Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. Cơ sở lý luận chung về kế toán cho vay của ngân hàng thương mại.

Chương 1. Cơ sở lý luận chung về kế toán cho vay của ngân hàng thương mại.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì :

“ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các

hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng

phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mơ và quỹ tín dụng nhân dân.”

Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ

chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ

lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Việc đưa ra khái niệm rõ ràng về

ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. Theo Pháp lệnh của Ngân hàng của

Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hàng ngày 24/05/1990 :

“ Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động

chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm

hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và

làm phương tiện thanh toán.”

Hay theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

“ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả

các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định

của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. ”

Như vậy, Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông

qua các nghiệp huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để

cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.

Từ định nghĩa chung về Ngân hàng thương mại, căn cứ vào tính chất và

mục tiêu hoạt động Luật các TCTD năm 2010 còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng



11



gồm : Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác xã… và

các loại hình ngân hàng khác.

1.1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.

 Hoạt động huy động vốn :

Vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy

động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng. Thực chất

nguồn vốn của ngân hàng một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi

trong quá trình sản xuất , phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu của chúng

gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nhìn chung, vốn chi

phối toàn bộ các hoạt động và quyết định việc thực hiện các chức năng của

NHTM.

Xuất phát từ vai trò và tính chất vốn như vậy, nghiệp vụ huy động vốn hay

nghiệp vụ tạo lập vốn luôn được xem là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự

hoạt động của NHTM. Ngồi vốn điều lệ ban đầu thì mỗi ngân hàng phải thường

xuyên chú trọng đến việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh

doanh của mình. Thông thường nguồn vốn của NHTM bao gồm : vốn chủ sở

hữu, vốn huy động, vốn đi vay và một số loại vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính

chất, vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM và trong suốt quá

trình hoạt động của mình các nghiệp vụ huy động, tạo lập từng loại vốn kể trên

sẽ được tiến hành xen kẽ lẫn nhau tùy thuộc vào yêu cầu của hoạt động kinh

doanh và thực trạng vốn hiện có của ngân hàng.



12



 Hoạt động sử dụng vốn :

Sau khi huy động được vốn, NHTM phải có kế hoạch sử dụng hợp lý đảm

bảo cân đối giữa nguồn vốn sử dụng và khả năng thanh toán. Do vậy khi lập kế

hoạch nguồn vốn phải xuất phát từ cơ cấu và quy mơ tài sản Có để quyết định cơ

cấu, quy mô tài sản Nợ phù hợp với khả năng quản lý và đảm bảo hiệu quả kinh

doanh của ngân hàng. Thông thường hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng tập

trung vào một số hình thức sau :

 Nghiệp vụ ngân quỹ :

Là hoạt động của ngân hàng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán thường

xuyên, bao gồm các quỹ tiền mặt, các khoản tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng

Nhà nước và các NHTM khác, các khoản tiền đang trong quá trình thu về.

 Nghiệp vụ cho vay :

Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của NHTM. Các khoản

cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn từ 60 – 80 % tổng tài sản Có của NHTM và

đem lại hơn 60% doanh lợi cho ngân hàng.

Đại bộ phận tiền huy động được ngân hàng cho vay theo 2 loại chính là

cho vay ngắn hạn và cho vay trung – dài hạn. Tuy nhiên, trên thực tế cùng với sự

phát triển của nền kinh tế thị trường và của ngành ngân hàng để tồn tại và khơng

ngừng phát triển lớn mạnh các NHTM còn đưa ra nhiều loại tín dụng khác đáp

ứng mọi nhu cầu tín dụng của các thành phần trong nền kinh tế như tín dụng

thơng thường cho các đơn vị kinh doanh, tín dụng chứng từ, tín dụng thuê mua…

 Nghiệp vụ đầu tư :

13



Hoạt động đầu tư của NHTM diễn ra chủ yếu trên thị trường tài chính

thơng qua việc mua bán các chứng khoán. Thu nhập của ngân hàng từ hoạt động

này là khoản chênh lệch giữa giá mua và bán. Ngồi ra ngân hàng còn có thể tiến

hành đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu hoặc hùn vốn, góp vốn liên doanh với

các doanh nghiệp và nhận được cổ tức nếu doanh nghiệp đó làm ăn có lãi.

 Nghiệp vụ trung gian:

Đây cũng là một trong những nghiệp vụ mang lại thu nhập lớn cho ngân

hàng. Các dịch vụ trung gian thường gặp là dịch vụ chuyển khoản, dịch vụ cung

cấp các cơng cụ thanh tốn, dịch vụ thu hộ - chi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ

kiều hối – thu đổi ngoại tệ, dịch vụ thu mua và bảo lãnh, dịch vụ tư vấn thông

tin… Vai trò của các nghiệp vụ trung gian này là bổ sung thêm vào các nghiệp vụ

cơ bản, nó tạo giá trị tăng thêm và tạo ra sự khác biệt giữa các NHTM.



1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

1.1.2.1. Khái niệm, phân loại cho vay.

 Khái niệm cho vay :

Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thơng qua hoạt

động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức

phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội ( quỹ cho

vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.

Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu

cầu khách hàng của mình – người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ

những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở về mặt pháp lý đảm bảo

14



cho người cho vay có thể thu hồi được vốn ( gốc + lãi) sau một thời gian nhất

định. Để thu hồi được vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp

ứng những điều kiện cho vay cụ thể dựa trên những cơ sở mức độ tin tưởng, tín

nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng.

Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ

người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng vốn (người vay – khách hàng) sau

một thời gian nhất định quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.

Hay :

“ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, ngân hàng giao cho khách hàng

một số tiền để khách hàng sử dụng trong một thời gian và mục đích nhất định

theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả cả gốc và lãi “

Qua khái niệm trên cho thấy bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền

và tài sản trên cơ sở có hồn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin

tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó sự hồn trả là đặc trưng thuộc về bản chất

của cho vay là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của ngân

sách nhà nước.

 Phân loại cho vay :

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và

phong phú với nhiều hình thức khác nhau (có nhiều loại tín dụng khác nhau).

Việc áp dụng từng loại cho vay tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử

dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả và phù hợp với

sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng.



15



Có nhiều tiêu thức phân loại cho vay, tuy nhiên trên thực tế, người ta

thường phân loại cho vay theo các tiêu thức sau:

 Phân loại theo thời hạn cho vay : Cho vay ngắn hạn và cho vay trung – dài

hạn.

 Phân loại theo đối tượng cho vay: Cho vay tổ chức và cho vay cá nhân.

 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: Cho vay kinh doanh và cho vay tiêu

dùng.

 Phân loại theo phương pháp hoàn trả: Vay trả một lần và vay trả dần.

 Phân loại theo hình thức đảm bảo tiền vay : Cho vay có bảo đảm và khơng

có bảo đảm bằng tài sản.

 Phân loại theo xuất xứ tín dụng.

1.1.2.2. Nguyên tắc cho vay.

Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm

bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Muốn vậy, hoạt động

cho vay của ngân hàng phải lành mạnh và có hiệu quả. Cụ thể, các tổ chức tín

dụng phải thực hiện tốt việc kiểm tra khả năng hoàn trả của người xin vay trước

khi cho vay đảm bảo tính độc lập trong q trình kiểm tra, kiểm sốt, tn thủ

quy trình cho vay, cho vay chỉ tiến hành trên cơ sở đảm bảo đúng quy định.

Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau :

Một là : Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín

dụng.

Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách

hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi

ích dự kiến, do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hồn trả nợ cho ngân hàng.

Nguyên tắc nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng

vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm.

16



Hai là : Phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn.

Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “ đi

vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù

chi và có lãi.

1.1.2.3. Điều kiện cho vay.

Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách

hàng có nhu cầu vay vốn. Ngân hàng chỉ cho vay đối với khách hàng đáp ứng

được yêu cầu do ngân hàng đề ra. Điều kiện để vay vốn bao gồm :

 Địa vị pháp lý của khách hàng vay vốn :

Khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự

và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Do mỗi khách hàng có

một địa vị pháp lý khác nhau nên điều kiện vay vốn cần quy định cụ thể cho từng

loại khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân…phù hợp với các quy định

pháp luật hiện hành. Ví dụ với khách hàng là cá nhân và pháp nhân Việt Nam : là

pháp nhân thì phải có năng lực pháp luật dân sự ; nếu là cá nhân, chủ doanh

nghiệp tư nhân, đại diện hộ gia đình, đại diện tổ hợp tác và thành viên hợp danh

của cơng ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.

 Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo Hợp đồng tín dụng

đã ký kết.

Khả năng tài chính của khách hàng được thể hiện thông qua mức độ vốn

chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

đời sống; tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi; cam kết của khách



17



hàng về việc phải mua bảo hiểm đối với tài sản là đối tượng vay vốn (tài sản

hình thành sau khi vay) mà theo pháp luật quy định phải mua bảo hiểm. Trường

hợp pháp luật không quy định mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết phải đảm

bảo an toàn vốn vay, các ngân hàng xem xét quyết định khách hàng vẫn phải cam

kết mua bảo hiểm đối với đối tượng vay vốn mà pháp luật không bắt buộc phải

mua bảo hiểm. Nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết mua bảo hiểm

theo hợp đồng thì ngân hàng cho vay được quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ

hoặc chuyển nợ quá hạn.

 Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

Khách hàng không được vay vốn để sử dụng cho các mục đích mà pháp

luật cấm như : để mua sắm, chi phí hình thành tài sản mà pháp luật cấm mua

bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để thanh toán chi phí cho việc thực hiện các

giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch

mà pháp luật cấm.

 Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, hiệu

quả.

Khách hàng phải có tài liệu chứng minh khả năng hấp thụ vốn vay phù

hợp với quy định của pháp luật (như có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền

phê duyệt theo quy định của pháp luật ) và khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng.

Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các phương án/ dự án vay vốn có hiệu quả kinh

tế đảm bảo tạo ra nguồn để trả nợ vay ngân hàng cả nợ gốc và lãi.

 Thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và theo hướng

dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam.



18



Trên cơ sở các điều kiện trên, căn cứ tính chất, quy mơ, phạm vi ảnh

hưởng của các quan hệ giữa các chủ thể khi tham gia giao dịch, các ngân hàng

cần quy định cụ thể điều kiện vay vốn, đối tượng vay vốn khác nhau cho phù

hợp. Ví dụ : liên quan tới thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn thì các giao

dịch bảo đảm chịu sự chi phối của Luật đất đai, Luật dân sự còn các quan hệ liên

quan tới hoạt động cho vay của ngân hàng chịu sự chi phối của Luật Ngân hàng

nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng.

1.1.2.4. Các quy định khác trong cho vay.

Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro, để đảm bảo an toàn hiệu quả trong

hoạt động cho vay, tránh rủi ro đổ vỡ đối với từng ngân hàng và hệ thống các tổ

chức tín dụng, pháp luật cho vay các nước đều có những quy định pháp lý nhằm

đảm bảo an tồn trong cho vay, trong đó ngồi chú trọng các vấn đề về nguyên

tắc cho vay có hiệu quả; các điều kiện cho vay vốn thì còn những quy định khác

như:











Quy định về đối tượng cho vay.

Quy định về đảm bảo an tồn tín dụng.

Quy định về hợp đồng tín dụng.

Quy định về xét duyệt cho vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay.



1.2. Lý luận cơ bản về kế toán cho vay của ngân hàng thương

mại.

1.2.1. Những vấn đề chung về kế toán cho vay.

1.2.1.1. Khái niệm kế tốn cho vay.

Kế tốn có lịch sử phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa và thực sự đã

trở thành lĩnh vực hoạt động chuyên môn quan trọng. Trong lĩnh vực kiến thức,

19



kế tốn là một mơn khoa học về thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản

và sự vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra toàn bộ tài sản và các

hoạt động kinh tế - tài chính của đơn vị đó. Vì lẽ đó, kế tốn trở thành một cơng

cụ quản lý kinh tế - tài chính rất quan trọng cả tầm vi mô và vĩ mô.

Trong nền kinh tế thị trường, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc

biệt, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh tốn và các dịch vụ tài

chính – tiền tệ khác phục vụ các nhu cầu quan trọng khác của xã hội và kế toán

ngân hàng được sử dụng như một công cụ quan trọng để quản lý hiệu quả các

hoạt động kinh doanh và đảm bảo an tồn về tài sản cho các NHTM.

Kế tốn cho vay là một bộ phận trong kế tốn ngân hàng, vì hoạt động cho

vay vốn dĩ phức tạp và thường chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động ngân hàng nên

góp phần quản lý hiệu quả việc sử dụng vốn vay của ngân hàng khơng thể khơng

kể đến vai trò của kế toán cho vay.

“ Kế toán nghiệp vụ cho vay trong NHTM là việc tổ chức, ghi chép,

phản ánh một cách đầy đủ kịp thời, chính xác các nghiệp vụ cho vay của ngân

hàng từ khi giải ngân đến khi hoàn thành thu nợ gốc và lãi”



1.2.1.2. Nhiệm vụ của kế toán cho vay.

Để đảm bảo hoạt động cho vay được thực hiện thường xuyên, liên tục,

đảm bảo an toàn tài sản và đạt hiệu quả cao. Kế toán cho vay cần phải thực hiện

tốt nhiệm vụ của mình, đó là :

 Ghi chép phản ánh kịp thời đầy đủ chính xác quá trình giải ngân, thu nợ,



20



thu lãi, chuyển nợ quá hạn đối với từng đơn vị khách hàng, từng khoản tín dụng.

 Kiểm sốt và quản lý chặt chẽ hồ sơ chứng từ tín dụng để đảm bảo đầy đủ,

hợp pháp hợp lệ chấp hành đúng thể lệ tín dụng nhằm bảo vệ an toàn tài sản của

ngân hàng, tạo khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi.

 Giám sát tình hình sử dụng vốn của khách hàng thông qua hoạt động các

tài khoản của khách hàng. Phát hiện những nguy cơ gây rủi ro tín dụng trên cơ sở

đó làm tham mưu cho bộ phận tín dụng có biện pháp xử lý kịp thời.

 Phân loại, tổng hợp số liệu về hoạt động tín dụng để cung cấp những

thông tin cần thiết kịp thời cho lãnh đạo trong việc xây dựng kế hoạch và chỉ đạo

hoạt động tín dụng một cách hiệu quả.

Cùng với bộ phận tín dụng, kế tốn cho vay quản lý hoạt động cho vay

đem lại hiệu quả cao. Kế toán cho vay cung cấp về thông tin, số liệu kịp thời về

những món vay quá hạn, sắp đến hạn thu hồi để cán bộ tín dụng có kế hoạch đơn

đốc thu nợ kịp thời.

Kế toán cho vay cùng với các kế toán nghiệp vụ khác thơng qua hoạt động

của mình giúp ngân hàng thực hiện tốt chức năng kinh doanh. Với vai trò quan

trọng của mình, hệ thống kế tốn ngân hàng nói chung và kế tốn cho vay nói

riêng cần được hồn thiện hơn để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của

ngành ngân hàng và nền kinh tế.

1.2.1.3. Vai trò của kế tốn cho vay.

 Kế tốn cho vay tạo điều kiện cho các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân

nhanh chóng nhận được các khoản nợ tín dụng mà ngân hàng đã cam kết để đầu

tư phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống.

 Kế tốn cho vay phản ánh tình hình đầu tư vốn của ngân hàng vào các

ngành kinh tế quốc dân, các thành phần kinh tế nên thông qua số liệu kế tốn có

thể biết được phạm vi, phương hướng đầu tư và hiệu quả hoạt động tín dụng của

ngân hàng.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. Cơ sở lý luận chung về kế toán cho vay của ngân hàng thương mại.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x