Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Các vấn đề chung về tín dụng ngân hàng

1 Các vấn đề chung về tín dụng ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

11

cơ sở tin tưởng và tín nhiệm. Khi đến hạn, người sở hữu phải hoàn trả một lượng

giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính:

tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hồn trả.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tín dụng ngày càng phát triển. Chủ thể

tham gia các quan hệ tín dụng rất phong phú. Quan hệ tín dụng được mở rộng về

đối tượng và quy mô, thể hiện trên các mặt sau:

- Các tổ chức ngân hàng và các tổ chức tín dụng phát triển mạnh và rộng rãi

khắp nơi.

- Phần lớn các DN đều sử dụng vốn tín dụng với khối lượng ngày càng lớn.

- Thu nhập cá nhân ngày càng tăng, nên ngày càng có nhiều người tham gia

vào các quan hệ tín dụng.

Ngồi việc mở rộng các quan hệ tín dụng, hình thức tín dụng ngày càng phát

triển đa dạng như tín dụng Thương mại, tín dụng Ngân hàng, tín dụng Nhà nước và

các loại khác.

1.1.1.2 Khái niệm và đặc trưng về tín dụng ngân hàng

Tín dụng được định nghĩa như sau: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín

dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác và một bên

là các doanh nghiệp, cá nhân; trong đó ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài

chính ln chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi tạm thời thiếu vốn. Giá của

khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng

phải trả trong suốt khoảng thời gian tồn tại của khoản vay” (Tín dụng và thẩm định

tín dụng ngân hàng, Nguyễn Minh Kiều, 2009)

Quan hệ tín dụng chỉ được diễn ra khi những cá nhân, tổ chức có nhu cầu đi

vay và cho vay vốn gặp nhau trên thị trường với các ràng buộc về không gian, thời

gian và các điều kiện khác đã được thỏa mãn. Tín dụng ngân hàng có các đặc trưng

sau:

- Quan hệ tín dụng ngân hàng phải được xuất phát từ sự tin tưởng từ hai phía:

chủ thể cho vay là ngân hàng và chủ thể đi vay là khách hàng. Quan hệ tín dụng

ngân hàng chỉ phát sinh khi ngân hàng tin tưởng vào những khía cạnh như khả năng

tài chính của người đi vay, mong muốn trả nợ, khả năng người đi vay sẽ hoàn trả

đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng như thời hạn đã cam kết và ngược lại; người đi vay tin



12

tưởng ngân hàng có khả năng đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu của mình về

quan hệ tín dụng cũng như dịch vụ ngân hàng như khối lượng tín dụng, thời hạn

vay, lãi suất cho vay…

- Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị gốc ban đầu, nghĩa là bao hàm cả gốc và lãi:

Phần lãi được coi là một dạng doanh thu cho ngân hàng nhằm bù đắp tồn bộ những

khoản chi phí, rủi ro có liên quan và mang lại cho ngân hàng một phần lợi nhuận.

- Cho vay có hồn trả: Ngân hàng chỉ giao vốn cho người đi vay sử dụng

trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận trước và được ghi rõ trong

hợp đồng tín dụng. Đến khi đáo hạn, nếu như khơng có thỏa thuận nào khác thì

người đi vay phải hồn trả tồn bộ số vốn đó cộng thêm phần thặng dư cho ngân

hàng như đã thỏa thuận trước.

- Nghĩa vụ của hai bên tham gia vào quy trình tín dụng: Phải thực hiện chính

xác những gì đã cam kết trong hợp đồng đã ký như một quy định bắt buộc của pháp

luật trừ khi cả hai đều đồng thuận thay đổi một phần hoặc toàn bộ những gì đã thỏa

thuận.

- Hoạt động tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng do sự đa dạng ở đối

tượng cho vay (cá nhân, tổ chức, DN hoạt động ở mọi lĩnh vực…) và các hình thức

cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính ….) cũng như nguyên nhân

phát sinh rủi ro (trực tiếp phát sinh từ hoạt động của ngân hàng hay gián tiếp từ bên

ngoài nền kinh tế như lạm phát, bất ổn chính trị, thay đổi chính sách vĩ mơ…). Vì

vậy, u cầu tất yếu khi thực hiện hoạt động tín dụng ngân hàng là đề ra những biện

pháp linh hoạt, kịp thời nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.

- Hoạt động tín dụng ngân hàng gắn liền với hệ thống lưu thông tiền tệ của

một quốc gia. Các NHTM thông qua việc huy động vốn và cho vay đã thực hiện

đưa vốn tiết kiệm từ dân cư vào q trình đầu tư có hiệu quả làm tăng vòng quay

vốn của nền kinh tế.

Từ các đặc trưng trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo được bốn

nguyên tắc cơ bản sau:

- Cho vay có hồn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định: Đây là nguyên

tắc đảm bảo bản chất của tín dụng. Một khi nguyên tắc này bị vi phạm, tính chất tín

dụng sẽ bị phá vỡ.



13

- Cho vay có giá trị tương đương làm đảm bảo: Giá trị đảm bảo là cơ sở của

khả năng thu hồi nợ, là cơ sở hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, là điều kiện

của nguyên tắc thứ nhất trong nhiều trường hợp khác nhau.

- Cho vay phải có mục đích và kế hoạch theo hợp đồng ký kết: Nguyên tắc

này đòi hỏi người vay vốn phải thực hiện đúng kế hoạch, mục đích trong hợp đồng

vay vốn và sử dụng có hiệu quả khoản tiền vay đó.

- Cho vay phải có nguồn trả nợ đảm bảo: Để đảm bảo chất lượng khoản vay,

Ngân hàng yêu cầu người vay vốn phải giải trình được nguồn trả nợ khoản vay.

1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng

1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cùng với quyết

định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam:

- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường

được sử dụng để bù đắp thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu

sinh hoạt cá nhân.

- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được xác

định phù hợp với thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng

và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Tín dụng trung hạn được cung cấp

để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất kinh

doanh.

- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm nhưng khơng q

thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối

với pháp nhân và không quá 15 năm. Hình thức tín dụng này cung cấp vốn cho xây

dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mơ lớn.

1.1.2.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng

- Tín dụng vốn lưu động: Là loại vốn tín dụng được sử dụng để hình thành

vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên

vật liệu cho sản xuất. Tín dụng vốn lưu động thường được sử dụng để cho vay bù

đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.



14

- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản

cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và

cơng trình mới trong thời gian vay trung và dài hạn.

1.1.2.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

- Tín dụng sản xuất và lưu thơng hàng hóa: Là loại cấp phát tín dụng cho các

DN và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất và lưu thơng hàng hóa.

- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ…

1.1.2.4 Căn cứ theo thành phần kinh tế:

- Cho vay doanh nghiệp Nhà nước

- Cho vay kinh tế tập thể

- Cho vay kinh tế tư nhân

- Cho vay kinh tế cá thể

- Cho vay kinh tế hỗn hợp

1.1.2.5 Căn cứ theo phương thức hoàn trả

- Cho vay hoàn trả một lần: Các khoản vay sẽ được hoàn trả một lần vào thời

gian xác định trong hợp đồng, lãi vay có thể được hồn trả theo thỏa thuận.

- Cho vay trả góp: Các khoản vay sẽ được hồn trả theo định kỳ, các khoản

này có thể bằng nhau hoặc không tùy thỏa thuận và được thực hiện theo nguyên tắc

trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng.

1.1.2.6 Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là hình thức cho vay dựa trên cơ sở tài

sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba hoặc cho vay bằng tài sản hình

thành vốn vay.

- Cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay dựa trên cơ

sở lựa chọn phương án vay vốn hiệu quả, khả thi và mức độ tín nhiệm trong quan hệ

tín dụng của khách hàng.



15

1.2 Tín dụng dành cho KHCN

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng dành cho KHCN

1.2.1.1 Khái niệm tín dụng dành cho KHCN

Tín dụng dành cho KHCN là một hình thức cấp tín dụng trong hoạt động kinh

doanh của NHTM trong đó ngân hàng giao cho đối tượng KHCN một khoản tiền để

sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn

trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn.

1.2.1.2 Đặc điểm tín dụng dành cho KHCN

- Tín dụng dành cho KHCN phục vụ hai mục đích chủ yếu: Nhu cầu vay của

KHCN chủ yếu nhằm phục vụ đời sống và bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán,

sản xuất kinh doanh hộ cá thể. Hoạt động cho vay KHCN chủ yếu để giúp tài trợ

cho việc mua ô tô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện

đại hóa nhà cửa hay trang trải cho các khoản viện phí, đầu tư sản xuất kinh doanh

hộ gia đình và các chi phí cá nhân khác.

- Thường là các khoản vay ngắn hạn: Thời hạn vay thường dưới một năm, có

thể lên tới ba năm tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng và tùy theo khấu hao tài

sản cố định.

- Tín dụng dành cho KHCN có độ rủi ro cao: Do chủ thể đứng tên vay của

loại hình này là các cá nhân, thời gian vay không dài nên việc thu thập thơng tin cá

nhân và tình hình tài chính của khách hàng vốn là những yếu tố quan trọng trong

quyết định cho vay của ngân hàng rất khó xác định đầy đủ và đảm bảo chính xác.

Mặt khác, việc đánh giá khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng thường khó khăn

hơn do ngân hàng có ít thơng tin mang tính định lượng để làm căn cứ quyết định

trong q trình thẩm định cho vay.

- Chi phí thẩm định lớn: Vì quy mơ và số tiền cho vay của từng khoản vay

của KHCN nhỏ trong khi số lượng các khoản vay thường rất lớn, quy trình cho vay

khơng thể rút ngắn nên chi phí quản lý hành chính, quản lý tín dụng tương đối cao.

Hơn nữa, để tránh gặp phải rủi ro trong hoạt động cho vay, ngân hàng thường tiêu

tốn thời gian và tiền bạc vào hoạt động thẩm định và giám sát nghiêm ngặt, dẫn đến

chi phí thẩm định lớn.



16

- Ngân hàng khó có thể kiểm soát chặt chẽ các khoản vay KHCN: Đối tượng

cho vay là các cá nhân nên số lượng khách hàng đơng nhưng địa bàn sinh sống phân

tán rộng khắp. Chính điều này cũng gây khó khăn trong q trình thu hồi nợ.

- Lãi suất áp dụng cho KHCN thường cao hơn lãi suất áp dụng cho các DN:

Do quy mô của các khoản vay thường khơng lớn nhưng chi phí bỏ ra để quản lý lớn

nên các NHTM phải đề ra mức lãi suất cao để bù đắp chi phí gồm chi phí về thời

gian, nhân lực, thẩm định, quản lý…

1.2.2 Các loại hình tín dụng dành cho KHCN

Tùy theo mục đích tài trợ, tín dụng dành cho KHCN được phân chia thành hai

loại hình chủ yếu:

1.2.2.1 Tín dụng tiêu dùng

Là loại hình tín dụng được cung cấp để tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng cá

nhân bao gồm các nhu cầu về nhà ở, xe cộ, mua sắm các vật dụng gia đình, du

học…

Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng:

- Số tiền cho vay tương đối nhỏ, số lượng các khoản vay lớn

- Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, khơng nhất thiết từ kết

quả của việc sử dụng những khoản vay đó.

- Khách hàng vay tiêu dùng thường kém nhạy cảm với lãi suất, khách hàng

quan tâm nhiều hơn tới số tiền phải thanh toán trong mỗi kỳ hơn là lãi suất phải trả

cho khoản vay.

- Mức thu nhập và trình độ học vấn có liên quan mật thiết tới nhu cầu vay tiêu

dùng của khách hàng.

1.2.2.2 Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh

Là loại hình tín dụng được cung cấp để tài trợ các nhu cầu bổ sung vốn lưu

động thiếu hụt trong q trình sản xuất kinh doanh, thanh tốn tiền vật tư, ngun

liệu, hàng hóa và các chi phí sản xuất kinh doanh cần thiết hoặc mở rộng quy mơ

sản xuất kinh doanh, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển…

Đặc điểm của tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh:

- Quy mô khoản vay thường không lớn

- Hồ sơ vay vốn không phức tạp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Các vấn đề chung về tín dụng ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×