Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
hàng hoá tại công ty cổ phần Gas- Petrolimex

hàng hoá tại công ty cổ phần Gas- Petrolimex

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận Văn Tốt Nghiệp

kiện cho cán bộ bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng

cao của cơng tác kế của cơng tác kế tốn.

Thứ ba: Trong điều kiện khoa học ngày càng phát triển, công ty đã rất

nhanh nhạy trong trong việc áp dụng phần mềm kế tốn máy. Với chương trình

phần mềm Fast-Accouting cơng ty đã trang bị hệ thống máy tính từ văn phòng

đến cơ sở, hồ mạng Internet để thu thập cũng như cung cấp thơng tin bên ngồi.

Do vậy khối lương cơng việc kế tốn thủ cơng đã được giảm bớt rất nhiều đảm

bảo cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời.

Thứ tư: Để phù hợp với đặc điểm kinh doanh cũng như yêu cầu quản lý

của mình trong việc hạch toan các nghiệp vụ hàng hố, công ty đã chi tiết tài

khoản ra cấp 2, 3...và mở thêm một số tài khoản chi tiết cho các tài khoản chi tiết

đó, chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi chép kế toán được rõ

ràng cũng như việc kiểm tra đối chiếu giữa các số liệu kế toán.

Thứ năm: Mặc dù khối lượng nghiệp vụ nhập xuất hàng hoá phát sinh

nhiều, số liệu chứng từ lớn, song công tác về nghiệp vụ nhập xuất vẫn được tiến

hành khá chi tiết và chặt chẽ theo từng lần xuất nhập, nhất là trong lĩnh vực

thanh toán hàng nhập khẩu cũng như các giao dịch với ngân hàng để thực hiện

nhiều thương vụ nhập khẩu.

Thứ sáu: Do đặc thù của công ty là kinh doanh trong lĩnh vực gas , khí

đốt- là một mặt hàng đòi hỏi các điều kiện kỹ thuật một cách chặt chẽ nên việc

mua hang cung như các chi phí phát sinh trong q trình mua hàng phải trải qua

rất nhiều cơng đoạn cồng kềnh, phức tạp nhưng cơng ty kiểm sốt chặt chẽ việc

nhập hàng, tính giá thành mua và thanh tốn tiền hàng hố, dịch vụ. Do đó hạn

chế tối đa đựoc sự thất thoát hàng hoá và kiểm soát được việc chi tiền. Ngồi ra

cơng ty còn sử dụng tối đa nguyên tắc phân công trách nhiệm giữa các bộ phận

trong việc nhập khẩu hàng và thanh toán tiền hàng. Chính điều này góp phần

giúp doanh nghiệp có thể xác định chính xác được trị giá thực tế của hàng nhập

kho.



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

3.1.2. Những điểm cần hồn thiện.

Bên cạnh những thành tích đạt đựoc, việc hạch toán kế toán nghiệp vụ

nhập xuất hàng hoá nói riêng cũng như cơng tác kế tốn nói chung tại cơng ty

vẫn còn một số những hạn chế nhất định sau:

Thứ nhất: Về công tác tổ chức phân cấp hạch toán kế toán đến các đơn vị

trực thuộc và các chi nhánh nên độ chính xác, tính hợp lý, hợp lệ của các hoạt

động có liên quan đến quá trình nhập khẩu khơng đựoc đảm bảo. Việc cung cấp

cho lãnh đạo cơng ty những thơng tin về tình hình thực hiện kế hoạch nhập

khẩu nhiều khi bị gián đoạn, làm hạn chế phần nào việc đề ra các biện pháp kịp

thời cho q trình nhập khẩu hang khi có sự cố xảy ra.

Mặc dù với việc phân công rõ ràng trách nhiệm của của tưng bộ phận trong

quá trinh nhập xuất hàng nhưng nhiều khi việc chuyển giao chứng từ từ phòng

xuất nhập khẩu đến phòng kế tốn còn chậm, gây khó khăn cho việc tập hợp

chứng từ từ phòng kế tốn. Việc vận chuyển gas trên biển nhiều khi không nhập

cảng đúng thời hạn do gián đoạn tàu gây lên tình trạng thiếu hàng hố để bán.

Mặt khác lại đồng thời phát sinh thêm nhiều chi phí kiểm định, chi phí bảo

quản...gây tổn thất về mặt kinh tế đối với công ty.

Thứ hai: Công ty sử dụng giá hạch toán đối với hàng nhập về kho cung

như đơi với hang xuât sau đó mới phân bổ cho trị giá hàng xuất. Với việc hạch

tốn như trên cơng ty phải định giá hạch tốn thống nhất tồn cơng ty và phải

mở thêm một tài khoản chi tiết đó là 156512( chênh lệch giá hạch toán và giá

vốn của gas hố lỏng), 156522( chênh lệch giá hạch tốn và gía vốn của bếp và

phụ kiện), do đó việc ghi chép sẽ phức tạp hơn, phải mở thêm sổ để theo dõi các

khoản chênh lệch. Điều này làm ảnh hưởng đến việc tính tốn, theo dõi trị giá

hàng hố nhập cũng như hàng xuất.

Thứ ba: Công ty sử dụng tỷ giá hạch toán để phản các nghiệp vụ kinh tế

liên quan đến ngoại tệ.

Theo chuẩn mực số 10-ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đối- ban

hành và cơng bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm

2002 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính thì ngun tắc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế

phát sinh bằng ngoại tệ và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại

ngày lập bảng CĐKT ở thời điểm cuối năm tài chính theo tỷ giá thực tế. Nhưng

SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

công ty Gas- Petrolimex trong quá trình kinh doanh phát sinh rất nhiều nghiệp

vụ có liên quan đến ngoại tệ, để giảm nhẹ việc ghi chép, kế tốn kế tốn cơng ty

đã sử dụng tỷ giá hạch toán để phản ánh các khoản nợ phải thu, công nợ phải trả

và các khoản tiền. Việc sử dung tỷ giá hạch tốn nhìn chung có tác dụng rất lớn

nhằm giảm tính phức tạp và cồng kềnh trong việc hạch toán kế toán, nhưng mặt

khác lại trên thực tế tại công ty lại bộc lộ một số khuyết điểm sau:

• Do khơng sử dụng tỷ giá thực tế nên VAT của phí bảo hiểm cơng ty đã

hạch toán theo giá thực tế theo bút toán :

Nợ TK1388( MK:31000022): Phí bảo hiểm* TGHT

Nợ TK133: Phí bảo hiểm* TGHT* Thuế xuất thuế GTGT

Có TK1388( Mk :11038000): Tổng số tiền phải trả cho công ty bảo

hiểm PJICO

Điều này sai với chế độ kế toán quy định hiện hành phải sử dụng TGTT để

tính các khoản phải nộp NSNN.

• Khi trị giá thực tế của lơ hàng NK, kế tốn chỉ sử dụng một TGTT duy

nhất đó TGTT1 ghi trên hoá đơn của người bán( Invoive) mặc dù thời

điểm nhận đựoc hố đơn bán hàng, hố đơn thu phí bảo hiểm, hố đơn

thu phí vận tải là khác nhau( do đó tỷ giá quy đổi là khác nhau). Lấy ví

dụ về tính cước phí vận tải ta thấy:

Phản ánh cước phí vận tải vào trị giá vốn hàng nhập

Nợ TK 15151:

Phí vận tải* TGTT1

Nợ(Có) TK 413: chênh lệch TGHTvà TGTT1

Có TK 331131 (MK: 31000022) Phí vận tải *TGTT

Phản ánh cước phí vận tải thực trả cho cơng ty vận chuyển thuỷ 1

Nợ TK 331131( MK:31000022) Phí vận tải * TGHT

Nợ (Có) TK413:

chênh lệch TGHT và TGTT2

Có TK 331131( MK: 31000022): Phí vận tải*TGTT2

Như vậy việc hạch tốn như trên đã tạo ra một tài khoản chênh lệch tỷ

giá ảo, không đúng với bản chất của TK413. Vì vậy theo ý kiến của em công ty

nên sử dụng TGTT để hạch toán các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến ngoại tệ



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

vừa khắc phục đựoc hạn chế nêu trên, lại vừa phù hợp với chế độ kế toán hiện

hành.

Thứ ba: Phản ánh sai trị giá vốn của hàng nhập khẩu do việc hạch tốn

chung chi phí thu mua hàng nhập khẩu với chi phí bán hàng cà chi phí quản lý

doanh nghiệp

Hiện nay trong q trình hạch tốn kếtốn, các chi phí giao dịch ngân

hàng để phục vụ cho việc nhập hàng hoá và thanh tốn tiền hàng(phí mở L/C,

phí sửa L/C..); Các chi phí khác trực tiếp phát sinh liên quan đến trị giá của

hàng nhập ( phí vận chuyển, lệ phí hải quan, phí lưu kho bãi...) thơng thường

được hạch tốn vào tài khoản 1562-“chi phí thu mua hàng hố” và các chi phí

quản lý doanh nghiệp treo trên TK 642 đều được kế toán phản ánh và tập hợp

vào tài khoản 641- Chi phí bán hàng. Chính điều này đã làm giá vốn hàng bán

của công ty không được phản ánh đầy đủ chính xác. Giá vốn hàng bán sẽ bị

đánh giá thấp xuống, CPBH lại tăng lên, dẫn đến kết quả kinh doanh của từng

bộ phân sẽ bị đánh giá sai ; Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả

chi phí phát sinh và xây dưng phương án kinh doanh.

Tuy nhiên, việc hạch toán như trên của công ty lại xuất phát tù đặc thù

kinh doanh của Tổng cơng ty xăng dầu Việt Nam nói chung và cơng ty cổ phần

gas nói riêng. Theo chế độ hiên hành quy định các chi phí thu mua thực tế phát

sinh trong q trình mua hàng như: chi phí vận chuyển bốc dỡ, tiền thuê kho

bãi...sẽ được hạch toán riêng; đến cuối tháng mới tính tốn phân bổ cho hàng

hố xuất kho để tính trị giá vốn thực tế của hàng hố xuất theo cơng thức:

Chi phí thu mua thực tế

phân bổ cho hàng xuất

kho



=



Chi phí thu mua phân bổ

cho hàng đầu kỳ

Trị giá mua thực tế của

hàng tồn đầu kỳ



+



Chi phí phát sinh trong kỳ



+



Trị giá mua thực tế của hàng

xuất trong kỳ



Tuy nhiên ở công ty Gas Petrolimex, trong q trình mua hàng do chi phí

thu mua phát sinh quá nhỏ so với trị giá các lô hàng nhập cũng như hàng xuất

bán trong kỳ nên viẹc phân bổ chi phí thu mua cho hàng xuất kho là thực sự

khơng cần thiết. Việc hạch tốn riêng chi phí mua hàng vào TK 1562- Chi

phí thu mua và chi phí bán hàng vào TK 641- Chi phí bán hàng sẽ phản ánh

chính xác hơn giá trị thực tế của lô hàng xuất bán song hiệu quả lại không cao.

SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

Do đó, theo em việc xin phép Bộ Tài Chính cho hạch tốn chung như trên là

một sự linh hoạt của cơng ty nhằm giảm nhẹ tính phức tạp và khối lượng cơng

việc kế tốn. Một vấn đề nảy sinh bao giờ cũng có tính hai mặt nhưng xét về

tính hiệu quả thì cơng ty vẫn có thể hạch tốn chung như trên. Tuy nhiên, kế

tốn chi phí bán hàng trong cơng ty cần phân nhóm các khoản mục chi phí để

việc quản lý các khoản mục chi phí trong q trình kinh doanh sẽ hiệu quả hơn.

Thứ tư: Việc sử dụng hệ thống tài khoản.

Hiện tại công ty, để thực hiện việc thanh toán nội bộ, thanh toán bù trừ

giữa văn phòng cơng ty với các chi nhánh, các tổng đại lý- đại lý thành viên;

công ty chỉ sử dụng duy nhấy một TK336-Phải trả nội bộ mà không sử dụng

TK136-Phỉa thu nội bộ. Điều này dẫn đến việc theo dõi công nợ phải thu, phải

trả nội bộ chi tiết cho từng chi nhánh và các đơn vị trực thuộc là khó khăn và vất

vả hơn, rất dễ gây nhầm lẫn

Thứ năm: Về việc mở số sách

Việc thiêt kế mẫu bảng biểu ở cơng ty còn có sự trùng lắp, mẫu nhật ký

chứng từ và mẫu của các bảng kê là giông nhau. Việc thiết kế tiêu đề tiêu đề

của các bảng kê chứng từ khó hiểu, dễ gây nhầm lẫn.

3.2. Một số ý kiến nhằm hồn thiện cơng tác kế tốn mua hàng và phân tích

tình thanh tốn với người bán ở công ty cổ phần Gas- Petrolimex.

Trong chuyến viếng thăm Việt Nam ngày 17/11/2000 của tổng thống Hoa

Kỳ W.J.Clinton, tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã phát biểu: “...Chúng tôi chưa đạt

được tầm phát triển tương xứng với khả năng đất nước của chung tơi và chỉ có

cách là mở rộng cửa hơn nữa nền kinh tế ...”. Bằng nhiều cách khác nhau, Việt

Nam đang từng bước hội nhập, hồ vào dòng chảy của thế giới .Nhưng để thành

cơng nếu chỉ miệt mài cố gắng thôi chưa đủ mà quan trọng là phải có những biện

pháp và hành đơng cụ thể; đặc biệt là trong khâu quản lý tài chính nhà nước mà

tiêu biểu là chế độ kế tốn được thực hiên ln đòi hỏi phải có sự đổi mới , hoàn

thiện, tránh tụt hậu.

Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp hoạt động

trong lĩnh vực thương mại nói riêng cần phải có sự đổi mới để phù hợp với điều

kiện hiện nay. Công ty cổ phần Gas- Petrolimex là một doanh nghiệp thương

SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

mại trực thuộc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam hoạt động chủ yếu trong lĩnh

vực nhập khẩu. Trong những năm gần đây công ty đã có nhiều cố gắng trong

việc cải tiến, đổi mới nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số khâu cần sửa

đổi, hoàn thiện hơn.

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn cơng tác kế tốn ở cơng ty, em xin

mạnh dạn đề xuất một số ý kiến nhằm hồn thiên cơng tác kế tốn hàng hố ở

cơng ty như sau:

3.2.1. Hạch toán lại các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến ngoại tệ và xử lý

CLTG.

Để khắc phục những hạn chế trong việc sử dụng TGHT như đã nói ở trên

và để phù hợp với chuẩn mực số 10- chênh lệch tỷ giá hối đối- cơng ty nên sử

dụng TGHT để hạch toán kế toán các khoản phát sinh bằng ngoại tệ .

*Nguyên tắc cơ bản trong việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

bằng ngoại tệ và đánh giá lại các khoản mục có gốc ngoại tệ tại ngày lập bảng

CĐKT ở thời điểm cuối năm tài chính như sau:

- Đối với bên Có của các tài khoản vốn bằng tiền, khi phát sinh các nghiệp

vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải đựơc ghi sổ kế toán bằng đồng Việt Nam hoặc

bằng đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế tốn theo tỷ giá ghi trên sổ kế

tốn ( tỷ giá bình qn gia quyền, tỷ giá nhập trước xuất trước...).

- Đối với bên Có của TK nợ phải trả, hoặc bên nợ của các TK nợ phải thu,

khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng

đồng Việt Nam hoặc bằng đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế tốn theo tỷ

giá giao dịch. Cuối năm tài chính các số dư Nợ phải trả hoặc dư Nợ phải thu có

gốc ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường

ngoại tệ liên ngân hàng do nhân hàng Nhà Nước Việt Nam công bố tại thời điểm

cuối năm tài chính.

- Đối với bên Nợ của TK nợ phải trả, hoặc bên có của TK nợ phải thu khi

phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng

đồng Việt Nam, hoặc bằng đơn vị chính thức sử dụng trong kế tốn theo tỷ giá

ghi trên sổ kế toán



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

- Cuối năm tài chính doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản mục tiền

tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

do nhà nước công bố tại thời điểm lạpp bảng CĐKT cuối năm tài chính.

-Trương hợp mua, bán ngoại tệ bằng đồng Việt Nam thì hạch tốn theo tỷ

giá thực tế mau, bán.

Tồn bơn chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và chênh lệch tỷ

giá hối đaói đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài

chính của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được ghi nhận ngay vào chi phí

tài chính hoặc doanh thu hoạt động tài chính trên báo cáo kết quả hoạt động của

năm tài chính

Vậy cụ thể với nghiệp vụ nhập, xuất hàng hố tại cơng ty nên hạch

tốn như sau:

TK1121



TK1122

TGTT1



(4)



TK331



GTT



TGTT



TGTT



2



1



2



(5)

TK515



TK156511



(3a)



TK632



(8a)



TK635



TK156512

TK336

(6a)



TK33331

(2a)



TK33312

(6b)



(3b)



(8b)



TK1331

(2b)



(7a)



TK641



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

(7b)



(1). Nhập mua hàng tại cảng (Bao gồm cả giá trị lô hàng, cước phí bảo hiểm

và cước phí vận tải (nếu có)

(2). Phản ánh thuế NK(2a), thuế GTGT hàng HK (2b).

(3). Hàng nhập khẩu nhập kho

(3a): Trị giá hạch toán của hàng nhập khẩu nhập kho

(3b): Chênh lệch giá vôn và giá hạch toán của hàng NK nhập kho.

(4). Mua ngoại tệ để thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu.

(5). Thanh tốn với người xuất khẩu .

(6).Bù trừ cơng nợ với các chi nhánh về số tiền HK, thuế GTGT hàng NK.

thuế GTGT hàng NK mà các chi nhánh đã chi hộ.

(7). Các chi phí phát sinh trong q trình nhập khẩu hàng hố.

(7a). Những chi phí do các chi nhánh chi hộ( Lệ phí hải quan, chi phí bốc

xếp, lưu kho bãi..)

(7b). Những chi phí do cơng ty trực tiếp thanh tốn( phí mở L/C. chi phí

giám định...)

(8). Tính giá vốn xuất bán hàng nhập khẩu.

(8a). Kết chuyển giá vốn hàng NK thoe giá hạch toán theo mỗi lần xuất bán.

(8b). Cuối kỳ phân bổ chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của số

lượng hàng đã xuất bán trong kỳ vào trị giá vốn hàng bán

3.2.2. Bổ sung thêm TK 136 trong việc ghi chép, thanh tốn bù trừ.

Hiện nay văn phòng cơng ty chỉ sử dụng một tài khoản 336- Phải trả

nội bộ để hạch toán các khoản phải thu, phải trả nội bộ. Điều này gây bất cập



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

trong việc thanh tốn cơng nợ và bù trừ các khoản phải thu, phải trả giữa văn

phòng cơng ty và các đơn vị trực thuộc. Do đó theo em công ty nên nên sử

dụng đồng thời 2 tài khoản 336 và 136 để tiện theo dõi đối chiếu các khoản

phải thu, phải trả giữa các đơn vị thoe nội dung thanh toán nội bộ để lập biên

bản thanh toán , bù trừ trên các tài khoản phải thu, phải trả. Cuối kỳ nếu có

chênh lệch phải tìm ngun nhân và điều chỉnh kịp thời

Cụ thể việc hạch toán vào tài khoản 336 và 136 tại văn phòng cơng ty

nên thực hiện như sau:

a.Kế toán các khoản phải thu nội bộ.

* Nội dung các khoản phải thu nội bộ phản ánh vào TK 136 bao gồm:

+ Vốn, quỹ đã cấp chưa thu hồi hoặc chưa quyết toán.

+ Các khoản cấp dưới phải nộp theo quy định.

+ Các khoản nhờ cấp dưới thu hộ.

+ Các khoản đã chi trả hộ cấp dưới.

* Kế toán các khoản phải thu nội bộ cần phải mở sổ theo dõi chi tiết

theo từng đơn vị có quan hệ kinh tế, theo từng khoản phải thu và có

những biện pháp thu hồi. giải quyết dứt điểm trong từng niên độ kế tốn

* TK136 có hai tài khoản cấp 2

- TK1361- Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc. Tài khoản này chỉ

mở ở đơn vị cấp trên để phản ánh số kinh doanh hiện có ở các đơn vị

trực thuộc. Đối với công ty tài khoản này cần phải mở chi tiết cho từng

chi nhánh và đơn vị trực thuộc.

- TK 1368- Phải th khác. Tài khoản này phản ánh tất cả các khoản

phải thu giữa các đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp

* Trình tự hạch toán các khoản phải thu nội bộ ở các đơn vị cấp trên

- Khi cấp vốn kinh doanh cho các đơn vị cấp dưới kế toán ghi:

Nợ TK 136(1361): phải thu nội bộ



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

Có TK111. 112...:Tiền mặt. TGNH

Có TK156: hàng hố

- Trường hợp cấp vốn bằng TSCĐ đã sử dụng ghi:

Nợ TK 136- Phải thu nội bộ(1361)

Có TK 451- Quỹ quản lý của cấp trên

Có TK421- Lãi chưa phân phối

Có TK414- Quỹ phát triển doanh nghiệp

Có TK415- Quỹ dự trữ

Có TK431- Quỹ khen thưởng phúc lợi

- Phải thu cấp dưới về bán tiền hàng

Nợ TK136(1368- chi tiết đơn vị): Tổng giá thanh tốn

Có TK 512: Doanh thu bán hàng nội bộ

Có TK3331(33311): Thuế GTGT phải nộp

- Nhận được tiền của đơn vị cấp dưới chuyển trả hoặc thanh toán bù

trừ các khoản phải trả ghi:

Nợ TK 111, 112

Nợ TK336

Có TK 136(1368)

b) Kế toán các khoản phải trả nội bộ

* Nội dung các khoản phải trả bao gồm:

- Các khoản cấp dưới phải nộp lên cấp trên, các khoản cấp trên phải

nộp cho cấp cho cấp dưới.

- Các khoản mà các đơn vị trong doanh nghiệp đã thu hộ cấp trên, cấp

dưới hoặc các đơn vị thành viên khác và các khoản thanh toán vãng lai khác



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Luận Văn Tốt Nghiệp

Kế toán các khoản phải trả nội bộ được hạch tốn chi tiết theo từng

đơn vị có quan hệ thanh tốn trong đó được ghi chếp theo từng khoản phải

nộp, phải cấp, phải trả

* Trình tự hạch tốn các khoản phải trả nội bộ sau:

- Khi phản ánh các khoản phải trả cho cấp dưới về các khoản đã thu hộ

cấp dưới hoặc các khoản cấp dưới đã chi hộ, kế toán ghi:

Nợ TK111.112: Tiền mặt, TGNH

Nợ TK156: Hàng hố

Có TK336: Phải trả nội bộ.

- Khi cấp trên trả tiền hoặc bù trừ các khoản phải thu ở đơn vị cấp

dưới kế tốn ghi:

Nợ TK336- Phải trả nội bộ

Có TK111, 112: Tiền mặt, Tiền gửi ngân hàng

Có TK 136(1368)- Phải thu nội bộ



3.2.3. Cơng ty nên hạch tốn hàng xuất bán theo trị giá thực tế của hàng

mua

Việc hach toán tri giá của hàng xuất bán theo giá hạch tốn sễ gây ra

một khó khăn đó là phải mở sổ và theo dõi thêm khoản chênh lệch giữa trị

giá thực tế của hàng xuất với giá hạch toán của lơ hàng đó. Đến cuối kỳ

chênh kệch mới đựoc phản ánh trên tài khoản 156512, 156522 và theo dõi

trên sổ cái của 2 tài khoản này.Như vậy việc hạch toán và theo dõi sẽ phức tạp

hơn, nên chăng công ty nên tính và hạch tốn trị giá vơn của hàng xuất kho

theo giá thực tế mua vào thì việc hạch toán sẽ đơn giản hơn



SV: Vũ Thị Trang



K39 - 21.08



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

hàng hoá tại công ty cổ phần Gas- Petrolimex

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×