Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA.

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA.

Tải bản đầy đủ - 0trang

SNG và Đông Âu. Tuy nhiên giao thông liên huyện còn rất khó khăn, đặc biệt

giao thơng giữa các xã vùng sâu, vùng cao.

Khí hậu Lạng Sơn là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung

bình từ 20-22 c so với cả nước nhiệt độ ở Lạng Sơn nhiệt độ thấp hơn từ 1-3

C

Trong vài năm trở lại đây kinh tế Lạng Sơn tương đối phát triển qua kế

hoạch phát triển KT-XH năm 1996-2000 tỉnh đã đạt được những kết quả sau:

Tổng sản phẩm quốc nội(GNP) bình quân tăng 9,25% là mức tăng

trưởng khá cao so với mức tăng trưởng bình qn của cả nước, trong đó tốc

độ tăng trưởng bình qn của ngành Nơng ,Lâm nghiệp là 5,4%; Công nghiệp

và xây dựng tăng 18,09%; Dịch vụ tăng 13,7%;

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tương đối tích cực, giá trị ngành

Nơng, Lâm nghiệp tăng khá, song tỷ trọng giảm từ 62,1% năm 1995 xuống

còn 42% vào năm 2002. tỷ trọng ngành Công nghiệp và Xây Dựng tăng từ

9% lên 13,7%; các ngành Dịch vụ tăng từ 28,89% lên 37,2%.Công

nghiệp,tiểu thủ công nghiệp trong những năm qua đã phát triển đúng hướng

và có tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị ngành Cơng nghiệp bình qn hàng năm

tăng21,5% cao hơn mức tăng chung của cả nước. Một số cơ sở sản xuất công

nghiệp đã quan tâm đầu tư phát triển chiếu sâu, đổi mới thiết bị công nghệ,

nâng cao chất lượng sản phẩm,ổn định sản xuất và kinh doanh hiêu quả như:

Nhà máy Xi măng, xí nghiệp gạch Hợp Thành , cơng ty Cơ khí cơ điện...

Các ngành Dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng, hoạt động thương mại

sôi động ở khu vực đô thị, khu vưc cửa khẩu biên giới. Tỉnh đã quan tâm xây

dựng các chợ, cửa hàng thương mại ở Thành Phố,thị trấn, mơt số trung tâm

cụm xã.Tổng mức lưu chuyển hàng hố tăng bình quân 16,02%/năm. Doanh

thu từ du lịch tăng 11,7%/năm. Có sự chuyển biến tích cực trong phát huy nội

lực cho đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng tạo điều

kiện thúc đẩy phát triển KT-XH . Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Tỉnh giai đoạn 1996-2000 là 3.565 tỷ đồng,gấp 4 lần so với thời kỳ 19911995.

Thu NSNN trên địa bàn tỉnh bình quân hàng năm tăng vân tăng trưởng

đều, do vậy có thêm điều kiện để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Quan hệ

sản xuất mới được củng cố hoàn thiện, kinh tế hàng hố nhiều thành phần có

bước phát triển. Các doanh nghiệp Nhà nước được củng cố, sắp xếp lại với sự

hỗ trợ của Nhà Nước về vốn, tín dụng,hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nên đang từng

bước phát triển bền vững. Trong 5 năm qua đã chuyển đổi 22 hợp tác xã,

thành lập mới gần 30 hợp tác xã kiểu mới, kinh tế tư nhân ngày càng được mở

rộng và phát triển. Năn 2004 nền kinh tế Lạng Sơn có nhiều bứơc tiến rõ rệt

kinh tế phát triển ổn định, đặc biệt là ngành du lịch đã thu hút đựơc số lượng

du khách đến đông là do tỉnh Lạng Sơn có một chiến lược văn hố du lịch

một cách hợp lý

2.2.Thực trạng giáo dục Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng

Sơn:

Nhận thức được tầm quan trọng của giao dục trong sự nghiệp đổi mới

mọi mặt nền KT-XH Lạng Sơn, mặc dù còn rất nhiều khó khăn xong được sự

quan tâm của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND và

UBND tỉnh, sự phối hợp giữa các Ban,Ngành, Đoàn thể và Nhân dân trong

tỉnh, đặc biệt sự cố gắng của đội ngũ cán bộ quản lý,giáo viên và học sinh, sự

nghiệp giáo dục đào tạo THPT tỉnh Lạng Sơn đã không ngừng phát triển về cả

quy mô lẫn chất lượng.

Mạng lưới trường lớp được mở rộng, các loại hình đào tạo đã được đa

dạng hoá, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Năm học 2001-2002 có 20

trường THPT (trong đó có 18 trường quốc lập ,1 trường bán cơng, 1trường

dân lập) và 331 lớp học (trong đó có 241 học sinh bán công trên tổng số 4 lớp

và334 học sinh thuộc trường dân lập) đến năm học 2002-2003 có 21 trường

THPT ,số trường THPT quốc lập tăng thêm 1 trường, tổng số hoc sinh

thuộc khối THPT cũng tăng lên là 20111 học sinh, tăng 5137 học sinh so với



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



năm học 2001-2002. Đến năm học 2003 - 2004 số học sinh PTTH đã tăng lên

đáng do một số trường mở rộng thêm quy mô và lớp học, cụ thể số lớp học ở

trường quốc lập tăng thêm 35 lớp so với năm 2002-2003, số lớp học ở trường

dân lập tăng thêm 04 lớp, do vậy số học sing cũng tăng theo theo, dự đoán số

học sinh THPT trong 5 năm trở lại đây mỗi năm tăng trung bình 1800 em

tương ứng với tỷ lệ 16%/năm. Có thể khái quát sự gia tăng về số trường lớp

qua bảng sau:



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Bảng 1: Thống kê trường, lớp, số học sinh THPT

Năm học

2001-2002

2002-2003

Tổng số trường quốc lập

18

19

+Tổng số lớp quốc lập

361

425

+Tổng số học sinh quốc lập

16467

19469

Tổng số trường bán công

1

1

+Tổng số lớp bán công

4

6

+Tổng số học sinh bán công

241

217

Tổng số trường dân lập

1

1

+Tổng số lớp dân lập

7

10

+Tổng số học sinh dân lập

334

425

(Nguồn: Sở Giáo dục-Đào Tạo)



2003 -2004

19

460

20765

1

6

223

1

14

524



Bên cạnh việc tăng lên về số lượng học sinh, số lượng cán bộ giáo

viên cũng tăng lên về số lượng và chất lượng, cụ thể năm 2002-2003 co 641

giáo viên THPT đã tăng hơn năm 2001-2002 là 324 giáo viên. Cơng tác giáo

dục tư tưởng chính trị, đạo đức, pháp luật, công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên

môn, nghiệp vụ đối với giáo viên luôn được coi trọng.Giáo viên toàn tỉnh

phần lớn đã được đào tạo tạm chuẩn theo quy định, một bộ phận đang được

đào tạo ở trình độ cao hơn. Nhiều giáo viên được cơng nhân là giáo viên dạy

giỏi, có thành tích xuất sắc, tận tuỵ với nghề.

Đi đôi với việc phát triển về quy mô, chất lượng giáo dục THPT cũng

ngày càng được nâng cao. Năm học vừa qua tỷ lệ học sinh xếp loại đạo đức

khá, tốt chiếm hơn 80% ở tất cả các trường, tỷ lệ học sinh yếu kém đã giảm

bớt đi. Tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm ít đi, ít số học sinh bị kỷ luật

buộc thôi học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp ngay càng cao, trong những năm gần

đây trung bình gần 90%, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường Cao đẳng ,đại

học ngày càng tăng lên:



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Bảng 2. Tỷ lệ xếp loại học lực của học sinh THPT.

Đơn vị tính: %

Năm học

Ngành học

+ Học lực giỏi

+ Học lực khá

+ Học lực TB

+ Học lực yếu

+ Học lực kém

+ Tỷ lệ lưu ban

+ Tỷ lệ tốt nghiệp

+ Hiệu quả đào tạo



2001 - 2002



2002 - 2003



0,89

22,81

69,63

6,67

0,01

0,61

90,75

88,1

(Nguồn Sở giáo dục Lạng Sơn)



2003- 2004



0,71

21,56

70,64

7,04

0,02

0,3

85,1

79,49



0,8

22,1

69,6

7,47

0,03

0,4

87

83



Số học sinh giỏi được công nhận ngày càng tăng về số lượng và chất

lượng. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi đã đi vào chiều sâu. Nhiều kỳ thi học

sinh giỏi các khối lớp và quốc gia đã được tổ chức.

Bảng 3: Kết quả thi Học sinh giỏi khối THPT năm 2003-2004

Bậc học cấp



Tổng



thi

I. Cấp tỉnh

- THPT

- Lớp 10

- Lớp 11

- Lớp 12

II. Cấp Quốc



số giải



Giải nhất



540

145

191

204

35



1

0

1

0

0



Trong đó

Giải nhì Giải ba

45

5

24

16

1



Ghi

Giải K.K



181

54

55

72

13



chú



313

86

111

116

21



gia Lớp 12

.

(Nguồn: Sở giáo dục-Đào tạo Lạng Sơn)

Thành tích học sinh giỏi tăng lên đã khẳng định chất lượng giáo dục

mũi nhọn đang từng bước phát triển vững chắc. Có được những biến đổi tích

cực trên là nhờ vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy

tính chủ động, sáng tạo năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh và việc

đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giáo viên trong các trường THPT



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Bên cạnh những mặt đạt được thì giáo dục THPT còn có những mặt

hạn chế sau: Chất lượng giáo dục chưa đồng đều ở các vùng miền, nhất là

vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh cần được quan tâm chú trọng nhiều hơn; cơ

sở vật chất trường học một số nơi còn thiếu nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến

chất lượng giảng dậy và học tập. Số đầu sách còn hạn chế. Số máy vi tính

hiện có là gần 200 máy nhưng phần lớn đã quá cũ, lại phân phối không đêu ở

các trường THPT trên địa bàn tồn Tỉnh….

Cơng tác xã hội hố giáo dục còn có nhiều hạn chế, đó là nhận thức

về cơng tác này có lúc, có nơi còn nhiều phiến diện, đơn giản, ví dụ như quan

niệm xã hội hố là huy động xã hội đóng góp tiền xây dựng trường lớp, đóng

góp học phí. Nếu chỉ như vậy là thu hẹp hoat động, làm lệch lạc mục tiêu cơ

bản, lớn lao của xã hội hoá giáo dục hoặc coi xã hội hoá chỉ là một giai pháp

tình thế, cần phải khắc phục ngay trong mỗi cán bộ, giáo viên và người dân.

Tệ nạn ma tuý đang thâm nhập vào một số trường THPT gây băn khoăn

lo lắng trong nhân dân. Hiện tượng thiếu nghiêm túc trong thi cử, vi phạm

quy chế tuyển sinh, đặt ra những khoản thu không hợp lý đối với học sinh vẫn

còn tồn tại, hoạt động dậy thêm, học thêm ở một số trường chưa được quản

lý chặt chẽ.

2.3. Thực trạng đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục Trung học

phổ thông ở Lạng Sơn :

2.3.1. Tổng quan về chi ngân sách nhà nước cho giáo dục Trung học

phổ thông:

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đường lối phát triển

kinh tế của nước ta đã có sự chuyển biến cơ bản, từ nền kinh tế kế hoạch hoá

tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà

Nước theo định hướng XHCN. Đổi mới đương lối kinh tế đã có tác động

mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống KT-XH nói chung và sự nghiệp GD nói

riêng. Trong những năm gần đây nền kinh tế Lạng Sơn đã có những chuyển

biến cơ bản, từng bước thích ứng với nền kinh tế thị trường. Sự phát triển đa

dạng của các loại hình kinh tế trong nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có sự phối



SV: Chu Hải Đơn



Lớp: K39 – 01.02



hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ ổn định

và phát triển kinh tế. Công tác quản lý NSNN ở Lạng Sơn trong những năm

qua đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi, kế hoạch thu, chi NSNN

nhiều năm liền đã hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch, điều đó tạo điều

kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế của tất cả các ngành, các lĩnh vực, thúc đẩy

đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đảm bảo sự ổn định chính trị và trật tự

an toàn xã hội, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.

Bảng 4: Tình hình thu- chi Ngân Sách tinh Lạng Sơn.

Đơn vị: triệu đồng

STT

1

2



Chỉ tiêu

Thu NSNN

Chi NSNN



2002

2003

2004

1.044.000

652.000

895.000

1.034.269

550.570

984.322

(Nguồn: phòng quản lý Ngân Sách-Sở Tài Chính)



Nhìn vào bảng trên ta thấy số thu, chi NSNN hằng năm vẫn tăng lên

đáng kể năm 2004 số thu tăng lên so với năm 2003là 243.000 triệu đồng, Số

thu ngân sách tăng lên phản ánh được sự phát triển kinh tế của Tỉnh và điều

đó cũng chứng tỏ các chính sách quản lý tài chính đang áp dụng là phù hợp

với điều kiện thực tế của Tỉnh, các biện pháp nhằm huy động các nguồn thu

được thực hiện khá hiệu quả. Tương ứng với sự tăng lên của thu NSNN thì

chi NSNN cũng tăng lên năm 2004 tăng so với năm 2003 là 433.752 triệu

đồng. Do nguồn thu tăng lên nên đã góp phần điều chỉnh một số khoản chi

mang tíng trọng điểm, nhằm tạo ra sự hài hoà cho các đối tượng chi để phát

triển một cách toàn diện về tất cả các mặt trong đó có các khoản chi ngân sách

cho sự nghiệp GD của Tỉnh đặc biệt là chi cho giáo dục PTTH.

Trong chiến lược phát triển kinh tế của Tỉnh, Tỉnh Uỷ, HĐND, UBND

Tỉnh đã quan tâm đến sự phát triển sự nghiệp GD của Tỉnh , thể hiện trong

việc cố gắng nhanh chóng cụ thể hố các Nghị quyết, Quyết định của Đảng và

Nhà Nước trên địa bàn, các kế hoạch trung hạn , dài hạn, kế hoạch hàng năm,

có chiến lược cụ thể hố để đưa sự nghiêp GD của Tỉnh có những bước

chuyển biến mới. Trong điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn, nhưng tỷ lệ



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



chi ngân sách Tỉnh cho GD và GD THPT không ngừng tăng lên trong các

năm qua.

Bảng 5: Chi NSNN, chi cho sự nghiệp GD, và chi cho GD THPT.

Đơn vị: Triệu đồng.

Chỉ tiêu

2002

2003

Tổng chi NSNN

1.034.269

727.056

Chi TX

544.665

520.431

Chi cho GD-ĐT

212.580

262.342

Chi cho GD THPT

14.991

16.895

Ta thấy chi NSNN cho GD THPT trong những năm qua tăng khá nhanh

. cụ thể năm 2003 so với năm 2002 tăng 1.904 triệu đồng và năm 2003 chi

cho GD THPT chiếm 6,44% trong tổng số chi cho GD-ĐT, năm 2002 con số

nay là 7,05% và chi NSNN cho GD năm 2003 chiếm hơn 30% trong tổng số

chi, năm 2002 là 20,6 % .Điều này cho thấy trong nhưng năm qua Đảng bộ và

nhân dân tỉnh Lạng Sơn dã tăng cường đầu tư quan tâm tới GD. Nhưng vấn

đề đặt ra là mức đầu tư gia tăng , hiệu quả đầu tư tới đâu? Mỗi cấp học trong

đó có cấp THPT đầu tư được bao nhiêu và đầu tư như vậy có phù hợp với yêu

cầu phát triển KT-XH không? Để trả lời cho câu hỏi đó ta đi xem xét đánh giá

cụ thể từng nội dung chi chi NSNN cho GD THPT.

2.3.2. Đánh giá cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo

dục Trung học phổ thơng:

Nhìn chung, các khoản chi thường xuyên cho sự nghiệp GD THPT đã phát

huy được hiệu quả ở một mức độ nhất định, thể hiện ở những thành tựu to lớn

mà GD THPT đạt được trong những năm qua. Các khoản chi cho GD THPT

bao gồm 4 nhóm sau:

+ Nhóm chi cho con người ( chi CN)

+Nhóm chi Quản lý hành chính ( chi QLHC)

+ Nhóm chi Nghiệp vụ chun mơn ( chi NVCM)

+ Nhóm chi mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ (chi MS)



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Mỗi nhóm chi ảnh hưởng tới tổng số chi NSNN cho GD THPT ở mỗi

thời kỳ khác nhau. Trong mỗi nhóm chi lại có từng đối tượng riêng biệt để

tính tốn, xây dựng định mức cụ thể, nên yêu cầu cách thức quản lý cũng rát

khác nhau. Để phan tích một cách cụ thể và sâu sắc hơn ta đi phân tiach tình

hình thực hiện các nhóm chi đó trong chi NSNN cho GD THPT ở tỉnh Lạng

Sơn thời gian qua. Từ đó thấy được khoản chi nào hợp lý và khoản chi nào

bất hợp lý để có biện pháp quản lý phù hợp, phát huy hiệu quả của việc sử

dụng NSNN là cao nhất.

Trước hết ta xem xét phân tích bảng số liệu sau:

Bảng 6: Cơ cấu chi NSNN cho GD THPT ở tỉnh Lang Sơn:

Đơn vị : triệu đồng

Năm

2002

Chỉ tiêu

Tổng chi

Chi CN

Chi NVCM

Chi QLHC

Chi MS



Số

tuyệt

đối

14.991

11.248

1.366

1.339

938



Tỷ

trọng

100%

75

10

9

6



Năm

2003

Số

tuyêt

đối

16.895

12.894

1.520

1.461

1.028



So sánh



Tỷ

trọng



Số tuyệt

đối



Số tương

đối(%)



100%

76

9

9

6



1.904

1.646

154

122

90



127

146

111

109

110



Nhìn vào bảng trên ta thấy tổng số chi cho GD THPT năm 2003 tăng

so với năm 2002 là 1.904 triêu đồng, tương ứng với 127% ; trong đó đặc biệt

chú ý là chi CN và chi cho NVCM đã tăng lên tương ứng là 1.646 và 154

triêụ đồng, trong đó nhóm chi cho QLHC cũng tăng 112 triệu đồng điều này

chứng tỏ chinh sách quản lý tài chính ở các đơn vị này vẫn còn phải tích cực

cải cách hành chính để giảm bớt khoản chi này. nhưng trong bảng trên thì cơ

cấu chi vẫn chưa thật sự hợp lý, nhóm chi cho con người qua các năm đã tăng,

nhưng xét về tỷ trọng trong cơ cấu chi của từng năm thì còn thấp do đó cần

phải tăng chi cho con người để đảm bảo chất lượng dạy và học, Bên canh đó

cần tăng cường đầu tư cho nghiệp vụ chuyên môn và mức chi cho mua sắm

sửa chữa , nâng cao thiết bị phục vụ công tác giảng dạy. Bên cạnh đó nhóm



SV: Chu Hải Đơn



Lớp: K39 – 01.02



chi QLHC còn cao năm 2002 còn sắp sỷ bằng với tỷ trọng chi cho NVCM,

trong nhưng năm tới cần triệt để tiết kiệm cá khoản chi QLHC.

Đây là số liệu tổng hợp về cơ cấu chi cho GD THPT, để nắm bắt được

thấu đáo thực trạng chi và quản lý chi từng nhóm cụ thể ta đi sâu phân tích

từng nhóm cụ thể:

Nhóm chi cho con người:

Chi lương là khoản chi lớn nhất trong cơ cấu chi thường xuyên cho sự

nghiệp GD THPT , thực tế chiếm tới hơn 70% tổng số chi NSNN cho GD

THPT . Nội dung của khoản chi này bao gồm : Tiền lương, tiền công, phụ

cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp khác. Nhóm chi

này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đội ngũ giáo viên, học sinh mà họ là

những người quyết định đến chất lượng GD. Do vậy để nâng cao chất lượng

GD thì trước hết phải nâng cao đời sống của giáo viên, đảm bảo cho họ cuộc

sống ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần , từ đó họ sẽ chun tâm cơng tác,

đem hết khả năng tâm huyết của mình ra để truyền thụ kiến thức cho học sinh

Để biết được cụ thể tình hình chi NSNN cho con người ta đi phân tích

số liệu trong bảng sau:



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Bảng 7

Chỉ tiêu



Năm 2002



Tỷ lệ(%)



Năm 2003



Tỷ lệ(%)



Tổng



11.248



12.894



Chi lương



4.479



39,8



6.125



47,5



Chi phụ cấp



3.993



35,5



4.120



32



Thưởng



101



0,9



193



1,5



Phúc lợi



56



0,5



51



0,4



Chi khác



2619



23,3



2.405



18,6



(Nguồn Phòng ngân sách - STC)

Qua số liệu trên ta thấy chi cho CN nhìn chung là tăng đáng kể năm

2003 so với năm 2002 tăng 1.904 triệu đồng, tương ứng với 27%, sở dĩ có

được sự tăng trên là do trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn quan

tâm và có những chính sách đúng đắn đến đời sống của giáo viên như :Nghị

Định 35/2001/ NĐ-CP, quyết định số 973/1997/QĐ-TTg ngày 17/11/1997 của

Chính Phủ. Thơng tư hương dẫn số 147/1998/TT-LT-TCCP-TC-LĐTBXHGD ĐT ngày 5/3/1998 về hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi đối với

giáo viên đang triếp giảng dạy ở các trường công lập của Nhà Nước. Đối với

giáo viên công tác tại các trường khu vực III theo Quyết định 42/UBDT MN

của Uỷ ban Dân Tộc và Miền núi còn được hưởng chế độ trợ cấp thêm theo

QĐ số 1498/UB-QĐ ngày 25/9/1998 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn về

việc trợ cấp thêm cho giáo viên. Năm 2000 Nhà nước đã quyết định tăng mức

lương cơ bản từ 180.000đ/ tháng, lên 210.000 đ/ tháng, và sau đó lại tăng lên

290.000/tháng điều đó góp phần ổn định đời sống của giáo viên. Trong tổng

số chi CN thì chi lương chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 40% và tăng đều đặn qua

các năm, cụ thể năm 2003 so với năm 2002 tăng 1646 triệu đồng, tương ứng

46%. Chi lương bao gồm theo ngạch bậc, theo quỹ lương được duyệt, lương

tập sự và lương hợp đồng dài hạn.



SV: Chu Hải Đôn



Lớp: K39 – 01.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×