Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cách thức xây dựng và phát triển văn hoá nhà trường

Cách thức xây dựng và phát triển văn hoá nhà trường

Tải bản đầy đủ - 0trang

đó có ý thức rõ những điểm mạnh để phát huy và điểm chưa mạnh để khắc phục

hay không?

Phát triển văn hóa nhà trường khơng phải chuyện ngày một ngày hai mà

cần có những bước đi phù hợp. Xây dựng văn hóa nhà trường có thể tiến hành

theo các bước sau:

1) Tìm hiểu mơi trường và các yếu tố ảnh hưởng tới chiến lược phát triển

của nhà trường trong tương lai xem những yếu tố nào có ảnh hưởng nhất làm

thay đổi chiến lược phát triển của tổ chức nhà trường;

2) Xác định đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho thành công. Đây là bước

cơ bản nhất. Các giá trị cốt lõi phải là các giá trị khơng phai nhòa theo thời gian

và là trái tim và linh hồn của nhà trường;

3) Xây dựng tầm nhìn – một bức tranh lý tưởng trong tương lai – mà nhà

trường sẽ vươn tới. Đây là định hướng để xây dựng văn hóa nhà trường, thâm

chí có thể tạo lập một nền văn hóa tường lai cho nhà trường khác hẳn trạng thái

hiện tại;

4) Đánh giá văn hóa hiện tại và xác định những yếu tố văn hóa nào cần

thay đổi. Văn hóa thường tiềm ẩn, khó thấy nên việc đánh giá là cực kỳ khó

khăn, dẽ gây nhầm lẫn vì các chủ thể văn hóa vốn đã hòa mình vào nền văn hóa

đương đại, khó nhìn nhận một cách khách quan sự tồn tại của những hạn chế và

những mặt trái, mặt tiêu cực cần thay đổi;

5) Tập trung nghiên cứu, đề xuất giải pháp làm gì và làm thế nào để thu

hẹp khoảng cách của những giá trị văn hóa hiện có và văn hóa tương lai của nhà

trường;

6) Xác định vai trò của lãnh đạo trong việc dẫn dăt thay đổi và phát triển

văn hóa nhà trường. Lãnh đạo phải thực hiện vai trò người đề xướng, người

hướng dẫn các nỗ lực thay đổi. Lãnh đạo lại có vai trò hoạch định tầm nhìn,

truyền bá cho mọi thành viên nhận thức đúng tầm nhìn đó, có sự tin tưởng và

cũng nỗ lực thực hiện; cũng như chính lãnh đạo là người coa vai trò xua đi

những đám mây ngờ vực, lo âu của các thành viên trong tổ chức nhà trường;

7) Soạn thảo một kế hoạch, một phương án hành động cụ thể, chi tiết tới

từng việc, từng người, phù hợp với các điều kiện thời gian và nguồn lực khác để

có thể thực thi được kế hoạch đó;

8)Phổ biến nhu cầu thay đổi, viễn cảnh tương lai để mọi người cùng chia

sẻ, từ đó, động viên tinh thần, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ giáo viên trong

nhà trường có sự đồng thuận, hiểu rõ vai trò, vị trí, quyền lợi và trách nhiệm của

mình trong việc nỗ lực tham gia xây dựng, phát triển văn hóa mới cho nhà

trường;

9) Giúp cho mọi người, mọi bộ phận nhận rõ những trở ngại của sự thay

đổi một cách cụ thể, từ đó, động viên, khích lệ các cá nhân mạnh dạn từ bỏ thói

quen cũ khơng tốt, chấp nhận vất vả để có sự thay đổi tích cực hơn;



10) Thể chế hóa , mơ hình hóa và củng cố, cải thiện liên tục sự thay đổi

văn hóa; coi trọng việc xây dựng và động viên mọi người noi theo các hình mẫu

lý tưởng phù hợp với mơ hình văn hóa nhà trường đang hướng tới. Sự khích lệ

kèm theo một cơ chế khen thưởng có sức động viên thiết thực là rất cần thiết;

11) Thường xuyên đánh giá văn hóa nhà trường và thiết lập các chuẩn

mực mới, những giá trị mới mang tính thời đại; đặc biệt là các giá trị học tập

không ngừng và thay đổi thường xuyên. Việc truyền bá các giá trị mới cho mọi

thành viên trong nhà trường cần được coi trọng song song với việc duy trì những

giá trị, chuẩn mực tốt đã xây dựng được là lọc bỏ những chuẩn mực, giá trị cũ

lỗi thời hoặc gây ra ảnh hưởng tiêu cưc cho tiến trình phát triển của văn hóa nhà

trường.

III. PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG BỐI

CẢNH HIỆN NAY

1.Xây dựng thương hiệu nhà trường

1.1 Thương hiệu

Xây dựng và phát triển thương hiệu trên thế giới đã có từ lâu. Trong suy

nghĩ của các doanh nghiệp, ban đầu thương hiệu chỉ là cái tên để phân biệt các

sản phẩm của mình với sản phẩm của các nhà sản xuất, kinh doanh khác,

nhưng dần dần họ nhận ra rằng thương hiệu là chất lượng, đẳng cấp của sản

phẩm, là niềm tin của khách hàng, là yếu tố vững bền để khách hàng đưa ra

quyết định tiêu dùng. Nếu một doanh nghiệp không đủ khả năng tạo ra một hình

ảnh có chất lượng cao cho mình, thì đó chính là sự thể hiện nội lực yếu kém của

chính doanh nghiệp đó. Do vậy, đối với các doanh nghiệp, nếu chỉ quan tâm

chú trọng chất lượng thơi thì chưa đủ để họ thành công trên thị trường cả trong

nước và hế giới mà còn phải xây dựng được thương hiệu, tức là xác lập hình

tượng doanh nghiệp trong tâm trí người tiêu dùng. Thơng qua hình tượng đó mà

gười tiêu dùng tin tưởng hơn, yên tâm hơn và có mong muốn được lựa chọn,

tiêu dùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.

Theo lý thuyết, thương hiệu là một dấu hiệu nhận biết được tạo nên bởi

tên gọi, tổ hợp các dấu hiệu đặc trưng về màu sắc, hình ảnh, âm thanh, kiểu chữ,

hình dáng… và có giá trị thể hiện khả năng đáp ứng cho những nhu cầu cụ thể

của người tiêu dùng. Về bản chất, thương hiệu là mối liên hệ giữa các giá trị của

sản phẩm với người tiêu dùng. Do vậy, việc xây dựng thương hiệu không chỉ là

việc tạo ra các yếu tố nhận biết thông thường mà quan trọng hơn là xây dựng các

cảm nhận tốt đẹp của người tiêu dùng về sản phẩm, làm cho người tiêu dùng

phải nhớ tới bất cứ khi nào họ có nhu cầu.

Có nhiều yếu tố cấu thành nên một thương hiệu. Mỗi thương hiệu được

tạo dựng thành cơng là nhờ vào bí quyết riêng kèm theo cả yếu tố may mắn.

Tuy nhiên, xét ở tầm khái quát có thể đưa ra một số yếu tố cơ bản cấu thành nên

một thương hiệu như sau:

- Ý tưởng thương hiệu



- Chất lượng hàng hóa, dịch vụ

- Chiến lược marketing

- Uy tín và lợi thế cạnh tranh vốn có.

1.2 Xây dựng và phát triển thương hiệu nhà trường

Xây dựng và quảng bá hình ảnh thương hiệu giáo dục ở Việt Nam, phải

đến đầu những năm 1990, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì các

trường mớiquan tâm đến thương hiệu của mình. Những viên gạch đầu tiên cho

q trình truyền thơng thương hiệu mới ch ỉ là việc thiết kế những website sơ

sài mang tính thơng tin hơn là quảng bá, thiết kế logo, slogan, tổ chức các cuộc

thi, hoạt động về thể thao văn hóa giữa các trường… Những yếu tố đó phần lớn

mang tính hình thức và giá trị thơng tin tối thiểu hơn là quảng bá thương hiệu

thực sự. Nguyên nhân chính là do chưa thực sự coi học sinh là “khách hàng

đặc biệt” của dịch vụ giáo dục và quan hệ cung – cầu trong giáo dục ở Việt

Nam có nhiều điểm khác xa so với một dịch vụ thơng thường được cung cấp thể

hiện ở: tình trạng cầu vượt cung trong thời gian dài, các đơn vị cung cấp dị ch

vụ không cần bỏ tiền ra cho khâu quảng bá, PR (quan hệ công chúng) mà vẫn

đảm bảo lượng khách hàng sử dụng dịch vụ; cơ chế “ bao cấp” trong giáo dục đã

tồn tại trong một thời gian quá dài.

Xin được đưa ra 3 nhóm giải pháp áp dụng trong để phát triển và duy trì

thương hiệu giáo dục các trường học hiện nay.

1) Tạo dựng hình ảnh và truyền thông thương hiệu

Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa hữu hình, muốn bán một sản phẩm (dù

chất lượng tốt đến mấy) thì phải làm quảng cáo đề người tiêu dùng biết đến sản

phẩm và dùng thử. Đánh giá của học sinh, phụ huynh học sinh hay người dân về

chất lượng đào tạo của một trường học nào đó khơng chính xác bằng những

chun gia do hiện tượng thiếu thông tin trên thị trường. Tuy nhiên, người

quyết định sử dụng dịch vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của thương

hiệu lại là học sin và gia đình chứ khơng phải các chun gia trong ngành. Vì

vậy, việc tạo dựng hình ảnh và truyền thơng thương hi ệu là q trình làm sao

để một trường học có chất lượng đào tạo thực sự được công nhận bởi không chỉ

chuyên gia trong ngành mà những thông tin cung cấp phong phú và đến được

với người sử dụng dịch vụ cuối cùng trong nước cũng như quốc tế trong một

thị trường thơng tin thi ếu hụt.

Tạo dựng hình ảnh

Đây là bước đầu tiên trong công cuộc xúc tiến quảng bá truyền thơng

thương hiệu. Theo đó, cũng như dịch vụ vơ hình khác, các trường h ọc cũng

cần tạo dựng hình ảnh riêng bắt đầu từ việc nâng cấp website, thiết kế logo và

t ạo thông điệp riêng của trường. Trong đó logo và thơng điệp riêng là yếu tố

quan trọng mà nhìn vào đó, học sinh cha mẹ học sinh biết được đị nh hướng

đào tạo của trường, phương châm hoạt động.



Tâm lý chung người tiêu dùng bao giờ cũng có ấn tượng tốt đẹp với một

website sáng sủa, rõ ràng với một thông điệp gây xúc cảm mạnh mẽ hơn là một

website nhạt nhòa, thơng tin hỗn độn. Mặt khác, cách thiết kế trình bày website

cũng dễ dẫn đến sự liên hệ trong tâm trí người tiêu dùng về đẳng cấp thương

hiệu.

Về điều này thì website các trường cơng lập thuộc nhóm trọng điểm và

nhiều trường khác thuộc nhóm có đặc điểm chung là thiết kế chưa bắt mắt, logo

nhàm chán và không ấn tượng. Điểm qua logo các trường đại học được

coi là trọng điểm và cả những trường đang xem xét liệt vào danh sách trường

trọng điểm, logo không ấn tượng và được thiết kế trùng lặp nhiều với những

hình ảnh quen huộc như quyển vở, ngọn đuốc…

Quảng bá thương hiệu dưới nhiều hình thức

Để phát triển được thương hiệu sau khi đã hoàn tất phần xây dựng, các

trường học cần thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản:

- Xúc tiến quan hệ công chúng trong nước, cần đẩy mạnh mối liên kết

giữa nhà trường và học sinh, cha mẹ học sinh .Việc thu thập ý kiến phản hồi của

học sinh về chất lư ợng đào tạo, cơ sở vật chất và gi ảng viên của nhà trường,

trung bình khoảng 2 lần /năm.

- Đẩy mạnh chiến dịch PR hình ảnh của trường ra nước ngồi, có thể

thơng qua xây dựng mối quan hệ hợp tác quốc tế.

2) Quản lý và đa dạng hóa giáo dục phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Quản lý và đa dạng hóa giáo dục vốn là những vấn đề vĩ mơ khó khăn để

hồn thành cho tốt đối với mọi quốc gia nhưng cũng là những vấn đề sống còn

đối với nền giáo dục của một đất nư ớc. Vì trên thực tế, nếu nền giáo dục có đầy

đủ nhân tài, vật lực nhưng khơng có người đầu tàu lãnh đạo, thâu tóm, nắm bắt

thì sẽ khơng thể phát huy hết đư ợc những điểm mạnh thuộc tính cá thể trên.

Bên cạnh đó, nếu các nguồn lực đầy đủ thậm chí dư thừa mà nền giáo dục

không linh hoạt, chậm đổi mới, lạc hậu thì cũng sẽ lãng phí nguồn lực đó. Do

vậy, ổn định và phát triển quản lý và đa dạng hóa giáo dục là một vấn đề cần

được quan tâm một cách cẩn trọng và thường xuyên.

Một cán bộ quản lý ngành giáo dục không chỉ quản các cán bộ cơng

chức khác mà còn phải có trách nhiệm với một số lượng lớn học sinh. Đây mới

là những thành phần khó kiểm sốt do tính chất khơng đồng đều về trình độ,

nhận thức cũng như hồn cảnh. Muốn duy trì và phát triển thành cơng thương

hiệu giáo dục các cán bộ quản lý cần thiết phải đi sâu đi sát vào những chi tiết

đó, từ đó mới bao quát, tổng hợp và tìm ra đường hướng tốt nhất cho tập thể

mà mình lãnh đạo. Thực tế này đòi hỏi các cán bộ quản lý phải thật s ự là

những người được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp để ứng phó với m ọi tình

huống có thể xảy ra trong quá trình điều hành một tập thể lãnh đạo.

Hiện nay, ở Việt Nam, còn rất nhiều cán bộ quản lý giáo dục đi lên

từgiáo viên lâu năm, có lí lịch và thành tích tốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh phức



tạp của nền kinh tế thị trường, chỉ kinh nghiệm thơi chưa đủ. Vì vậy, thiết nghĩ

Việt Nam cần tiến hành đào tạo cán bộ quản lý một cách toàn diện hơn đặc biệt

là để phát triển thương hiệu bền vững. Trong thời đ ểm hiện tại, Việt Nam chưa

có nhiều trường chuyên đào tạo giảng viên hay cán bộ quản lý giáo dục. Tuy

nhiên, trong tương lai, khi thương hiệu giáo dục ở Việt Nam đã được xác lập, chỉ

có như vậy, cán bộ quản lý giáo dục mới có thể đủ kĩ năng, linh hoạt để đối phó

với mọi tình huống trong cơng việc.Bên cạnh đó, những người thuộc thành phần

quản lý đặc biệt là hiệu trưởng cần giữ vững được định hướng giáo dục của

trường mình thực hiện đúng sứ mệnh, tầm nhìn.

Ngồi ra, cơng tác quản lý hiện nay không thể chỉ dựng lại ở quản lý

nhân lực và cơng tác giảng dạy mà còn phải tiến tới quán triệt ý thức giáo dục

đến từng cá nhân bao gồm giáo viên và đặc biệt là sinh viên. Cần loại bỏ những

tư tưởng gian lận, học tủ, học gạo của học sinh và khiến học sinh hợp tác vì

một mơi trường đào tạo trong sạch, hiệu quả hơn. Muốn như vậy thì từng giáo

viên phải thắt chặt kỉ luật trong lớp, trong thi cử cũng như giảng dạy nhiệt tình,

sáng tạo hơn.

3) Giữ vững nguyên tắc trung thực để duy trì thương hiệu

Nếu khơng thật sự xem giáo dục là thị trường thì khơng thể tồn tại vì chỉ

có thể xem giáo dục là thị trường thì dị ch vụ giáo dục mới được đặt vào môi

trường cạnh tranh từ đó loại bỏ đi những nhà cung cấp dịch vụ không đảm bảo

chất lượng. Và khi đã xem giáo dục như một thị trường đúng nghĩa của nó và

học sinh, sinh viên thực sự là những “khách hàng” thì thương hiệu giáo dục

cũng phải tuân theo các nguyên tắc xây dựng và duy trì như bất cứ thương hi ệu

hàng hóa nào khác. Một trong những nguyên tắc cơ bản để duy trì thương hiệu

của bất cứ sản phẩm gì là nguyên tắc trung thực.Trong thương mại hàng hóa, có

một sai l ầm vơ cùng nghiêm trọng mà các hãng quảng cáo các sản phẩm ở

Việt Nam hay mắc phải, đó chính là sự thiếu trung thực. Điều đáng tiếc là đa

phần các thương hiệu của chúng ta lại đang được quảng cáo theo những cách

thức tài tử, sáo mòn, thiếu sáng tạo, có khuynh hướng thổi phồng q mức,

dùng những thơng điệp q kêu, thậm chí những cách thức thiếu trung thực

để“câu kéo” khách hàng. Việc làm này trong ngắn hạn có thể thu hút được

nhiều khách hàng nhưng hậu quả của việc thi ếu trung thực là vơ cùng lớn

khách hàng cảm thấy mình bị l ừa và, hoặc ồn ào hoặc lẳng lặng, từ bỏ, quay

lưng lại với sản phẩm. Quá trình này thường không diễn ra “tắp lự” mà từ từ

khiến doanh nghiệp khó nhận ra ngay. Câu chuyện khơng chỉ dừng ở đây mà nó

còn được ghi dấu trong tâm trí họ, nó được tổng kết thành một “bài học” - bài

học này chính là liều thuốc độc tiêu diệt thương hiệu đã được quảng cáo kia

đồng thời được dùng làm “nền” để khách hàng xem xét thương hiệu của đối

thủ, nếu thương hiệu của đối thủ không mắc phải lỗi tương tự thì thương hiệu

đó sẽ được nâng cao hơn, tơ đậm hơn trong nhận thức khách hàng mà không

phải tốn một xu quảng cáo nào - đây chính là tình trạng của nhiều thương hiệu

nội địa trong tương quan với các thương hiệu quốc tế có uy tín. Mặt khác, sự

thiếu trung thực trong xây dựng thương hiệu còn để lại hậu quả mang tính

ngoại ứng tiêu cực. Khi một sản phẩm trong cùng lĩnh vực được tung ra thị



trường, do những kinh nghiệm vốn có, chất lượng dù tốt đến mấy cũng bị người

tiêu dùng ngầm trừ hao đi phần trăm trong đó.

Giáo dục là lĩnh vực nhạy cảm, sản phẩm đầu ra chính là con người và vì

thế, nguyên tắc trung thực càng cần được duy trì. Tiếp thị giáo dục chỉ được

dựa trên những gì trường thực sự làm được, những dịch vụ và những hứa hẹn

đối với học sinh . Điều này cũng có nghĩa là việc phát triển khái niệm “thương

hiệu” cho nhà trường phải dựa trên chất lượng thực sự của nhà trường, chất

lượng đó phải đến mức có thể hình thành thương hiệu chứ không chỉ là sự ngộ

nhận nội bộ. Các trường nên thành lập phòng ban phụ trách vấn đề marketing

cho trường và phải tuyển những người có đạo đức làm công tác tiếp thị.

3.Liên kết, hợp tác quốc tế trong phát triển giáo dục ở phổ thông

3.1 Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số

29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu tăng

cường hợp tác quốc tế trong giáo dục, tập trung chủ yếu vào một số vấn đề sau:

Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục,

đào tạo; Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc

lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá

trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành

tựu khoa học, cơng nghệ của nhân loại.

Hồn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam

kết quốc tế về giáo dục, đào tạo.Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân

sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi

nhọn, đặc thù. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngồi bằng các

nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước. Mở rộng liên kết đào tạo với những

cơ sở đào tạo nước ngồi có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục

nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo. Có cơ chế khuyến

khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài

tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và

công nghệ ở Việt Nam. Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế. Có

chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt

Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước

ngồi tại Việt Nam.

3.2 Một số biện pháp tăng cường liên kết, hợp tác quốc tế

-Tăng cường ký kết và triển khai thực hiện các văn bản hợp tác với các

trường học, các tổ chức quốc tế, nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế ở tất cả

các khâu, các mặt nhằm tranh thủ sự hỗ trợ tối đa của các tổ chức, cơ quan nước

ngoài để phát triển sự nghiệp đào tạo và NCKH của trường;

- Tăng cường quảng bá, xúc tiến triển khai các hoạt động đào tạo hướng

tới nước ngoài



- Chú trọng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giáo viên có trình độ

cao để thực hiện HTQT trong điều kiện hợp tác các bên cùng có lợi vì phát triển

trong điều kiện đa phương hóa hiện nay;

- Tích cực tạo nguồn tài chính để tăng khả năng mở rộng hợp tác quốc tế;

mặt khác cần chủ động tìm và tạo nguồn hỗ trợ cho hợp tác quốc tế từ các doanh

nghiệp, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước;

- Tăng cường cử giáo viên, cán bộ quản lý ra nước ngoài học tập, giảng

dạy và nghiên cứu; đồng thời mở rộng việc nhận chuyên gia các nước đến

Trường để giảng dạy và nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên

của Trường có cơ hội tiếp cận và hòa nhập trình độ của khu vực và thế giới.

Khai thác triệt để các quan hệ hợp tác quốc tế nhằm mở rộng hình thức "du học

tại chỗ" cho cán bộ, giáo viên và học sinh .

- Gắn các chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học với hoạt động hợp

tác quốc tế: Xây dựng các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học trong một

số lĩnh vực đặc thù phù hợp sở trường của nhà trường và được nhiều nơi quan

tâm như: các dự án khoa học, dự án môi trường….

- Thường xuyên tổ chức và tham gia các cuộc thi, hội nghị, hội thảo khoa

học quốc tế, đẩy mạnh các chương trình giao lưu trao đổi học thuật, trao đổi sinh

viên nhằm mở rộng quan hệ, tìm kiếm đối tác hướng tới việc tạo ra một mạng

lưới liên kết mở rộng, quảng bá hình ảnh nhà trường một cách rộng rãi.

IV.MỐI QUAN HỆ GIỮA XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG VỚI

PHÁT TRIỀN THƯƠNG HIỆU VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ

Đối với bất kỳ tổ chức nào, làm nên sức sống cho nó chính là đội ngũ nhận

sự. Tinh thần, động lực và cách thức làm việc của họ phải được ni dưỡng

trong mơi trường văn hóa tổ chức. Vì vậy khi một đơn vị xác định thương hiệu

là trọng tâm để phát triển bền vững thì văn hóa đơn vị đó cũng phải đổi mới

theo hướng hỗ trợ cho thương hiệu.

Đối với sự phát triển của các nhà trường thì thương hiệu khơng chỉ là hình

ảnh bên ngoài mà “thương hiệu” được tạo dựng bền vững bởi các yếu tố bên

trong chính là văn hóa của nhà trường. Vì vậy phát triển văn hóa nhà trường là

nguồn sản sinh năng lượng cho thương hiệu. Bởi cộng đồng này không chỉ bao

gồm giáo viên, nhân viên, học sinh mà còn có thể mở rộng sang các đối tượng

bên ngồi phụ huynh học sinh, cơng chúng. Nếu làm tốt công việc xây dựng

thương hiệu nội bộ mang ý nghĩa “chinh phục và lan tỏa chí hướng” này, thì

nhà trường sẽ con người có cùng hướng nhìn và tin tưởng lẫn nhau, cùng chấp

nhận thách thức và cống hiến vì mục tiêu lâu dài của thương hiệu. Hệ quả là

hình thành nên ý thức thuộc về và tự hào là thành viên trong cộng đồng ở bản

thân họ, từ đó tạo nên một mơi trường văn hóa tự nguyện hợp tác và tuân thủ kỷ

cương, liên tục tạo ra năng lượng cho thương hiệu theo thời gian.

Giữa phát triển thương hiệu với văn hóa nhà trường là mối quan hệ tương

hỗ, Bởi vì thương hiệu mạnh thương hiệu phải nằm trong văn hóa và ngược lại

văn hóa phải nằm trong thương hiệu, đó là mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Ở



bên trong, ý nghĩa của thương hiệu phải được lan tỏa vào văn hóa nhà trường

nhằm tạo ra giá trị gia tăng về mặt cảm xúc cho thương hiệu tại tất cả các hoạt

động của nhà trường. Nó phải bắt nguồn từ sự đồng cảm với chí hướng, từ đó

hình thành động cơ, lan tỏa sang ý thức và hành vi trong tất cả thành viên của

các thành viên trong nhà trường.

Như vậy việc xây dựng văn hóa nhà trường là vô cùng cần thiết đối với sự

phát triển của mỗi nhà trường, đặc biệt là xây dựng phát triển thương hiệu. Cũng

bởi vì đơn vị nhà trường vừa mang những nét giống doanh nghiệp nhưng có

những điểm vơ cùng khác biệt với đối tượng “khách hàng đặc biệt”. Cho nên

“niềm tin” là yếu tố quan trọng đầu tiên mà “niềm tin” đấy được xây dựng một

cách bền vững nhất từ những thành viên của nhà trường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Mullen, Carol A. (2007). Curriculum Leadership Development: A Guide

for Aspiring School Leaders. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.

2. Yenming Zhang NIE Nanyang. Shaping School Culture. Technological

University Objectives, 2008

3.Nguyễn Tuấn Anh, Xây dựng và phát triển thương hiệu Việt Nam trong

giai đoạn hội nhập quốc tế - thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu quốc

tế, 3/2013.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cách thức xây dựng và phát triển văn hoá nhà trường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×