do đó giáo dục vùng này lại càng kém phát

triển so với các vùng có điều kiện, số lượng học sinh, cán bộ, giáo viên đông.

Để việc phân bổ NSNN cho giáo dục THPT vùa đảm bảo nhu cầu tối

thiểu cần thiết phải chi cho mỗi trường, vùa khắc phục tình trạng mất công

giữa các vùng. Lạng sơn cần phải xây dựng tiêu chuẩn định mức chi tiêu trên

cơ sở kết hợp những chỉ tiêu KT-XH cụ thể : Số lượng học sinh, biên chế cán



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



bộ, giáo viên, cơ sở trường lớp, chế độ của Nhà Nước và đặc điểm KT-XH

của từng vùng.

3.2.2. Tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục Trung học phổ

thông Lạng Sơn:

Chi NSNN bao gồm nhiều nội dung chi liên quan đến nhiều lĩnh vực

khác nhau. Chi NSNN cho giáo dục THPT chỉ là một phần trong tổng chi nói

chung, nhưng nó lại chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa đối với sự phát triển

KT-XH cuả tỉnh. Vì vậy việc tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục

THPT là rất cần thiết. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi quy mô trường,

lớp mở rộng, số lượnghọc sinh đơng thì nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở vật

chất, trang thiết bị dụng cụ... phục vụ cho giáo dục ngày càng lớn.

Để giải quyết vấn đề này Lạng Sơn cần phải có giải pháp đồng bộ và

đầy đủ cụ thể như sau:

Một là: đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục bằng cách đa

dạng hoá các loại hình giáo dục; phát triển các trường bán cơng, dân lập. Cần

có chính sách khuyến khích để từng bước chuyển một số đủ lớn các trường,

lớp sang bán công, dân lập. Các giáo viên từ trường công chuyển sang bán

công vẫn thuộc biên chế Nhà Nước và được hưởng mọi quyền lợi về phúc lợi

công cộng, bảo hiểm xã hội.

Hai là: Khoản thu học phí của học sinh được phép giữ lại trường coi

như là một khoản kinh phí Nhà Nước cấp cho các trường THPT để thực hiện

các nhiệm vụ, hoạt động giáo dục. Ngoài các khoản miễn giảm học phí đối

với các đối tượng thuộc diện chính sách, thì Lạng Sơn cần phải từng bước

nâng dần mức học phí cho phù hợp với sự phân tầng thu nhập trong xã hội.

Ba là: Thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển giáo dục.

Khuyến khích các tổ chức và các cá nhân lập các quỹ khuyến học, quỹ

tài năng, quỹ học đường. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cá

nhân, các tổ chức trong và ngồi nước đóng góp cho sự phát triển của giáo

dục. Phần tài trợ cho giáo dục sẽ được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập.



SV: Chu Hải Đơn



Lớp: K39 – 01.02



Các cơng trình giáo dục được xây dựng bằng tiền ủng hộ của các cá nhân và

tổ chức được Nhà Nước ghi nhận bằng hình thức phù hợp theo yêu cầu của cá

nhân hoặc tổ chức tài trợ.

Bốn là:Tạo điều kiện cho các tổ chức quốc tế, các nước hợp tác để xây

dựng nền giáo dục toàn diện, tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ các nước, các tổ

chức quốc tế để bổ sung chi cho giáo dục-đào tạo nói chung và THPT nói

riêng.

Năm là: Cần tiếp tục phát huy truyền thống hiéu học và tự học của dân

tộc, tạo được một phong trào quần chúng làm cho mọi tổ chức xã hội, doanh

nghiệp, cộng đồng, mọi người, mọi gia đình đều tích cực tham gia đóng góp

về nhân tài, nhân lực và vật lực cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng mơi trường

giáo dục lành mạnh, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ.

3.2.3. Tiếp tục tăng cường tự quản lý chi cho giáo dụcTrung học phổ

thông hơn nữa để tạo điều kiện cho các đơn vị này ngày càng nâng

cao được tính tự chủ của mình vài đây là một đơn vị có thu:

Ngày 16/01/2002 Chính phủ đã ra nghị định số 10/2002/NĐ CP về"

Chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu". Đối tượng áp dụng ở

đây là các đơn vị do Nhà nước thành lập, hoạt động có thu trong các lĩnh vực

Giáo dục đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và mơi trường, văn hố tơng tin,

thể dục thể thao. Đây là một cơ chế quản lý tài chính mới nhưng bước đầu đã

cho thấy những kết quả khả quan.

Theo tinh thần Nghị định số 10, Sở Tài Chính Lạng Sơn đã tiến hành rà

soát và áp dụng cơ chế này đối với 405 đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó

riêng nghành giáo dục có tới 373 đơn vị.

Trên nguyên tắc lấy thu bù chi, các đơn vị sự nghiệp Giáo dục thuộc

diện các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí, phần còn lại do

NSNN cấp. Các nguồn tài chính của đơn vị này bao gồm:

NSNN cấp: Kinh phí hoạt động thường xuyên, kinh phí thực hiện các

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà Nước, cấp Bộ, Ngành, chương trình



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền

giao. Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ

hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng được

cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nguồn kinh phí này được cấp qua Kho

Bạc Nhà Nước vào mục 134 “chi khác” của mục lục NSNN. Đơn vị thực

hiện chi



và kế toán, quyết toán theo các mục chi của Mục lục NSNN



tương ứng với từng nội dung chi.

Nguồn tự thu sự nghiệp của đơn vị: Phần được để lạI từ số phí, lệ

phí, học phí thuộc NSNN do đơn vị thu theo quy định. Thu từ hoạt động

sản xuất, cung ứng dịch vụ. Mức thu các hoạt động này do thủ trưởng

đơn vị quyết định, theo nguyên tắc đảm bảo đủ bù đắp chi phí và có tích

luỹ.

Nguồn khác theo quy định của pháp luật (nếu có) : Viện trợ, vốn vay tín

dụng trong và ngồI nước, q biếu tặng…

Trong phạm vi nguồn tàI chính được sử dụng, các đơn vị được tự

chủ tàI chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn

định kinh phí hoạt động thường xuyên do NSNN cấp theo định kỳ 3 năm

(trung hạn) và hàng năm được tăng giảm theo tỷ lệ được Thủ tướng Chính

phủ quy định.



Thủ trưởng đơn vị tự quyết định mức chi quản lý hành



chính, chi nghiệp vụ thường xuyên tuỳ theo từng nội dung công việc nếu

thấy cần thiết và hiêu quả. Ngoài ra, các đơn vị còn được chủ động sử

dụng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao; sắp xếp và quản lý lao

động phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị theo Pháp lệnh cán bộ,

công chức và chủ trương tinh giản biên chế của Nhà Nước. Từ nguồn tiết

kiệm được các đơn vị có thể tăng thu nhập cho người lao động theo hệ

số đIều chỉnh không quá 2,5 lần so với mức lương tối thiểu do Nhà Nước

quy định.

Hàng năm, sau khi trang trải tồn bộ chi phí hoạt động và thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước theo quy định của pháp luật; số chênh



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



lệch giữa phần thu và phần chi tương ứng, đơn vị được trích lập các quỹ:

quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và quỹ

phát triển các hoạt động sự nghiệp. Việc trích lập các quỹ do thủ trưởng

đơn vị quyết định, sau khi đã thống nhất với tổ chức công đoàn của đơn vị.

Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, do mới đưa chế độ tài chính cho đơn vị

sự nghiệp có thu vào thực hiện từ quý III năm 2002 nên còn nhiều lúng

túng. Trước mắt cần tập trung tháo gỡ ngay những vướng mắc nảy sinh

trong quá trình triển khai như:

-Trình độ cán bộ làm cơng tác kế tốn tại đơn vị còn nhiều hạn chế,

chế độ kế tốn mới dành cho các đơn vị sự nghiệp có thu chưa có kịp thời nên

gây rất nhiều khó khăn cho các đơn vị trong việc cập nhập chứng từ, sổ sách

kế toán.

-Là một Tỉnh miền núi biên giới nên số thu của các đơn vị sự nghiệp

Giáo dục còn nhỏ, chưa có nguồn để tăng thu nhập cho cán bộ, giáo viên...

Trong năm ngân sách tới, cần tiếp tục phân loại, rà sốt đơn vị sự

nghiệp có thu lập dự tốn trình UBND tỉnh ra quyết định thực hiện theo cơ

chế Nghị định 10/2002/NĐ-CP. Đồng thời cần tiếp tục theo sát các đơn vị

trong áp dụng cơ chế này, khắc phục ngay những vướng mắc nảy sinh, đảm

bảo pháy huy tốt kết quả đạt được.

3.2.4. Tiếp tục hoàn thiên cơ chế cấp phát kinh phí theo hướng cấp phát

theo dự tốn:

Việc thanh tốn kinh phí NSNN trực tiếp qua hệ thống kho bạc được

hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng, ở nước ta thì còn khá mới mẻ, vì

hệ thống kho bạc mới được thành lập, các điều kiện trang bị kỹ thuật còn

nhiều chế. Vì vậy, việc đổi mới quy trình chi NSNN, cấp phát trực tiếp qua

KBNN phải được thực hiện dần từng bước trên cơ sở nâng cao hơn nữa trình

độ nghiệp vụ của cơ quan KBNN, đồng thời tổ chức có hiệu quả việc kiểm

soát trước và sau khi cấp phát.



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Theo của Luật Ngân Sách năm 2002 (có hiệu lực thi hành vào năm

2004) thì chủ yếu sẽ cấp phát kinh phí theo dự tốn được duyệt, bỏ cấp phát

theo hạn mức kinh phí. Vì thực tế, bản thân dự tốn đã là một hình thức hạn

mức kinh phí, cấp phát như hiện nay sẽ làm phức tạp hoá vấn đề, làm cho

việc cấp phát trở nên trồng chéo, khó kiểm sốt. Điều 56 Luật NSNN năm

2002 nêu rõ :"Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện

nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi KBNN.

KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của

pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định tại

khoản 2 điều 5 của Luật này theo phương thức thanh tốn trực tiếp. Bộ

trưởng Bộ Tài Chính hướng dẫn cụ thể phương thức thanh toán này phù hợp

với điều kiện thực tế". Năm 2004 Luật NSNN bắt đầu được thi hành, đề nghị

các ban nghành chức năng có những biện pháp cụ thể để chủ động xử lý khi

cần thiết. Việc cấp phát kinh phí phải nhất thiết theo luật Ngân sách nhà nước

và các văn bản thông tư hướng dẫn hiện hành.

Phải tiếp thu ý kiến của đơn vị về những khó khăn và vướng mắc dơn

vị gặp phải do áp dụng luật mới, những vấn đề còn chưa phù hợp để có thể

đưa ra được phương án hợp lý giải quyết những tình trạng khó khăn do luật

mới mang lại thật phù hợp

3.2.5 Bố trí cơ cấu chi tiêu Ngân sách nhà nước cho giáo dục Trung học

phổ thông hợp lý:

Chi NSNN cho sự nghiệp giáô dục THPT bao gồm 4 nhóm chi. Trong

mỗi nhóm chi đều có nhiều mục chi khác nhau. Để hoàn thành nhiệm vụ mà

Bộ GD-ĐT giao, đòi hỏi phải cấp phát đầy đủ các nhóm chi, mục chi. Song

tuỳ theo điều kiện hồn cảnh, tầm quan trọng của mỗi mục chi mà cần có mức

độ ưu tiên khác nhau. Hiện nay cơ cấu chi NSNN cho giáo dục THPT chua

thật hợp lý trong việc bấ trí giữa các nhóm chi cũng như giữa các mục chi với

nhau.



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Chi cho con người là nhóm chi hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp

đến chất lượng giáo dục.Tỉnh Lạng Sơn đã dành phần lớn kinh phí đầu tư cho

khoản này. Mức thu nhập bình quân của cán bộ, giáo viên là tương đối ổn

định và hợp lý. Nhưng thu nhập của một số cán bộ giáo viên vẫn còn thấp,

khơng đủ để tái sản xuất sức lao động của bản thân và gia đình họ. Nguyên

nhân dẫn đến tình trạng này là do thang bậc lương của từng người khác nhau.

Mặt khác, trong cơ cấu chi NSNN cho giáo dục THPT thì chi cho con người

là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng do số lượng học sinh, cán bộ, giáo

viên ngày một tăng nên số kinh phí từ NSNN cấp không đủ. Do vậy buộc phải

cắt giảm một số khoản chi khác để chi tiền lương và phụ cấp lương.

Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi về phía ngành GD-ĐT phải quan tâm

kiểm tra chặt chẽ biên chế giáo viên và bộ máy quản lý, phải sắp xếp lại đội

ngũ giáo viên, cán bộ phục vụ theo hướng tinh giảm dần.

Một vấn đề nữa cũng cần phải giải quyết rõ đó là vấn đề bất cập trong

cơ chế trả tiền lương theo tháng. Việc trả tiền lương theo tháng dẫn tới tình

trạng đối với trường thừa giáo viên thì Nhà Nước phải trả đủ lưong cho giấo

viên còn đối với trường thiếu giáo viên, giáo viên phải dạy thêm giờ thì Nhà

nước phải trả thêm phụ cấp. Vì vậy nếu cứ tiếp tục thực hiện theo cơ chế trả

tiền lương theo tháng thì hiệu quả đầu tư sẽ khơng cao, vừa gây lãng phí tiền

của cho Nhà Nước vừa khơng khắc phục được tình trạng thiếu giáo viên ở các

trường. Điều đó đòi hỏi Lạng Sơn cần sửa đổi cơ chế trả tiền lương theo

tháng, thực hiện trả lương theo giờ dạy và phải quy định cụ thể định mức chi

cho mỗi giờ dạy.

Cùng với khoản tiền lương, khoản tiền thưởng và học bổng của học

sinh trong nhóm chi cho con người cũng đóng vai trò rất quan trọng trong

việc khuyến khích giảng dạy và học tập của giáo viên, học sinh. Trong 3 năm

qua tỷ trọng của 2 nhóm này còn rất thấp. Điều này gây ra nhiều hạn chế đối

với chất lượng giáo dục. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giảng dậy, để



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



nuôi dưỡng nhân tài cho đất nước đòi hỏi tỉnh Lạng Sơn cần cố gắng nâng dần

tỷ trọng của 2 khoản chi này.

Chi nghiệp vụ chuyên môn, chi mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng

nhỏ vốn là các khoản chi liên quan đến việc tạo ra cơ sở vật chất, trang thiết

bị, dụng cụ phục vụ giảng dạy và học tập. Còn chi quản lý hành chính là

khoản chi khơng thể thiếu được nhưng khơng mang tính chất quyết định trực

tiếp đến giáo dục. Do vậy cần tăng cuờng chi cho nghiệp vụ chuyên môn và

chi mua sắm, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ bằng cách tăng mức đầu tư từ

NSNN ( nếu điều kiện cho phép) hoặc cắt giảm bớt một phần chi quản lý

hành chính khơng cần thiết để giành cơ hội đầu tư cho 2 khoản trên.

Tuy nhiên tăng hoặc giảm một nhóm chi nào đó khơng phải chỉ đơn

thuần tăng (giảm) bất kỳ mục chi nào trong mỗi nhóm chi mà cần phải có sự

lựa chọn thích hợp.

Đối với khoản chi nghiệp vụ chuyên môn nên chú trọng nhiều hơn đến

việc trang thiết bị, dụng cụ giảng dạy và học tập. Sau đó cần phải xem xét

mơn học nào là cơ bản để tiếp tục đầu tư theo chiều sâu.

Đối với khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ cần tập trung

đầu tư nhiều hơn cho mục chi sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ. Cần đảm bảo

nguồn tài chính cho các khoản chi sửa chữa trang thiết bị học tập, nâng cấp

phòng học, phòng thực hành, thí nghiệm. Bên cạnh đó cần đầu tư tập trung

vào những nơi có cơ sở vật chất hư hỏng, khơng đủ chất lượng. Ngoài ra cần

cắt giảm bớt khoản chi mua sắm không thực sự cần thiết như mua ô tô, máy

điều hoà nhiệt độ... để tăng cường khoản chi mua sắm trang thiết bị phục vụ

nhu cầu học tập của học sinh như mua sắm máy vi tính.

Đối với khoản chi quản lý hành chính cần thực hiện tiết kiệm, cấp phát

theo xu hướng giảm dần những khoản chi không cần thiết như chi về hội nghị

phí, cơng tác phí. Chi quản lý hành chính là nhóm chi rất khó quản lý và

thường xảy ra tình trạng lãng phí. Do đó để tiết kiệm khoản chi này nhằm



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



mục đích nâng cao hiệu quả đầu tư, Lạng Sơn cần phải tăng cường kiểm tra,

kiểm soát các khoản chi tiêu thuộc nhóm này.

3.2.6. Tăng cường quản lý Ngân sách cho giáo dục Trung học phổ thông ở

tất cả các khâu của chu trình Ngân sách và tăng cường cơng tác

Thanh tra, kiểm tra:

Muốn đánh giá tính hiệu quả của cơng tác quản lý NSNN nói chung và

quản lý ngân sách cho sự nghiệp Giáo dục nói riêng, cần phải xem xét đến tất

cả các khâu trong chu trình quản lý Ngân sách, từ khâu lập dự tốn, phân

phối, cấp phát, quyết toán đến giám đốc, kiểm tra.

Khâu lập dự tốn: Cơ quan tài chính phải u cầu và theo dõi các đơn

vị lập dự tốn kinh phí có theo đúng trình tự, phương pháp và các văn bản

hướng dẫn lập dự tốn NSNN hay khơng. Xem xét các đơn vị lập dự tốn có

đúng với u cầu, bám sát tình hình thực tế và những biến động trong năm kế

hoạch có thể xảy ra hay khơng. Cần có những biện pháp xử lý đối với những

trường hợp chỉ muốn trục lợi, tiến hành lập dự toán chậm, khơng tn theo

các u cầu của cơ quan tài chính ...

Khâu chấp hành: Cần cắt giảm những khoản chi không cần thiết trong

quản lý hành chính mà chủ yếu là giảm chi các khoản thanh tốn dịch vụ cơng

cộng, hội nghị, cơng tác phí. Trong thực tế những khoản chi này gây rất nhiều

lãng phí, tình trạng " điện thoại chùa" vẫn nghiễm nhiên tồn tại...do vây cần

phải bám sát những tiêu chuẩn định mức do Nhà Nước quy định trong quá

trình chi, kiểm tra kê khai từng đối tượng, từng định mức trước khi xin kinh

phí hay khơng, kiên quyết từ chối cấp phát các khoản chi ngoài dự tốn và

khơng có căn cứ thực tế. Đối với những mục chi khơng có định mức cụ thể thì

cần xây dựng những tiêu chuẩn đánh giá kết quả công việc, trên cơ sở đó tiến

hành cấp phát thanh tốn, nhằm tăng cường hơn nữa tỷ trọng chi cho nghiệp

vụ chuyên mơn của đơn vị. Trong q trình cấp phát phải đảm bảo đầy đủ, kịp

thời, thủ tục nhanh gọn, có sự phối hợp đồng bộ giữa Sở Tài Chính, Sở Giáo

Dục-Đào tạo và Kho Bạc Nhà Nước.



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN TỚI .

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×