Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:

1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:

Tải bản đầy đủ - 0trang

jLuận văn tốt nghiệp

*

Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của donah

nghiệp. Ban đầu vốn được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định, trong quá

trình vận động vốn tồn tại dưới nhiều hình thức vật chất khác nhau.

Song, điểm xuất phát và điểm kết thúc của q trình tuần hồn vốn đều

được biểu hiện giá trị bằng tiền.

TLLĐ

T–H



.....SX ..... H’ - T’ ( T’ > T )

ĐTLĐ



Vòng tuần hồn của vốn bắt đầu từ hình thái vốn tiền tệ ( T ), doanh

nghiệp dùng vốn này để đầu tư mua sắm vật tư hàng hoá (H) dưới dạng tư liệu

lao động ( TLLĐ ) và đối tượng lao động ( ĐTLĐ) để phục vụ cho quá trình

sản xuất. Qua quá trình sản xuất vốn được chuyển thành hàng hoá (H’).Và

cuối cùng sau khi tiêu thụ hàng hố, lao vụ dịch vụ thì vốn từ hình thái hiện

vật chuyển sang hình thái tiền tệ ( T’), trong đó T’ > T . Khi đó kết thúc quá

trình chu chuyển của vốn.

* Vốn phải được tập trung tích tụ thành một lượng nhất định mới có thể

phát huy được tác dụng, mới có thể giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản

xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải biết tận dụng và khai

thác mọi nguồn vốn có thể huy động để đầu tư vào hoạt động kinh doanh của

mình.

* Vốn có giá trị về mặt thời gian. Nhất là trong nền kinh tế thị trường như

hiện nay thì điều này thể hiện rất rõ, vốn của doanh nghiệp luôn chịu ảnh

hưởng của các nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả, tiến bộ khoa

học kỹ thuật,... nên giá trị của vốn tại các thời điểm khác nhau là khác nhau.

* Vốn phải gắn với chủ sở hữu: Mỗi loại vốn bao giờ cũng gắn với một chủ

sở hữu nhất định. Người sử dụng vốn chưa chắc đã là người sở hữu vốn, do

có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Điều này đòi

hỏi mỗi người sử dụng vốn phải có trách nhiệm với đồng vốn mình nắm giữ

và sử dụng.

* Vốn khơng chỉ biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản hữu hình có hình

thái vật chất cụ thể mà còn được biểu hiện bằng các loại tài sản vơ hình khơng



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

có hình thái vật chất như lợi thế thương mại, bằng phát minh sáng chế, các bí

quyết cơng nghệ, nhãn hiệu được bảo hộ,...

Để hiểu rõ hơn về bản chất và đặc điểm của VKD cũng như giúp cho

việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả cần phải phân loại vốn kinh doanh.

1.1.2



Phân loại VKD:

Thứ nhất: Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn, VKD được chia

thành hai loại: Vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động ( VLĐ).

* VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản

cố định của doanh nghiệp.

VCĐ là số vốn đầu tư ứng trước, do vậy số vốn nầy cần phải được thu

hồi một cách đầy đủ nhằm đảm bảo q trình tái sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp.

Quy mơ VCĐ của doanh nghiệp là lớn hay nhỏ sẽ quyết định trực tiếp

đến quy mô tài sản cố định (TSCĐ) của doanh nghiệp cũng như trình độ trang

thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất của doanh nghiệp.

Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình tham gia hoạt

động kinh doanh sẽ quyết định trực tiếp đặc điểm chu chuyển của VCĐ.

- Đặc điểm chu chuyển của VCĐ:

VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD. Có đặc điểm này là do TSCĐ

được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất nhất định.

VCĐ được luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ

SXKD và ở mỗi chu kỳ SXKD chỉ có một bộ phận VCĐ được chu chuyển và

cấu thành chi phí SXKD tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. Bộ

phận này ngày một tăng lên về thời gian sử dụng TSCĐ, đồng thời giá trị còn

lại của TSCĐ ngày một giảm đi.

VCĐ chỉ hồn thành một vòng tuần hồn khi TSCĐ đã hết thời gian sử

dụng.

Từ các đặc điểm luân chuyển trên của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐ

phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ, đồng



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

thời cần có những biện pháp để tổ chức và sử dụng VCĐ sao cho vừa bảo

toàn vừa phát triển được VCĐ.

* VLĐ là một bộ phận của VKD trong doanh nghiệp, là biểu hiện bằng tiền

của toàn bộ giá trị tài sản lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản

xuất của doanh nghiệp được thực hiện. VLĐ tham gia sản xuất kinh doanh

dưới nhiều hình thức khác nhau.

- Đặc điểm chu chuyển của VLĐ:

Ln ln thay đổi hình thái biểu hiện.

Chu chuyển toàn bộ giá trị trong một lần.

Hồn thành một vòng tuần hồn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm.

Thứ hai: Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, VKD được chia thành hai

loại là vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ phải trả (NPT).

* Vốn chủ sở hữu là loại vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bao gồm

vốn chủ sở hữu để hình thành mọi loại tài sản trong doanh nghiệp, vốn điều

lệ, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước không chỉ được Nhà nước đầu tư

vốn ban đầu khi thành lập doanh nghiệp mà còn có thể được cấp bổ sung

trong q trình kinh doanh.

* Nợ phải trả (NPT): Là loại vốn thuộc quyền sở hữu của người khác, doanh

nghiệp được quyền quản lý và sử dụng trong một thời gian nhất định. NPT

bao gồm nợ vay và các khoản phải trả.

- Nợ vay được hình thành từ các khoản vay ngân hàng và các tổ chức tín

dụng khác, sử dụng khoản nợ này doanh nghiệp phải hoàn trả cả gốc và lãi

đúng hạn.

- Các khoản phải trả bao gồm phải trả cho người bán, phải trả cho cán bộ

công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước.

Cách phân loại này cho ta thấy kết cấu vốn SXKD được hình thành

bằng vốn bản thân doanh nghiệp và từ các nguồn vốn huy động từ bên ngồi.

Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm biện pháp tổ chức, quản lý, sử dụng vốn

hợp lý, có hiệu quả, biết được khả năng của doanh nghiệp trong việc huy



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

động vốn là cao hay thấp. Hơn nữa doanh nghiệp có thể tính tốn tìm ra kết

cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất.

Thứ ba: Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, VKD bao gồm vốn bên

trong doanh nghiệp và vốn bên ngoài doanh nhiệp.

* Vốn bên trong doanh nghiệp là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt

động bên trong của doanh nghiệp. Vốn này có thể có được từ các nguồn như

tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại của doanh nghiệp, các quỹ dự phòng,

các khoản thu do nhượng bán, thanh lý TSCĐ,...Đây là loại vốn quan trọng

đảm bảo khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

* Vốn bên ngồi là nguồn vốn do doanh nghiệp huy động ngoài phạm vi

doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu hoạt động SXKD của mình như vốn

vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, vốn liên doanh

liên kết và các khoản nợ khác,...

Thứ tư: Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn, VKD được

chia thành vốn thường xuyên và vốn tạm thời.

* Vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn. Đây là

nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Thơng

thường nguồn vốn này được đầu tư cho TSCĐ và một bộ phận nhỏ cho TSLĐ

thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

* Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể

sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát

sinh trong hoạt động SXKD. Nguồn vốn này gồm các khoản vay ngắn hạn

ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.

Trên đây là một số cách phân loại VKD chủ yếu của doanh nghiệp.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để tạo lập và sử dụng VKD một

cách có hiệu quả nhất ta cần hiểu nguồn hình thành VKD của doanh

nghiệp.

1.1.3. Nguồn hình thành VKD:

VKD của doanh nghiệp thường được hình thành từ các nguồn khác

nhau tuỳ thuộc vào loại hình, điều kiện và mục đích kinh doanh của từng



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



jLuận văn tốt nghiệp

doanh nghiệp. Thông thường VKD của doanh nghiệp được huy động từ các

nguồn sau:

* Nguồn vốn điều lệ: Nguồn vốn này đượcc hình thành từ khi thành lập

doanh nghiệp do chủ sở hữu bỏ ra và không nhỏ hơn vốn pháp định. Nguồn

vốn này có thể thay đổi trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp và nó

biểu hiện rõ nét nhất tính tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động SXKD.

* Vốn tự bổ sung của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động SXKD,

doanh nghiệp ln phải tích luỹ một lượng vốn để tái sản xuất giản đơn hay

mở rộng. Do vậy mà nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong q trình

hoạt động SXKD đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nguồn vốn này phụ

thuộc vào kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp thông qua việc phân bổ

vào các quỹ của doanh nghiệp. Nguồn vốn tự bổ sung trong quá trình sản

xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào hai nguồn là lợi nhuận và quỹ khấu hao của

doanh nghiệp. Nguồn vốn tự bổ sung là cơ sở đánh giá khả năng tự chủ về

mặt tài chính của doanh nghiệp trong hoạt động SXKD.

* Nguồn vốn chiếm dụng: Trong quá trình SXKD tất yếu nảy sinh các quan

hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với Nhà nước, giữa các doanh nghiệp với

nhau và giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp. Các

quan hệ thanh tốn đó thường xuyên phát sinh do đó cũng làm phát sinh vốn

đi chiếm dụng. Nếu vốn đi chiếm dụng lớn hơn vốn bị chiếm dụng thì doanh

nghiệp có được một lượng vốn nhất định đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh

doanh. mặc dù không thể cứ trông chờ vào nguồn vốn này nhưng khơng thể

khơng tính đến nó trong thực tế.Song cần phải xen xét đến tính hợp lý của

nguồn vốn này: Nếu các khoản phải thanh tốn đang còn trong thời hạn hợp

đồng thì việc tiếp tục sử dụng nguồn vốn này được xem là hợp lý, còn nếu đã

quá hạn phải thanh tốn thì đó là khơng hợp lý.

* Nguồn vốn tín dụng: Nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn mà thông thường

các doanh nghiệp sử dụng thường xuyên và nhiều nhất. Đây là nguồn vốn



SV: Nguyễn Thị Mai



Lớp K39.1107



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×