Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU

KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



cần quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá mua,

chi phí mua, thực hiện kế hoạch thu mua đúng tiến độ thời gian, phù hợp với

kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với khâu bảo quản, doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt hệ thống kho

tàng, bến bãi, trang bị đầy đủ các phương tiện cân, đo, đong đếm cũng như

thực hiện đầy đủ chế độ bảo quản hợp lý đối với nguyên vật liệu để tránh hư

hỏng mất mát.

Trong khâu sử dụng, phải tuân thủ việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm có

hiệu quả. Việc tính tốn đầy đủ, chính xác, kịp thời giá trị nguyên vật liệu

xuất dùng trên cơ sở định mức tiêu hao, dự toán chi phí có ý nghĩa quan trọng

trong việc giảm chi phí, hạ giá thành từ đó tăng tích luỹ cho doanh nghiệp.

Đối với khâu dự trữ, đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được định

mức dự trữ tối đa và mức dự trữ tối thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất

kinh doanh được tiến hành bình thường, khơng bị ngừng trệ, gián đoạn do

công việc cung ứng nguyên vật liệu không kịp thời hoặc gây ứ đọng vốn do

dự trữ quá nhiều.

Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định mức tiêu hao và dự toán

chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất (giá thành

sản phẩm) làm cho lợi nhuận tăng và phần tích luỹ của doanh nghiệp cũng

tăng lên. Do vậy, trong khâu sử dụng nguyên vật liệu cần phải tổ chức tốt việc

ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng sử dụng cũng như khoản chi phí

ngun vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm, nhằm tìm ra nguyên nhân

dẫn đến việc tăng hoặc giảm chi phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản

phẩm.

Như vậy, quản lý nguyên vật liệu từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ

đến sử dụng là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý và

luôn đuợc các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm.

1.1.4.Nhịêm vụ của kế toán nguyên vật liệu.

Để đáp ứng được yêu cầu quản lý, kế toán nguyên vật liệu trong doanh

nghiệp cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:



SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



- Tổ chức đánh giá, phân loại nguyên vật liệu phù hợp với các nguyên tắc, yêu

cầu quản lý của nhà nước và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.

- Tổ chức phân loại chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương

pháp hạch toán hàng tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép, phân loại tổng

hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của nguyên vật

liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp

chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua

cũng như tình hình sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất nhằm

thúc đẩy nhanh q trình chuyển hố của nguyên vật liệu, hạn chế ứ đọng

nguyên vật liệu để rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh.

1.2- Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu.

1.2.1- Phân loại nguyên vật liệu.

Trong mỗi doanh nghiệp, do tính chất đặc thù trong hoạt động sản xuất

kinh doanh nên phải sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau. Mỗi loại

nguyên vật liệu lại có vai trò, cơng dụng, tính chất lý, hố học khác nhau. Do

đó, việc phân loại ngun vật liệu có cơ sở khoa học là điều kiện quan trọng

để có thể quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết nguyên vật

liệu phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp.

Phân loại nguyên vật liệu là việc nghiên cứu, sắp xếp các loại nguyên

vật liệu theo từng nội dung, cơng dụng, tính chất thương phẩm của chúng,

nhằm phục vụ cho yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.

*) Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị doanh nghiệp thì

nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:

+ Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động cấu thành nên thực thể

của sản phẩm. Các doanh nghiệp khác nhau thì nguyên vật liệu chính khơng

giống nhau như sắt, thép, xi măng, gạch… trong doanh nghiệp xây dựng cơ

bản; vải trong doanh nghiệp may mặc…Đối với các doanh nghiệp mà tiếp tục

sản xuất kinh doanh từ những bán thành phẩm mua ngồi thì những bán thành

SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHỐ



phẩm đó cũng được coi là ngun vật liệu chính như dây nhơm, cột điện…

trong đơn vị sản xuất kinh doanh điện.

+ Vật liệu phụ: Là các loại vật liệu khi sử dụng chỉ có tác dụng làm

tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho cơng việc

quản lý sản xuất, bao gói sản phẩm như thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn, dầu

nhờn, …

+ Nhiên liệu: Là những loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng

trong quá trình sản xuất kinh doanh gồm: xăng, dầu, than, củi, khí gas… được

sử dụng để phục vụ cho công nghệ sản xuất, cho phương tiện vận tải, máy

móc thiết bị hoạt động trong q trình sản xuất kinh doanh.

+ Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay

thế, sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải, phương tiện

truyền dẫn.

+ Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị cần lắp

và thiết bị khơng cần lắp, cơng cụ, khí cụ, vật kết cấu… dùng cho công tác

xây lắp, xây dựng cơ bản.

+ Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại kể

trên, các loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra, phế liệu thu hồi từ việc

thanh lý tài sản cố định…

Cách phân loại này là cơ sở để xác định định mức tiêu hao, định mức

dự trữ cho từng loại, từng thứ từng nhóm nguyên vật liệu. Và là cơ sở để hạch

toán chi tiết nguyên vật liệu trong doanh nghiệp (theo dõi số lượng, giá trị).

*) Căn cứ vào nguồn hình thành: Nguyên vật liệu được chia thành hai

nguồn:

+ Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài: Do mua ngoài, nhận vốn góp liên

doanh, nhận biếu tặng,…

+ Nguyên vật liệu tự chế: do doanh nghiệp tự gia cơng chế biến hay

còn gọi là nguyên vật liệu tự chế.



SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



Cách phân loại này làm căn cứ cho việc lập kế hoạch thu mua và kế

hoạch sản xuất nguyên vật liệu, là cơ sở để xác định trị giá vốn thực tế nguyên

vật liệu nhập kho.

*) Căn cứ vào mục đích, cơng dụng của ngun vật liệu có thể chia

nguyên vật liệu thành:

- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh gồm:

+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm.

+ Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xưởng, dùng cho bộ

phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp.

- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác: Nhượng bán; đem góp vốn

liên doanh; đem quyên tặng.

*) Các đối tượng quản lý có liên quan đến việc tổ chức kế toán nguyên

vật liệu cần thiết phải tiến hành mã hoá như:

- Mã hoá các loại nguyên vật liệu bao gồm: Các loại nguyên vật liệu

chính, các loại nguyên vật liệu phụ, các loại nguyên vật liệu khác.

- Mã hóa các kho chứa

- Mã hóa hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sử dụng

- Mã hoá các đơn vị cung cấp nguyên vật liệu cho doanh nghiệp.

*) Đối với các doanh nghiệp tổ chức kế toán nguyên vật liệu trên máy

tính.

Hiện nay trong các doanh nghiệp, nguyên vật liệu có rất nhiều chủng

loại phong phú và biến động thường xuyên. Do đó, để tổ chức kế toán nguyên

vật liệu được chặt chẽ, hợp lý yêu cầu đặt ra là phải quản lý tới từng loại, từng

nhóm, và từng thứ, từng danh điểm. Với yêu cầu này, đòi hỏi phải mã hố đối

tượng kế tốn ngun vật liệu đến từng danh điểm. Vì vậy danh mục nguyên

vật liệu được xây dựng chi tiết từng danh điểm và khi kết hợp với TK hàng

tồn kho (TK 152) sẽ tạo ra hệ thống sổ chi tiết từng nguyên vật liệu. Khi nhập

dữ liệu nhất thiết phải chỉ ra danh điểm nguyên vật liệu và để tăng cường tính



SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHỐ



tự động hố, có thể đặt sẵn mức thuế suất thuế GTGT của từng nguyên vật

liệu ở phần danh mục.

1.2.2- Đánh giá nguyên vật liệu.

Đánh giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị của nguyên vật liệu ở

những thời điểm nhất định và theo những nguyên tắc nhất định.

1.2.2.1-Khi đánh giá nguyên vật liệu phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

*) Nguyên tắc giá gốc : Là một bộ phận của hàng tồn kho nên khi đánh

giá nguyên vật liệu cần thiết phải tuần thủ nguyên tắc giá gốc theo chuẩn mực

02- hàng tồn kho.Giá gốc hay được gọi là trị giá vốn thực tế của nguyên vật

liệu; là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được nguyên vật

liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

*) Nguyên tắc thận trọng : Nguyên vật liệu được đánh giá theo giá gốc,

nhưng trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính

theo giá trị thuần có thể thực hiện được.

*) Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh

giá nguyên vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán ít nhất là trong một niên độ

kế tốn.

Ngồi các ngun tắc trên thì khi đánh giá ngun vật liệu vẫn còn phải

tuân thủ thêm nguyên tắc hoạt động liên tục. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi loại

tài sản trong đó có nguyên vật liệu phải được ghi nhận theo giá gốc.

1.2.2.2- Đánh giá nguyên vật liệu.

a. Xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho.

Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho được xác định theo

từng nguồn nhập:

*) Nhập kho do mua ngoài: trị giá vốn thực tế nhập kho bao gồm : giá

mua, các loại thuế khơng được hồn lại, chi phí vận chuyển bốc xếp, bảo quản

trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc



SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



mua nguyên vật liệu, trừ đi các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá

hàng mua do không đúng quy cách, phẩm chất.

Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì

giá mua ghi trên hố đơn là giá chưa có thuế GTGT.

Còn đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

hoặc khơng thuộc đối tượng nộp thuế GTGT thì giá ghi trên hoá đơn là giá

gồm cả thuế GTGT.

*) Nhập do tự sản xuất, chế biến: Trị giá vốn thực tế nhập kho là giá

thành sản xuất của nguyên vật liệu tự sản xuất, chế biến.

*) Nhập do thuê ngoài gia công chế biến: như thép phục vụ cho sản

xuất chế tạo xe máy, xe đạp. Trị giá thực tế nhập kho là trị giá vốn thực tế của

vật liệu xuất kho để th ngồi gia cơng chế biến cộng số tiền phải trả cho

người nhận gia công chế biến cộng các chi phí vận chuyển bốc dỡ khi giao

nhận.

*) Nhập nguyên vật liệu do nhận vốn góp liên doanh: Trị giá vốn thực

tế của nguyên vật liệu nhập kho là giá do hội đồng liên doanh thoả thuận cộng

với các chi phí khác phát sinh khi tiếp nhận nguyên vật liệu.

*) Nhập nguyên vật liệu do được cấp: Trị giá vốn thực tế nhập kho là

giá ghi trên biên bản giao nhận cộng các chi phí phát sinh khi nhận.

*) Nhập nguyên vật liệu do được biếu tặng, được tài trợ: trị giá vốn

thực tế nhập kho là giá trị hợp lý cơng các chi phí khác phát sinh.

*) Nhập nguyên vật liệu do thu hồi phế liệu từ sản xuất, thanh lý

TSCĐ, công cụ dụng cụ: được đánh giá theo giá ước tính (giá thực tế có thể

sử dụng được hoặc bán được).

*) Trong điều kiện áp dụng máy vi tính:

Trong điều kiện áp dụng máy vi tính, các nghiệp vụ nhập nguyên vật

liệu cần thiết phải nhập dữ liệu về giá mua, các chi phí mua được tính vào giá

vốn hàng nhập kho. Trường hợp nhập cùng một phiếu nhiều loại nguyên vật

liệu thì chương trình cũng cho phép nhập cùng nhưng phải cùng kho. Nếu

phát sinh chi phí thu mua, cần phân bổ chi phí cho từng loại nguyên vật liệu

nhập kho để làm căn cứ tính giá vốn xuất kho. Để tạo điều kiện thuận lợi cho

SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



việc nhập các nghiệp vụ nhập nguyên vật liệu cần thiết xây dựng danh mục

chi tiết các chứng từ nhập như: phiếu nhập vật liệu, phiếu nhập vật liệu mua

nhập khẩu,… u cầu đối với chương trình là khơng chỉ quản lý được nguyên

vật liệu nhập kho mà còn phải tổng hợp các nghiệp vụ nhập để trình bày trên

tờ khai thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Bên cạnh đó, để tăng cường tính

tự động hố khi nhập dữ liệu, chương trình phải tự động tính thuế GTGT khi

nhập giá mua, mức thuế suất thuế GTGT và điền vào bút toán.

b. Xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho.

Nguyên vật liệu được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời

điểm khác nhau nên có nhiều giá khác nhau. Do đó, khi xuất kho nguyên vật

liệu tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện

trang bị phương tiện kĩ thuật tính tốn ở từng doanh nghiệp có thể xác định trị

giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho theo một trong bốn phương pháp

được quy định trong chuẩn mực hàng tồn kho ( chuẩn mực số 02) sau:

*) Phương pháp tính theo giá đích danh

Nội dung: Theo phương pháp này khi xuất kho nguyên vật liệu thì căn

cứ vào số lượng xuất kho thuộc lơ nào và đơn giá thực tế của lơ đó để tính trị

giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho.

Điều kiện áp dụng: phương pháp này đựoc áp dụng cho những doanh

nghiệp có ít chủng loại ngun vật liệu, giá trị của từng loại nguyên vật liệu

tương đối lớn có thể nhận diện được từng lơ hàng.

Nhược điểm: phương pháp này trở nên phức tạp khó theo dõi nếu

doanh nghiệp có nhiều chủng loại nguyên vật liệu.

*) Phương pháp giá bình quân gia quyền.

Nội dung: Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho được tính

căn cứ vào số lượng nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá bình qn gia quyền,

theo cơng thức:

Trị giá vốn thực

tế nguyên vật

liệu xuất kho



SV: L:ê Thị Mỹ



=



số lượng nguyên

vật liệu xuất kho



x



đơn giá bình

quân gia quyền



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHỐ



Đơn giá

bình

qn



=



Trị giá thực tế ngun

vật

liệu tồn đầu kỳ

số lượng nguyên vật liệu

tồn đầu kỳ



+

+



trị giá vốn thực tế

nguyên vật liệu nhập

trong kỳ

số lượng nguyên vật liệu

nhập trong kỳ



- Đơn giá bình qn thường được tính cho từng thứ ngun vật liệu.

- Đơn giá bình qn có thể xác định cho cả kỳ ( được tính vào cuối kỳ

kế toán) được gọi là ĐGBQ cả kỳ hay ĐGBQ cố định. Theo cách tính này

khối lượng tính tốn giảm nhưng chỉ tính đựoc trị giá vốn thực tế của nguyên

vật liệu vào thời điểm cuối kỳ nên không thể cung cấp thơng tin kịp thời.

- Đơn giá bình qn có thể xác định sau mỗi lần nhập hoặc tính vào

thời điểm trước mỗi lần xuất được gọi là ĐGBQ liên hồn hay ĐGBQ di

động. Theo cách tính này, xác định được trị giá vốn thực tế hàng ngày cung

cấp thông tin được kịp thời. Tuy nhiên, khối lượng công việc tính tốn sẽ

nhiều hơn nên phương pháp này rất thích hợp với những doanh nghiệp có

chủng loại ngun vật liệu khơng nhiều, hoặc có chủng loại ngun vật liệu

nhiều nhưng đã làm kế toán trên máy.

*) Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)

Nội dung: Phương pháp này dựa trên giả định hàng nào nhập trước sẽ

được xuất trước và lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập. Do vậy, trị giá vốn

thực tế của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập

sau cùng.

Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng thích hợp với những

doanh nghiệp sử dụng nhiệu loại nguyên vật liệu theo dõi được số lượng, đơn

giá của từng lần nhập.

*) Phương pháp nhập sau xuất trước. (LIFO).

Nội dung: Theo phương pháp này giả định hàng nào nhập sau sẽ được

xuất trước, lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập của nhãng lần nhập sau cùng.

Do vậy, trị giá vốn thực tế của hàng tồn cuối kỳ được tính theo đơn giá của

những lần nhập đầu tiên.

SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng thích hợp với những

doanh nghiệp sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu, theo dõi được số lượng, đơn

giá của từng lần nhập.

Nhược điểm của phương pháp này là khối lượng tính tốn nhiều, phức

tạp dễ xảy ra sai sót nếu đơn vị nào tính tốn thủ cơng. Vì vậy, sẽ phù hợp hơn

với doanh nghiệp nào thực hiện kế toán trên máy.

* Các phương pháp khác: Trong thực tế ngồi các phương pháp tính trị giá

vốn thực tế của nguyên vật liệu theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho quy

định thì các doanh nghiệp còn áp dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp tính theo đơn giá tồn đầu kỳ: Phương pháp này tính trị giá

vốn thực tế nguyên vật liệu xuất kho trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu xuất

kho và đơn giá thực tế của nguyên vật liệu tồn đầu kỳ.

Trị giá vốn thực tế

nguyên vật liệu

xuất kho



=



số lượng nguyên vật

liệu xuất kho



x



đơn giá thực

tế tồn đầu kỳ



+ Tính theo giá hạch tốn: Giá hạch toán của nguyên vật liệu là giá do

doanh nghiệp tự quy định (có thể là giá kế hoạch, hoặc giá thống kê gần sát

với giá thực tế) và được sử dụng chi tiết và thống nhất trong một thời gian dài.

Hàng ngày sử dụng giá này để ghi sổ kế toán ghi trên chứng từ phiếu xuất

kho, nhập kho. Cuối kỳ kế toán điều chỉnh giá hạch toán về giá thực tế tuân

thủ theo nguyên tắc giá vốn trình bày trong tài khoản kế tốn, sổ kế tốn tổng

hợp, báo cáo tài chính theo hệ số giá.



Hệ số giá (H)



SV: L:ê Thị Mỹ



Trị giá thực tế NVL

trị giá vốn thực tế NVL

+

tồn đầu kỳ

nhập trong kỳ

Trị giá vốn

= trị giá hạch toán x

=

trị NVL

giá hạch

NVL

xuấttoán

kho NVL hệ số giá (H)

Trị giáthực

hạchtếtoán

+

nhập trong kỳ

NVL tồnxuất

đầukho

kỳ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp mà hệ số giá

nguyên vật liệu có thể tính riêng cho từng thứ, từng nhóm hoặc cho cả loại

nguyên vật liệu.

*)Trong điều kiện áp dụng máy vi tính hiện nay: Đối với các nghiệp vụ xuất

nguyên vật liệu thì chương trình phải tự động tính được giá vốn xuất kho.

Theo quy định, giá vốn của nguyên vật liệu xuất kho có thể tính được bằng

một trong các phương pháp trên. Khi xuất kho nguyên vật liệu cần thiết phải

lựa chọn các chứng từ phù hợp, các chứng từ này đã đặt sẵn giá trị là ghi TK

Có 152, kế toán ghi Nợ TK liên quan và nhập số chứng từ phiếu xuất, tên

nguyên vật liệu, số lượng, tên kho, chương trình sẽ thơng báo số lượng tồn

kho ở mỗi kho có đủ xuất hay khơng và tính ra giá vốn để điền vào bút toán.

Tuy nhiên, chương trình cũng có thể chưa tính ngay được mà phải tính lại giá

vốn. Khi xuất nguyên vật liệu cho sản xuất còn cần phải chỉ ra tên đối tượng

để tập hợp chi phí sản xuất theo khoản mục tạo điều kiện thuận lợi cho việc

tính giá thành.

1.2.4-Tổ chức hạch tốn chi tiết nguyên vật liệu

Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu là việc hạch toán kết hợp giữa thủ kho

và phòng kế tốn trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho nhằm đảm bảo

theo dõi chặt chẽ số hiện có và tình hình biến động từng loại, nhóm, thứ

nguyên vật liệu về số lượng và giá trị.

- Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Phải theo dõi được tình hình nhập, xuất kho của từng thứ, từng nhóm, từng

loại nguyên vật liệu về hiện vật đối với từng kho, về cả hiện vật và giá trị với

phòng kế tốn.

+ Phải đảm bảo khớp đúng về nội dung các chỉ tiêu tương ứng giữa số liệu

hạch toán chi tiết ở kho và ở phòng kế tốn, giữa số liệu của kế tốn tổng hợp

và kế toán chi tiết.



SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ



+ Phải đảm bảo cung cấp thơng tin kế tốn kịp thời theo u cầu quản lý. Do

đó, phải xây dựng được mối quan hệ về việc ln chuyển chứng từ giữa kho

và phòng kế tốn.

1.2.4.1- Chứng từ sử dụng.

- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh liên quan đến việc nhập, xuất vật tư đều phải lập chứng từ đầy

đủ, kịp thời, đúng chế độ quy định.

Theo chế độ chứng từ kế toán ban hành theo QĐ 1141/TC/QĐ/CĐKT

ngày 01/11/1995 và theo QĐ 885/1998/QĐ/BTC ngày 16/7/1998 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính, các chứng từ về vật tư hàng hoá bao gồm:

+ Phiếu nhập kho (mẫu 01-VT)

+ Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)

+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03-VT)

+ Biên bản kiểm kê vật tư (mẫu 08-VT)

+ Hoá đơn (GTGT)

+ Biên bản kiểm nghiệm vật tư (mẫu 05)

+ Thẻ kho (mẫu 06-VT)

+ Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (mẫu 02-BH)

+ Hoá đơn cước vận chuyển (mẫu 03-BH)

Các chứng từ bắt buộc phải được sử dụng thống nhất theo quy định của

nhà nước, còn doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ hướng dẫn

phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp mình.

Mọi chứng từ kế toán về nguyên vật liệu phải được tổ chức luân chuyển

theo trình tự và thời gian do kế toán trưởng quy định, phục vụ cho việc phản

ánh, ghi chép, tổng hợp kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan.

1.2.4.2- Các sổ kế tốn chi tiết nguyên vật liệu

- Sổ kế toán chi tiết phục vụ cho việc hạch toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế

liên quan đến đối tượng kế toán cần hạch toán chi tiết. Tuỳ thuộc vào phương



SV: L:ê Thị Mỹ



Lớp: K39 – 21.11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x