Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I:DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

CHƯƠNG I:DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp.

1.1. Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư

1.1.1 . Đầu tư

a. Khái niệm đầu tư.

Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là q trình sử dụng các nguồn lực tài

chính, lao động , tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực

tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất

kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của

ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng.Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư

trực tiếp và gián tiếp.

Hoạt động đầu tư gián tiếp là hoạt động bỏ vốn trong đó người đầu tư

khơng trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra.

Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động trong đó người bỏ vốn trực tiếp

tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra. Nó chia ra thành 2 loại đầu tư

chuyển dịch và đầu tư phát triển. Trong đó:

- Nâng cấp các hoạt động đó vì mục tiêu phát triển thực chất. Nó tạo ra

của cải vật chất cho nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm Đầu tư chuyển

dịch là hoạt động đầu tư mà chủ đầu tư bỏ tiền để mua lại một số lượng đủ lớn

cổ phiếu của một doanh nghiệp nhằm tham gia nắm quyền điều hành hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó.

- Đầu tư phát triển là hoạt động bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản, tạo ra

những năng lực sản xuất , phục vụ mới bao gồm: xây dựng các cơng trình mới, các

hoạt động dịch vụ mới, cải tạo mở rộng cải thiện đời sống người lao động.

Có thể nói đầu tư phát triển đó là một q trình có thời gian kéo dài trong

nhiều năm với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu

tư khá lớn và vốn nằm đọng trong suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư(viết tắt

là DAĐT). Các thành quả của loại đầu tư này cần được sử dụng trong nhiều

năm, đủ để các lợi ích thu được tương ứng và lớn hơn những nguồn lực đã bỏ

ra. Chỉ có như vậy thì cơng cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả.

b. Đặc trưng của đầu tư



SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



3



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

Để làm rõ hơn nội dung của khái niệm hoạt động đầu tư, chúng ta đi sâu

phân tích các đặc trưng cơ bản của hoạt động này:

- Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường và

trước hết là quyết định tài chính.

Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi. Dưới các hình thức khác

nhau nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ. Vì vậy, các quyết định

đầu tư thường được xem xét trên phương diện tài chính (khả năng sinh lời, tổn

phí, có khả năng thu hồi được hay không…). Trên thực tế, các quyết định đầu tư

cân nhắc bởi sự hạn chế của ngân sách nhà nước, địa phương, cá nhân và được

xem xét từ các khía cạnh tài chính nói trên. Nhiều dự án có khả thi ở các

phương diện khác (kinh tế – xã hội) nhưng khơng khả thi về phương diện tài

chính vì thế cũng không thể thực hiện được trên thực tế.

- Hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài.

Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác,

đầu tư ln là hoạt động có tính chất lâu dài. Do đó, mọi sự trù liệu đều là dự

tính và chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều nhân tố biến đổi tác động.

Chính điều này là một trong những vấn đề then chốt phải tính đến trong nội

dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án.

- Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động ln cần có sự cân nhắc

giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

Đầu tư về một phương diện nào đó là sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh

đổi lấy lợi ích trong tương lai. Vì vậy, ln có sự so sánh cân nhắc giữa hai loại

lợi ích này và nhà đầu tư chỉ chấp nhận trong điều kiện lợi ích thu được trong

tương lai lớn hơn lợi ích hiện này họ phải hy sinh - đó là chi phí cơ hội của nhà

đầu tư.

- Hoạt động đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro.

Các đặc trưng nói trên đã cho ta thấy đầu tư là một hoạt động chứa đựng

nhiều rủi ro do chịu xác suất nhất định của yếu tố kinh tế – chính trị – xã hội –

tài nguyên thiên nhiên…Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong

một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lường hết những thay đổi có thể

xảy ra trong q trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Tuy nhiên, nhận thức rõ

SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



4



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

điều này nên nhà đầu tư cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay

hạn chế để khả năng rủi ro là ít nhất.

Những đặc trưng nói trên cũng đặt ra cho người phân tích, đánh giá dự án

chẳng những quan tâm về mặt nội dung xem xét mà còn tìm các phương pháp,

cách thức đo lường, đánh giá để có những kết luận giúp cho việc lựa chọn và ra

quyết định đầu tư một cách có căn cứ.

c. Vai trò của đầu tư.

Từ sau Đại hội Đảng lần VI, với chủ trương chuyển đổi cơ chế kinh tế từ

tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt Nam đã

có những tiến bộ rõ rệt. Tỉ lệ tăng trưởng cao và tương đối ổn định, tỉ lệ lạm

phát dừng lại ở mức thấp, đặt biệt kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng…cùng

với sự chuyển mình của đất nước cũng như việc thực hiện đa dạng, đa phương

hoá các phương thức sản xuất kinh doanh đã làm cho chúng ta hoà nhập hơn,

thân thiện hơn với bạn bè quốc tế. Theo đó, tư duy về kinh tế của mỗi người dân

đều thay đổi. Chính vì vậy mà người ta đã biết đến đầu tư như là một yếu tố

quan trọng cần thiết. Hay nói khác đi, đầu tư cũng giống như một chiếc chìa

khố để chiến thắng trong cạnh tranh sinh tồn.

Tăng trưởng và phát triển bền vững là phương hướng, mục tiêu phấn đấu

của mọi quốc gia. Để đạt được điều đó cần quan tâm giải quyết các nhân tố ảnh

hưởng đến sự tăng trưởng là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và công nghệ.

Thông qua hoạt động đầu tư, các yếu tố đó sẽ được khai thác, huy động và phát

huy một cách tối đa để từ đó tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực mới cho sự

tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Đối với nền kinh tế, đầu tư có tác động rất lớn đến tổng cung và tổng cầu.

Do đầu tư tác động khơng hồn tồn phù hợp về mặt thời gian đối với nhịp độ

phát triển nên mỗi sự thay đổi tăng hoặc giảm của đầu tư đều cùng lúc vừa là

yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế.

Với những nước có tỉ lệ đầu tư lớn thì tốc độ tăng trưởng cao. Ngược lại

khi tỉ lệ đầu tư càng thấp thì tốc độ tăng trưởng và mức độ tích luỹ càng thấp.

Trong nền kinh tế quốc dân, để tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý thì vấn đề đầu

tiên có tính chất then chốt là phải thực hiện đầu tư và phân bổ vốn một cách hợp

SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



5



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

lý. Có như vậy mới tạo ra được sự dịch chuyển về cơ cấu do mỗi ngành, mỗi

thành phần kinh tế đều có thế lực và tiềm năng riêng. Ngoài ra, kinh nghiệm của

các nơi trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để có thể phát triển nhanh là

tăng cường đầu tư vào phát triển khu công nghiệp thương mại du lịch và dịch

vụ.

Đối với một doanh nghiệp thì đầu tư cũng đóng vai trò quyết định đến sự

tồn vong và phát triển. Trong nền kinh tế hiện nay, doanh nghiệp được coi là các

tế bào chủ yếu nhất cho sự phát triển chung. Để thành lập nên một doanh nghiệp

thì điều đầu tiên là phải có vốn đầu tư. Nó là một trong những yếu tố thiết yếu

để có thể tạo dựng nên nền móng cơ sở vật chất ban đầu cho doanh nghiệp.

Ngay cả sau khi doanh nghiệp đã được thành lập thì việc phát triển hay lụi tàn

đến mức nào đó cũng phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư.



1.1.2. Dự án đầu tư.

a. Khái niệm dự án đầu tư (DAĐT)

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “DAĐT là một tập

hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên

cơ sở các nguồn lực nhất định”.

Ở Việt Nam, khái niệm DAĐT được trình bày trong nghị định 52/1999

NĐ-CP về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản: “ DAĐT là tập hợp các

đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ

sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải

tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thơì gian

nhất định”.

 Về mặt hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi

tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được

những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương

lai.



SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



6



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

 Về mặt nội dung: DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan với

nhau nhằm đạt được những mục đích đã đề ra thơng qua nguồn lực đã xác

định như vấn đề thị trường, sản phẩm, công nghệ, kinh tế , tài chính…

Vậy, DAĐT phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu

được đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể. Đầu vào là lao động, nguyên

vật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt

đầu vào. Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công

nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ…

Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì DAĐT cũng gồm những thành phần

chính sau:

+ Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ

mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đầu tư nói riêng.

+ Các kết quả: Đó là những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạt

động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu

của dự án.

+ Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong

dự án để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của

các bộ phận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.

+ Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu

các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người. Giá trị hoặc chi phí của các

nguồn lực này chính là vốn đầu tư cho các dự án.

+ Thời gian: Độ dài thực hiện DAĐT cần được cố định.

DAĐT được xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn.

Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tương đối với nhau

tạo thành chu trình của dự án. Chu trình của dự án được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết

quả. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại

ở giai đoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư.

Đối với chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của

chu trình dự án là rất quan trọng. Nhưng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi

SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



7



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

người có mối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau.

Chủ đầu tư phải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự. Đó là điều kiện

để đảm bảo đầu tư đúng cơ hội và có hiệu quả.

b. Vai trò của DAĐT.

Vai trò của DAĐT được thể hiện cụ thể ở những điểm chính sau:

Đối với chủ đầu tư: dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ

vốn đầu tư. DAĐT được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên

cứu đầy đủ về các mặt tài chính, thị trường, kỹ thuật, tổ chức quản lý. Do đó,

chủ đầu tư sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án vì có khả

năng mang lại lợi nhuận và ít rủi ro. Mặt khác, vốn đầu tư của một dự án thường

rất lớn, chính vì vậy ngồi phần vốn tự có các nhà đầu tư còn cần đến phần vốn

vay ngân hàng. Dự án là một phương tiện rất quan trọng giúp chủ đầu tư thuyết

phục ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho vay vốn. DAĐT

cũng là cơ sở để chủ đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đơn đốc và

kiểm tra q trình thực hiện đầu tư. Quá trình này là những kế hoạch mua sắm

máy móc thiết bị, kế hoạch thi cơng, xây lắp, kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, dự án còn là căn cứ để đánh giá và điều chỉnh kịp thời những tồn đọng

vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư, khai thác cơng trình.

Đối với Nhà nước: DAĐT là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước xem

xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư. Vốn ngân sách Nhà nước sử

dụng để đầu tư phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án các cơng trình, kết

cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, cac

DAĐT quan trọng của quốc gia trong từng thời kỳ. Dự án sẽ được phê duyệt,

cấp giấy phép đầu tư khi mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách

phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, khi hoạt động của dự án không gây ảnh

hưỏng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội. Dự án được phê

duyệt thì các bên liên q uan đến dự án phải tuân theo nội dung, yêu cầu của dự

án. Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên liên quan thì dự án là một

trong những cơ sở pháp lý để giải quyết.

Đối với nhà tài trợ: Khi tiếp nhận dự án xin tài trợ vốn của chủ đầu tư thì

họ sẽ xem xét các nội dung cụ thể của dự án đặc biệt về mặt kinh tế tài chính, để đi

đến quyết định có đầu tư hay khơng. Dự án chỉ được đầu tư vốn nếu có tính khả thi

SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



8



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

theo quan điểm của nhà tài trợ. Ngược lại khi chấp nhận đầu tư thì dự án là cơ sở để

các tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo mức độ hoàn thành kế

hoạch đầu tư đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn.



1.2. Phương pháp thẩm định dự án đầu tư

1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa thẩm định dự án đầu tư

Đối với mỗi DAĐT, từ khi lập xong đến khi thực hiện phải được thẩm định

qua nhiều cấp: Nhà nước, nhà đầu tư, nhà đồng tài trợ… Đứng dưới mỗi giác

độ, có những định nghĩa khác nhau về thẩm định. Nhưng hiểu một cách chung

nhất thì:

“Thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét một cách khách quan và

toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành, khai thác

và tính sinh lợi của công cuộc đầu tư”

Cụ thể theo cách phân chia các giai đoạn của chu trình DAĐT, ta thấy ở cuối

Bước 1 có khâu “Thẩm định và ra quyết định đầu tư”. Đây là bước mà chủ đầu tư

phải trình hồ sơ nghiên cứu khả thi lên các cơ quan có thẩm quyền để xem xét

quyết định và cấp giấy phép đầu tư và cấp vốn cho hoạt động đầu tư.

Dưới góc độ là người cho vay vốn, các Ngân hàng thương mại (viết tắt là

NHTM) khi nhận được bản luận chứng kinh tế kỹ thuật sẽ tiến hành thẩm định

theo các chỉ tiêu và ra quyết định là có cho vay hay khơng cho vay. Sau đó là đi

đến “đàm phán và ký kết hợp đồng”. Như vậy có thể hiểu thẩm định DAĐT

trong Ngân hàng là thẩm định trước đầu tư hay thẩm định tín dụng. Nó được

đánh giá là công tác quan trọng nhất.



1.2.2. Phương pháp thẩm định dự án tài chính

1.2.2.1. Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh

liên quan đến dự án đầu tư:

- Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của

dự án, và các báo cáo tài chính…

SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



9



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

- Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan

ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh

nghiệp cung cấp.

Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

Như xem xét tính chính xác của thơng tin, tính tốn các chỉ tiêu, so sánh

chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa

rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình

bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay khơng? Nếu có thì các điều

khoản như thế nào?

1.2.2.2. Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế,

người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

* Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị

hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu

tư.

Cơng thức tính:

NPV = Co + PV

Trong đó:

NPV là giá trị hiện tại ròng

Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu tư)

PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại trong

thời gian hữu ích của nó. PV được tính

C1

PV =



C2



C3



+

(1 +r)



SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



Ct



+

(1+r)



2



+.....+

(1+r)



10



3



(1+r)t



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t

r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

Ý nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự

án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh

chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy

bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi

phí bình qn của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi

suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện

dự án…

Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mơ nguồn vốn, các dự án có

NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa

là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ

lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0  bác bỏ dự án

Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được

chọn.

Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu

nhược điểm sau:

Ưu điểm:

Phương này tính tốn dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện

tại hố dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án

nào có làm tối đa hố sự giàu có của chủ đầu tư.

Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có

tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.



SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



11



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

Nhược điểm:

Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ

NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó

khăn.

Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng

vốn bỏ ra là bao nhiêu).

Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là

khơng có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian

ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án

có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của

các thời gian dự án. Đây là việc tính tốn phức tạp mất thời gian.

* Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án.

Về mặt kỹ thuật tính tốn, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại

đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu

tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

C1

NPV = C0



+



C2



CT



+

(1 +IRR)



+…. +

(1+IRR)



2



=0

(1+IRR)



T



Ý nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn

thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư

có thể chấp nhận mà khơng bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án

đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự

án mỗi khi chúng phát sinh.

Người ta sử dụng hai cách:

Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu

NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm

SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



12



Lớp:



Chuyên đề tốt nghiệp.

trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của

dự án đầu tư.

Phương pháp nội suy tuyến tính: thường được sử dụng. Đầu tiên chọn 2

mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1  có NPV1> 0

Với r2 có NPV2< 0



Áp dụng cơng thức:

IRR r1 



NPV (r  r )

NPV  NPV

1



1



2



1



2



Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối

đúng.

Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRR ĐM (IRR định

mức thơng thường đó chính là chi phí cơ hội)

So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là

các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mơ nguồn vốn, các dự án có IRR ≥

IRRĐM được chấp nhận.

Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn nhất.

Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của

tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả

vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử

dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà

dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.



SV: Nguyễn Thế Hùng

CQ46/11.03



13



Lớp:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I:DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×