Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD Ở CÔNG TY IN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG NHẬT QUANG NĂM 2004:

2 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD Ở CÔNG TY IN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG NHẬT QUANG NĂM 2004:

Tải bản đầy đủ - 0trang

jLuận văn tốt nghiệp

kế, chế bản, ra film rồi đưa vào sản xuất nên khơng có sản phẩm hàng tồn

kho. Nếu có thì chỉ là những sản phẩm chưa gia công sau in và các sản phẩm

chưa chuyển cho khách hàng. Thông thường khi ký kết hợp đồng, khách hàng

phải ứng trước một khoản tiền nhất định cho công ty. Cơng ty sẽ có ngay một

lượng vốn tiền tệ để mua sắm nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của

mình, giảm bớt sự căng thẳng về nhu cầu sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí so với

việc phải đi vay vốn.

- Lợi thế thương mại: Cơng ty hiện có những lợi thế thương mại sau:

+ Địa điểm hoạt động: tại thủ đô Hà Nội , rất thuận lợi cho công tác giao

dịch và nắm bắt kịp thời các thông tin và đây cũng là thị trường lớn với các

nhu cầu phong phú và đa dạng.

+ Nguồn khách hàng: Do hoạt động ở nhiều mảng lĩnh vực nên công ty

không chỉ đơn thuần khai thác các khách hàng trong lĩnh vực ngành in mà

cơng ty còn khai thác khách hàng trong quá trình cung cấp các dịch vụ khác

như thiết kế lắp đặt nội thất, hoạt động vận chuyển khách du lịch do đó mối

quan hệ của Cơng ty với các khách hàng ngày càng mở rộng.

* Khó khăn:

- Sức ép về cạnh tranh: Ngày 3/2/2000, Chính phủ bãi bỏ chính giấy

phép thành lập cơ sở in bao bì làm cho cuộc cạnh tranh trong nghành in ngày

càng gay gắt hơn. Hàng loạt các cơ sở in bao bì, in quảng cáo, in lưới đã ra

đời, số lượng doanh nghiệp một, nhiều thành viên tăng lên nhanh chóng. Nếu

cơng ty khơng chủ động tìm ra phương hướng đi phù hợp và nhu cầu của thị

trường thì việc chia sẻ thị phần với các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi.

- Về nguyên vật liệu: hiện tại thị trường nguyên vật liệu giấy chưa đa

dạng để đáp ứng các nhu cầu của thị trường ngành in nên công ty đã phải sử

dụng một lượng lớn là giấy và mực ngoại nhập nên chịu nhiều rủi ro từ biến

động giá cũng như ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái trên thị trường.



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

- Nguồn vốn đầu tư: Do công ty đầu tư mở rộng hoạt động ở nhiều lĩnh

vực nội thất, vận chuyển khách du lịch nên nguồn vốn kinh doanh chưa tập

chung chủ yếu vào đầu tư công nghệ cho lĩnh vực in. Nhiều mặt hàng cơng ty

song phải đi gia cơng ở ngồi do đó chi phí giá thành lên cao, lợi nhuận giảm.

2.2.2 Tình hình tổ chức vốn SXKD của Cơng ty In Thương Mại và Xây

Dựng Nhật Quang năm 2004:

Tương ứng với một quy mô kinh doanh là một lượng vốn nhất định.

Mỗi lượng vốn lại có những nguồn hình thành khác nhau tuỳ thuộc vào loại

hình doanh nghiệp. Tình hình tổ chức vốn kinh doanh của Công ty In Thương

Mại và Xây Dựng Nhật Quang trong năm 2004 được biểu hiện qua cơ cấu

vốn và nguồn hình thành, đồng thời so sánh với năm 2003 qua biểu 02: Tình

hình tổ chức VKD của Công ty năm 2004 (Trang bên):

Năm 2004 tổng số vốn kinh doanh của Công ty tăng lên đáng kể: Tổng

VKD tăng 441.241nđ so với năm 2003. Trong đó:

- Năm 2004, VLĐ là 2.964.433nđ chiếm 52,56% tổng VKD và tăng so

với năm 2003 là: 67.081nđ tương ứng tỷ lệ tăng 2,32% và tỷ trọng giảm là

3,17%. Như vậy, xét về số tuyệt đối thì VLĐ tăng hơn so với năm 2003, song

xét về số tương đối thì VLĐ giảm 3,17%. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của

VLĐ (2,32%) nhỏ hơn tốc độ tăng của VCĐ (16,26%).

- VCĐ là 2.675.593nđ chiếm 47,44% trong tổng VKD và tăng so với

năm 2003 là 374.160nđ tỷ lệ tăng 12,26%, tỷ trọng tăng 3,17%, do trong năm

cơng ty có đầu tư thêm máy móc thiết bị phục vụ cho ngành in và phục vụ cho

công tác quản lý.

- Như vậy quy mô của Công ty tăng là do cả VCĐ và VLĐ đều tăng, vì

năm 2004 Cơng ty có đầu tư thêm một số máy móc thiết bị và tăng thêm

TSLĐ để mở rộng thêm lĩnh vực kinh doanh. Hơn thế nữa năm 2004 Công ty

đã ký kết được một số hợp đồng lớn với khách hàng do đó đã tăng lượng dự



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

trữ hàng tồn kho mà chủ yếu là nguyên vật liệu cho lĩnh vực in và vật liệu,

hàng hoá cho lĩnh vực nội thất. Hàng tồn kho năm 2004 là: 964.532nđ chiếm

tỷ lệ 32,54% trong VLĐ, tăng thêm 182.103nđ tương ứng tỷ lệ tăng 23,27%

so với năm 2003. Mặt khác, do các khoản phải thu đã tăng lên cũng làm cho

vốn lưu động tăng lên đáng kể. Trong lĩnh vực in Công ty In Thương Mại và

Xây Dựng Nhật Quang sản xuất theo đơn đặt hàng nên nguyên vật liệu chỉ

được mua về cho từng đơn đặt hàng. Hơn nữa trong sản xuất công ty áp dụng

khoán theo định mức cho từng khâu, trường hợp sử dụng nguyên vật liệu lãng

phí, hỏng hoặc vượt định mức cơng nhân sẽ phải bồi thường. Do đó, nguyên

vật liệu dự trữ tăng là biểu hiện tốt mà không sợ bị tồn đọng vốn ở khâu này.

Thực tế trong thời gian qua, thông thường khi ký kết hợp đồng khách hàng sẽ

ứng trước một khoản tiền và sẽ thanh tốn tồn bộ sau một thời gian nhất định

sau khi nhận đủ số hàng. Do vậy số lượng vốn của Cơng ty trong thanh tốn

có thể bị chiếm dụng lớn nhưng hầu như đều được thu hồi đúng hạn và khơng

có khoản phải thu nào chuyển thành nợ khó đòi. Còn trong lĩnh vực sản xuất

và lắp đặt nội thất sau khi ký kết hợp đồng khách hàng đặt tiền trước nhưng

quá trình lắp đặt nội thất diễn ra trong thời gian dài và sau đó mới đi vào

nghiệm thu nên q trình thu hồi vốn sẽ lâu. Còn trong lĩnh vực vận chuyển

khách du lịch thì vòng quay lưu động vốn lại rất nhanh khách hàng thường

thanh toán ngay sau khi kết thúc hay hoàn thành hợp đồng và khơng có

ngun vật liệu tồn kho. Như vậy, cùng với quy mô sản xuất tăng và doanh

thu tiêu thụ là tăng thêm nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất, các cơng trình

lắp đặt dở dang tăng và được bù trừ cho nhau trong lưu thơng tài chính nên

được coi là hợp lý.

- VCĐ trong năm 2004 chủ yếu tăng ở thời điểm cuối năm do Công ty

đầu tư thêm một số thiết bị gia công trong lĩnh vực in và một số thiết bị thiết

yếu cho việc lắp đặt nội thất. Cùng với sự biến động về cơ cấu vốn như vậy,

nguồn hình thành vốn của Cơng ty năm 2004 cũng có sự biến động như sau:



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

Nợ phải trả của công ty năm 2004 tăng 72.587nđ tương ứng tăng

7,08%, tỷ trọng giảm 0,26%. Nợ phải trả của công ty tăng là do nợ ngắn hạn

của công ty tăng: cuối năm 2004 nợ ngắn hạn của công ty là 898.372nđ, tăng

72.587nđ tỷ trọng tăng 1,29% còn nợ dài hạn thì khơng có biến động. Tính

đến thời điểm cuối năm 2004 thì nợ ngắn hạn tăng là do khách hàng đã ứng

trước tiền hàng và do công ty nợ tiền khi mua nguyên vật liệu và nợ thuế.

Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2004 là: 4.541.654 nđ chiếm 80,53% trong

tổng nguồn vốn tăng hơn so với năm 2003 là 368.654nđ với khoản lãi chưa

chia tăng 368.654nđ được sử dụng để tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh

doanh.

- Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty phát triển cả về

lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực kinh doanh còn lĩnh vực du lịch tuy mới được

đầu tư đưa vào hoạt động song đã đạt được kết qủa khá khả quan, mặc dù

nguồn vốn để đầu tư vào mở rộng chưa nhiều song với phương hướng như

hiện nay kết hợp với một số thông tin khai thác thị trường sẽ đem lại cho công

ty những bước tiến mới và ngày càng phát triển và có vị thế trên thị trường.

Qua biểu 02 ta thấy được cơ cấu vốn và nguồn vốn của công ty . Để xem

xét khái quát sự huy động vốn và sử dụng vốn của công ty năm 2004 ta đi

xem xét biểu 03 và biểu 04: Diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của công ty

năm 2004 (Trang bên):

Qua số liệu tính tốn ở hai biểu ta thấy:

* Về tổ chức vốn: Trong năm 2004, Công ty chủ yếu tìm nguồn tài trợ thơng

qua việc trích khấu hao, giảm trả trước cho người bán, tăng khoản trích lập

các quỹ, giảm hàng tồn kho. Trong năm cơng ty đã trích lập các quỹ với số

tiền là: 368.654nđ, chiếm 36% trong tổng số nguồn vốn huy động được. Đây

là nguồn vốn lớn nhất mà công ty đã huy động được. Trong năm cơng ty đã

giảm hàng hố tồn kho với số tiền là 173.251nđ, chiếm 16,92% tổng số

nguồn vốn huy động được, qua thực tế cuối năm công ty đã bán được một số

đồ dùng nội thất có giá trị làm giảm lượng hàng tồn kho. Từ đó cho thấy,



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

trong năm cơng ty đã chú trọng cơng tác trích lập quỹ, tăng nguồn vốn khấu

hao và tăng nguồn vốn của mình thông qua việc chiếm dụng vốn của người

bán mặc dù vốn công ty chiếm dụng được nhỏ hơn rất nhiều so với vốn công

ty bị chiếm dụng. Trong năm 2004 công ty cũng đã xắp xếp lại VLĐ trong các

khâu bằng việc giảm bớt tiền mặt tại quỹ, giảm bớt khoản phải thu của khách

hàng, tăng chiếm dụng vốn của người bán, tăng khoản trả trước của người

mua, tăng thuế phải nộp chưa đến hạn, tăng phải trả phải nộp khác. Điều đó

cho thấy Cơng ty có xu hướng tăng hệ số nợ do đó rủi ro về tài chính của

cơng ty có xu hướng tăng. Song, việc tăng hệ số nợ vẫn được đánh giá là tốt

nếu hiệu quả sử dụng VKD của cơng ty là cao và vì hiện tại hệ số nợ của cơng

ty còn rất thấp. Và Công ty đã huy động được một lượng vốn tương đối lớn

thơng qua việc trích lập các quỹ.

Sự biến động của nguồn vốn của công ty như trên là hợp lý hay chưa ta

cần xem xét việc công ty đã sử dụng nguồn vốn đã huy động được như thế

nào, có hợp lý hay chưa.

* Về sử dụng vốn:

Qua biểu 04 : Trong tổng 1.023.854nđ mà công ty đã huy dộng được thì

có 482.660nđ, chiếm 47,14% dùng để mua sắm thêm TSCĐ, tăng thêm quy

mô SXKD của công ty. Đây là khoản lớn nhất được sử dụng trong tổng nguồn

vốn mà công ty đã huy động được. 1 phần vốn huy động được công ty đã

dùng để mua sắm thêm nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất: 141.252nđ, ứng

với 13,8%, 1 phần trả nợ ngân hàng: 100.000nđ chiếm 9,77% và một phần

tăng chi phí SXKD dở dang: 214.102nđ, chiếm 20,91%. Từ đó cho thấy cơng

ty đã dùng phần lớn vốn huy động được vào việc đầu tư mua sắm thêm TSCĐ

phục vụ cho SXKD, dự trữ sản xuất và trả nợ ngân hàng.

Để có kết luận chính xác hơn về tình hình tài chính của cơng ty ta cần xem

xét tình hình nợ phải trả của cơng ty qua Biểu 05: Tình hình nợ phải trả của

cơng ty năm 2004 ( trang bên):



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

Trong các khoản nợ của cơng ty thì khoản phải trả cho người bán chiếm

tỷ trọng lớn nhất. Năm 2004 phải trả cho người bán là: 383.107nđ tương ứng

bằng 34,88% tổng nợ phải trả của công ty và tăng so với năm 2003 là

48.548nđ tương ứng với tỷ lệ tăng 14,51%, tỷ trọng tăng 2,27%. Sở dĩ khoản

phải trả người bán tăng là do công ty phải trả 1 khoản nợ vay ngắn hạn là

100.000nđ và nợ ngắn hạn còn được dùng để tài trợ cho nhu cầu sử dụng

VLĐ đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và thầu thêm các đơn đặt hàng mới

trong khi đó các đơn đặt hàng cũ lại chưa thanh tốn được. Nhìn chung trong

năm 2004 nợ ngắn hạn của Công ty In Thương Mại và Xây Dựng Nhật Quang

có biến động song biến động không lớn và biến động nợ ngắn hạn tăng nhưng

biến động về phải thu các khoản vốn lưu động tăng cao hơn nên tình hình tài

chính của cơng ty tương đối ổn định và khả năng thanh toán các khoản nợ

ngắn hạn nhanh.

Thuế và các khoản phải nộp NSNN của công ty năm 2004 cũng tăng.

Cuối năm 2004 là 90,854nđ, tăng 47.812nđ ứng với tỷ lệ tăng 111,08%, tỷ

trọng tăng 4,07%. Do trong năm công ty đã ký thêm nhiều hợp đồng làm tăng

khoản phải nộp ngân sách và Công ty đã tận dụng nguồn vốn này để bổ sung

cho nhu cầu VLĐ tăng thêm. Đây là khoản mà cơng ty có thể chiếm dụng mà

khơng phải trả lãi do chưa đến hạn phải nộp. Song công ty cần phải hiếu rõ

tính chất tạm thời của nguồn vốn này để từ đó có kế hoạch sử dụng và trả nợ

phù hợp.

Đối với khoản người mua trả trước: Năm 2004 tăng so với năm 2003 là

57.722nđ với tỷ lệ tăng 68,2% và tỷ trọng 4,71%. Khoản này tăng cho thấy uy

tín của cơng ty ngày càng được nâng cao vì vậy sau khi ký hợp đồng khách

hàng đã đồng ý ứng trước một phần tiền hàng cho công ty làm tăng VLĐ tạm

thời cho công ty. Đây là khoản mà công ty chiếm dụng tạm thời và không

phải trả lãi nên công ty cần thực hiện đúng hợp đồng đã ký: sản phẩm sản

xuất phải đúng chất lượng, mẫu mã và thời gian giao hàng phải đúng hợp



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

đồng. Nếu không sẽ làm giảm uy tín của cơng ty và cơng ty có thể bị mất bạn

hàng.

Phải trả phải nộp khác cuối năm 2004 là 82.047nđ chiếm 7,47% tổng

nợ, tăng 18.505nđ so với năm 2003 ứng với tỷ lệ tăng là 29,12%, tỷ trọng

tăng 1,27%.

Đối với khoản phải trả cơng nhân viên: Tính đến thời điểm cuối năm 2003

và 2004 thì cơng ty khơng còn khoản nợ nào đối với người lao động trong

công ty. Điều này cho thấy công ty đã quan tâm rất nhiều đến đời sống cán bộ

công nhân viên trong công ty, song một mặt cho thấy công ty cũng chưa tận

dụng tối đa nguồn VLĐ tạm thời này mà khơng phải trả chi phí.

Từ những phân tích trên đã đánh giá khái quát về tình hình tổ chức

VKD của công ty In Thương Mại và Xây Dựng Nhật Quang ta sẽ xem xét

tình hình quản lý và sử dụng VKD của cơng ty trong năm 2004.

2.2.3.Tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng VKD của công ty In Thương

Mại và Xây Dựng Nhật Quang.

2.2.3.1 Tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng VCĐ của công ty năm 2004:

Do đặc thù sản xuất kinh doanh của công ty In Thương Mại và Xây

Dựng Nhật Quang nên VCĐ của công ty chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số

VKD. Năm 2004 VCĐ của công ty là: 2.675.593nđ chiếm 47,44% trong đó

chủ yếu đầu tư cho TSCĐ. Hơn nữa đây cũng là cơ sở tạo ra năng lực sản xuất

cho cơng ty. Vì vậy cần xem xét tình hình quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ.

Sự biến động của TSCĐ năm 2004 được phản ánh qua bảng số liệu Biểu 06:

Tình hình tăng giảm TSCĐ năm 2004 (trang bên)

Tính đến cuối năm 2004, tổng TSCĐ của công ty đều là TSCĐ hữu

hình đang sử dụng, chủ yếu là máy móc thiết bị dùng cho sản xuất, phương

tiện vận chuyển và thiết bị văn phòng. Trong đó:



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

Máy móc thiết bị dùng cho sản xuất 1.993.196nđ chiếm 65,86% trong

tổng TSCĐ. Do lĩnh vực chính của cơng ty là in nên máy móc thiết bị phục

vụ cho sản xuất chiếm tỷ trọng lớn là tương đối phù hợp. Công ty mới thành

lập và đi vào hoạt động được ba năm mà ngay từ đầu công ty đã mua sắm đầy

đủ máy móc trang thiết bị hiện đại vì vậy trong 3 năm nay thì tỷ lệ tăng giảm

về TSCĐ của công ty là không đáng kể.

Phương tiện vận tải dùng cho hoạt động kinh doanh vận chuyển và

quản lý 682.132nđ chiếm 22,54% trong tổng TSCĐ. Phương tiện vận tải của

công ty chủ yếu phục vụ cho hai lĩnh vực nội thất và du lịch mà hai lĩnh vực

này của cơng ty còn chưa phát triển nên phương tiện vận tải của công ty chưa

phát huy được hết cơng suất, vì vậy năm 2004 cơng ty không đầu tư thêm

phương tiện vận tải mà chỉ tăng cơng suất hoạt động để tránh tình trạng lãng

phí làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.

Thiết bị quản lý văn phòng và thiết bị phục vụ cho cơng tác thiết kế

quảng cáo là 350.810nđ chiếm 11,6% trong tổng TSCĐ. Loại tài sản này chủ

yếu phục vụ cho công tác tư vấn thiết kế và du lịch nên thường có giá trị

thấp.

Cơng ty hiện nay khơng có tài sản cố định chưa cần dùng và khơng cần

dùng. Nhìn chung về số tương đối tăng với tỷ lệ cao song xét về số tuyệt đối

thì số tăng là khơng đáng kể so với các cơng ty trong cùng lĩnh vực In vì quy

mơ của cơng ty còn q nhỏ so với các cơng ty khác trong cùng ngành. Vì

vậy hiện tại kết cấu TSCĐ như vậy là tương đối hợp lý do đặc điểm kinh

doanh cuả công ty là vừa kết hợp sản xuất, vừa kinh doanh thương mại và

dịch vụ. TSCĐ dùng cho sản xuất có giá trị lớn vì tính đặc thù của sản xuất,

yếu tố tham gia trực tiếp tạo ra sản phẩm, biểu hiện năng lực của công ty và

TSCĐ dùng cho kinh doanh thương mại và dịch vụ có giá trị thấp hơn do tính

đặc thù của kinh doanh. Song, để có thể phát triển và có chỗ đứng trên thị

trường thì cơng ty khơng thể cứ duy trì quy mơ như cũ mà cơng ty cần phấn



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

đấu huy động vốn để đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại, mở rộng

quy mơ SXKD. Từ đó tăng khối lượng sản phẩm sản xuất, cải tiến mẫu mã,

chất lượng, hạ giá thành và mở rộng thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận.

Qua biểu 06 ta thấy cuối năm TSCĐ của công ty tăng lên do công ty đã

tập trung đầu tư thêm một số máy móc gia cơng, máy móc thiết kế phục vụ

cho việc sản xuất in để hồn thiện và nâng cao chất lượng q trình in.

Nhưng để đánh giá được sự biến động của TSCĐ là hợp lý hay chưa cần

phân tích tình trạng kỹ thuật của TSCĐ của công ty qua biểu số 07: Tình

trạng kỹ thuật của TSCĐ năm 2004 (trang bên)

Cùng với việc phân tích sự biến động của TSCĐ như trên và qua số liệu

biểu 07 về tình trạng kỹ thuật của TSCĐ đã cho thấy cái nhìn tồn diện hơn

về tình hình sử dụng TSCĐ của cơng ty. Tại thời điểm năm 2004 giá trị còn

lại tính chung cho tồn bộ TSCĐ của công ty cũng như từng loại TSCĐ là

tương đối cao. Cũng như phân tích ở trên qua biểu số 06 thì TSCĐ dùng cho

sản xuất có giá trị cao hơn so với các loại tài sản khác chứng tỏ công ty sau

khi thành lập đã đầu tư một số máy móc thiết bị hiện đại dùng cho công nghệ

sản xuất in, sau một thời gian hoạt động sản xuất đi vào ổn định công ty đã

tập trung đầu tư mở rộng lĩnh vực ngành nghề kinh doanh. Sự biến động của

TSCĐ năm 2004 không lớn song những cũng phần nào khẳng định được sự

cố gắng của công ty, sự biến động tăng của TSCĐ không làm cho vốn lưu

động dùng cho kinh doanh của công ty giảm, không làm ảnh hưởng đến lượng

tiền lưu thông trong kinh doanh điều đó chứng minh được sự hợp lý của sự

biến động TSCĐ. Vậy vấn đề đặt ra bây giờ là yêu cầu cho những năm tới

phải khai thác tối đa năng lực của TSCĐ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử

dụng VCĐ của cơng ty. Vì thực tế hiện tại năm 2004 công ty mới chỉ phát huy

được 70% cơng suất máy móc thiết bị. Như vậy còn lại 30% công suất là chưa

được khai thác sử dụng triệt để. Từ đó cho thấy cơng ty chưa thật sự cố gắng

cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng uy tín đối với khách hàng. Vì vậy



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

công ty cần nỗ lực hơn nữa trong chiến lược quảng cáo, chiến lược ưu đãi đối

với khách hàng nhằm mở rộng thị trường.

Với tình hình đầu tư về TSCĐ của cơng ty như vậy, hiệu quả sử dụng VCĐ

trong năm 2004 được đánh giá qua 1 số chỉ tiêu trên cơ sở so sánh năm 2004

với 2003 qua biểu 08: Hiệu quả sử dụng VCĐ 2 năm 2003-2004( Trang bên):



Qua biểu 08 ta thấy:

Hiệu quả sử dụng VCĐ trước hết được biểu hiện qua doanh thu tiêu thụ

năm 2004 đạt 11.352.466nđ, tăng 1.919.809nđ tương ứng với tỷ lệ tăng

20,35% là sức tăng trưởng khá cao của công ty, lợi nhuận năm sau đạt cao

hơn năm trước 64.688nđ tương đương với 21,28%. Trong năm 2004 số lượng

và giá trị các hợp đồng in các sản phẩm cùng loại tăng cao hơn năm trước

trong đó tập chung chủ yếu là các sản phẩm về nhãn mác, bao bì, tờ quảng

cáo còn các sản phẩm về ấn phẩm, sách báo giảm. Bên cạnh đó các hợp đồng

thầu về lắp đặt nội thất tăng và có giá trị lớn, các hợp đồng về phục vụ khách

du lịch và vận chuyển khách du lịch cũng tăng do công ty đã có chú trọng đến

cơng tác quảng cáo, tiếp thị về dịch vụ du lịch của mình ra thị trường. Như

vậy doanh thu tăng và lợi nhuận tăng lên là do tăng số lượng sản phẩm tiêu

thụ. Mặc dù du lịch là lĩnh vực mới hoạt động của công ty song cũng hứa hẹn

nhiều kết quả khả quan vì thực tế nhu cầu du lịch ngày càng tăng, nhưng để

có thể phát triển lĩnh vực này này thì cơng ty cần đầu tư nghiên cứu nhu cầu

thị trường và từ đó nghiên cứu, tìm ra những vùng, miền, những dịch vụ đáp

ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng để từ đó tăng doanh thu và lợi

nhuận.

Hiệu suất sử dụng VCĐ năm 2004 là 4,56 tăng so với năm 2003 là 0,3

có nghiã là 1 đồng VCĐ sử dụng năm 2004 đã mang lại 4,56 đồng doanh thu

thuần nhưng với 1 đồng vốn VCĐ trong năm 2003 chỉ mang lại 4,26 đồng

doanh thu thuần. Từ đó, hàm lượng VCĐ trong một đồng doanh thu năm 2004



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

là 0,22 giảm 0,01 so với năm 2003. Hiệu suất sử dụng VCĐ tăng làm cho hàm

lượng VCĐ giảm 0,01 tức là 1 đồng doanh thu thuần được tạo ra năm 2004

thì cần số VCĐ BQ ít hơn năm 2003 là 0,01 đồng. Có sự tăng lên của hiệu

suất sử dụng VCĐ và sự giảm đi của hàm lượng VCĐ là do trong năm 2004

tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của VCĐ BQ. Hiệu quả sử

dụng VCĐ tăng do ảnh hưởng của 2 nhân tố doanh thu và VCĐBQ trong đó:

Ảnh hưởng của doanh thu tăng =



DT2004 DT2003 11.352

.466 9.432

.657

=

VC§ 2003

2.212

.307



=0,87.



Ảnh hưởng của VCĐ tăng



1



1





)

= DT 2004X ( VC§

VC§ 2003

2004



= 11.352.466 x (



1

1



)

2.488

.513 2.212

.307



= - 0,57

Như vậy hiệu suất sử dụng VCĐ tăng 0,3 đồng do doanh thu tăng đã

làm tăng 0,87đ, VCĐ tăng làm giảm 0,57đ. Sở dĩ doanh thu tăng trong kỳ là

công ty đã ký thêm được một số hợp đồng in bao bì, một số hợp đồng thầu lắp

đặt nội thất. Hơn thế nữa sau 6 tháng hoạt động thì lĩnh vực hoạt động du lịch

đã có sự thu hút của khách hàng do đó cũng đem lại doanh thu tương đối.

- Hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty năm 2004 là 4,08 tăng 0,15 so

với năm 2003. Tức là cứ 1 đồng NGTSCĐ BQ năm 2004 thì tạo ra 4,08 đồng

doanh thu thuần còn năm 2003 thì chỉ tạo ra 3,93 đồng doanh thu thuần. Có

sự tăng lên này là do trong năm 2004 tốc độ tăng của doanh thu thuần

(20,35%) lớn hơn tốc độ tăng của NGTSCĐ BQ( 15,93%). Nguyên giá tăng,

doanh thu thuần cũng tăng. Thực tế xem xét tình hình tăng giảm TSCĐ năm

2004 ta thấy công ty đã đầu tư thêm máy móc thiết bị, làm tăng năng lực sản



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD Ở CÔNG TY IN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG NHẬT QUANG NĂM 2004:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×