Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
SỐ DƯ BÌNH QUÂN

SỐ DƯ BÌNH QUÂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mai văn Việt

1. Tiền



Lớp K39_11.08

0,71 1. Phải trả người bán



3,37



2. Các khoản phải thu



13,93 2. Người mua trả trước



5,93



3. Hàng tồn kho



16,02 3. Thuế và các khoản nộp NN



0,24



4. TSLĐ khác



0,01 4. Phải trả CNV



0,06



5. Phải trả phải nộp khác



Cộng



30,67



Cộng



1,50



11,10



Như vậy, cứ 01(đồng) doanh thu thuần tiêu thụ sản phẩm tăng lên, Công ty

cần 0,3067(đồng) Vốn lưu động để bổ sung cho phần tài sản. Bên cạnh đó, cứ

01(đồng) Doanh thu thuần tiêu thụ sản phẩm tăng lên thì Cơng ty chiếm dụng

đương nhiên được 0,1110(đồng).

Vậy thực chất 01 đồng Doanh thu tăng lên, Công ty chỉ cần bổ sung :

0,3067 – 0,1110 = 0,1957 (đồng Vốn lưu động)

Nên nhu cầu Vốn lưu động cần bổ sung năm cho năm 2005 là :

(500.000.000.000 – 367.108.948.778) x 0,1957 = 26.006.778.724(đồng)

Như vậy dự kiến nhu cầu vốn lưu động bình quân trong năm 2005 là:

112.595.681.159 + 26.006.778.724 = 138.602.459.883(đồng)

Chúng ta nhận thấy rằng phương pháp này dễ áp dụng, đơn giản, phản ánh

được mối quan hệ giữa tài sản, nguồn vốn và doanh thu của cơng ty. Tuy nhiên mức

độ chính xác của nhu cầu vốn phụ thuộc vào việc dự đoán doanh thu. Vì vậy, nó đòi

hỏi người dự đốn phải có sự am hiểu về sản xuất kinh doanh, hiểu được tính quy

luật giữa mối quan hệ giữa doanh thu, tài sản, nguồn vốn và cả vấn đề lợi nhuận.

Trong thực tế, có rất nhiều sự thay đổi về điều kiện mua sắm, dự trữ vật tư

hàng hố, hay chính sách tiêu thụ hàng hoá. Nhất là đối với Doanh nghiệp thương

mại (không hoạt động theo một chu kỳ tương đối ổn định như Doanh nghiệp sản

xuất đơn thuần) như Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng Hà Nội. Vì vậy để xác định

sát hơn nữa nhu cầu vốn lưu động của Công ty trong năm kế hoạch, khi có sự thay

đổi này ở kỳ kế hoạch thì Cơng ty nên xác định một tỷ lệ điều chỉnh nhu cầu vốn

lưu động. Tỷ lệ điều chỉnh đó được xác định như sau:



Luận văn tốt nghiệp



- 61 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08

n



Tt =





i 1



NiHi

Mo



Trong đó: Tt : Là tỷ lệ tăng (+) giảm (-) nhu cầu VLĐ do thay đổi của các nhân tố

(dự trữ, sản xuất, tiêu thụ, thanh toán).

Ni : Số này tăng hay giảm (±) về doanh thu hoặc phải thu hay phải trả do

sự thay đổi của các nhân tố.

Hi : Số bình quân một ngày về chi phí vật tư hàng hóa hoặc phải thu hay

phải trả của kỳ đã xác định tỷ lệ nhu cầu vốn.

Mo : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch và

năm báo cáo.

i : Số nhân tố thay đổi ảnh hưởng tới tỷ lệ nhu cầu vốn ( i =1,n ).

Tỷ lệ này (có thể là một số âm hoặc số dương) sau khi tính sẽ được cộng vào

với tỷ lệ ước tính nhu cầu vốn lưu động ở trên (19,57% hay 0,1957) để tính nhu cầu

vốn lưu động tăng thêm .

Trên cơ sở tính tốn được nhu cầu vốn lưu động cần bổ sung thêm của năm

2005 so với năm 2004, cơng ty cần tiến hành tìm kiếm các nguồn tài trợ tốt nhất với

chi phí sử dụng vốn thấp nhất.

3.2.2 Chủ động huy động các nguồn tài trợ đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn lưu

động:

Sau khi đã xác định được nhu cầu vốn lưu động trong năm kế hoạch, công

việc tiếp theo nhằm chủ động trong công tác huy động nguồn tài trợ vốn lưu động là

phải xác định được nguồn huy động và tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động đó.

Có nhiều nguồn để tài trợ cho nhu cầu này, nguồn đầu tiên ta có thể thấy

được đó là Lợi nhuận để tái đầu tư. Theo kế hoạch tỷ lệ cổ tức vẫn giữ ở mức 15%

1cổ phần/năm, Lợi nhuận còn lại sau khi chia lãi cổ phần (giá trị số cổ phần hiện

tại của Cơng ty _ hay chính là nguồn vốn kinh doanh là 9.600.000.000đ) là:

4.000.000.000 – (9.600.000.000 x 15%) = 2.560.000.000 (đồng)



Luận văn tốt nghiệp



- 62 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Như vậy ứng với nhu cầu vốn lưu động tăng thêm là 26.006.778.724đ, ta đã có thể

bổ xung từ Lợi nhuận để lại là 2.560.000.000đ. Khi đó nhu cầu vốn lưu động còn

thiếu là:

26.006.778.724 – 2.560.000.000 = 23.446.778.724 (đồng)

Số vốn lưu động còn thiếu này Cơng ty có thể vay ngắn hạn ngân hàng. Mặt

khác, trong năm 2005 Công ty cần kết hợp tổ chức tốt công tác bán hàng thanh tốn

tiền hàng và thu hồi cơng nợ để hạn chế các khoản phải thu, đồng thời tăng cường

uy tín của Cơng ty trong q trình thanh tốn tiền hàng đối với nhà cung cấp và

khuyến khích khách hàng thanh tốn trước một phần giá trị hàng hố cho Cơng ty

nhằm tiến tới tăng khoản vốn chiếm dụng từ khách hàng. Đây là những khoản vốn

hợp lý và hợp pháp để bổ sung nhu cầu vốn lưu động tăng thêm do mở rộng kinh

doanh mà Công ty cần khai thác triệt để.

Bên cạnh đó Cơng ty nên xây dựng thêm một kế hoạch huy động vốn lưu

động dự phòng, để chủ dộng và nắm bắt được những hợp đồng, những đơn đặt hàng

đột suất, đây là những cơ hội mang lại tỷ suất lợi nhuận cao cho Công ty.

Về lâu dài, khi thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển, phát hành chứng

khoán (nhất là cổ phiếu) là một hướng đi và là giải pháp khơn ngoan để Cơng ty có

thể huy động vốn và nâng cao sự tự chủ về nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn kinh

doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng.

3.2.3 Tăng cường cơng tác quản lý vốn tồn kho dự trữ:

Trong kỳ, quản lý hàng tồn kho là khâu quản lý kém hiệu quả nhất trong

công tác quản lý vốn lưu động của Công ty, để hàng tồn kho tồn đọng với khối

lượng lớn, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn lưu động, làm lãng phí vốn lưu động

rất lớn.

- Trước tiên, nhằm khắc phục những tồn tại trước mắt, Công ty cần phải giải

phóng khối lượng hàng hóa còn rất lớn đang tồn đọng trong kho, bởi như đã nêu ở

trên Công ty hầu như khơng có kho lưu trữ, phải th ở bên ngồi. Và với một khối

lượng hàng hố lớn như vậy, thì chi phí th kho sẽ tăng lên rất nhiều, mặt khác làm

giảm phẩm chất hàng hoá nhất là hàng nơng sản. Vì thế trong năm 2005, Cơng ty

cần thực hiện:



Luận văn tốt nghiệp



- 63 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Đối với hàng hoá đang trong giai đoạn thực hiện hợp đồng thương mại thì

cần thúc đẩy nhanh thời gian hồn thành hợp đồng, hoặc phải có thoả thuận san sẻ

chi phí lưu kho với đối tác trong hợp đồng.

Đối với hàng hoá giảm giá (cao su nguyên liệu, sắn lát) là mặt hàng xuất

khẩu, Cơng ty cần thăm dò thị trường, tìm hiểu quy luật biến động giá cả đối với

loại hàng hoá này. Để đi tới quyết định bán hay không và ở mức giá nào, Công ty

cần phải so sánh mức lỗ, lãi tăng thêm hay giảm đi do bán tại thời điểm hiện tại và

mức lỗ lãi tăng thêm hay giảm đi do bán ở thời điểm nào đó trong thời gian tới có

tính tới chi phí thuê kho tăng thêm, chi phí tiền lãi ngân hàng tăng thêm, khoản

giảm giá hàng hóa do giảm chất lượng và các chi phí quản lý tới lượng hàng hố đó.

- Về lâu dài, để tăng cường cơng tác quản lý hàng tồn kho trong năm 2005

và những năm tới, Công ty cần phải giải quyết và thực hiện những vấn đề sau:

Đối với công tác mua hàng, trước tiên căn cứ vào nhu cầu bán ra của

Công ty và các hợp đồng thường xuyên, Công ty cần xác định đúng lượng vật tư

hàng hoá cần mua trong kỳ, đồng thời thường xuyên theo dõi sự biến động của thị

trường vật tư hàng hố, từ đó dự đốn và có quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua

sắm đầu tư hàng hố sao cho có lợi nhất với Cơng ty, tránh lặp lại tình trạng ứ đọng

nơng sản mất giá như năm vừa qua.

+ Lựa chọn hình thức mua hàng phù hợp. Trong doanh nghiệp thương mại

thơng thường có hai hình thức mua hàng: mua hàng theo nhu cầu và mua hàng theo

lô lớn. Công ty nên kết hợp cả hai hình thức mua hàng này. Vấn đề là phải lựa chọn

hình thức nào cho loại mặt hàng nào để có sự phù hợp với đặc điểm của từng loại

hàng hố, với đặc điểm tài chính và tình hình cụ thể của Cơng ty, sao cho có lợi

nhất đối với mình:

-



Đối với mặt hàng như ơ tơ tải và các thiết bị máy móc có giá trị lớn Cơng ty

nên mua theo nhu cầu (theo Đơn đặt hàng).



-



Còn đối với những mặt hàng như sắt thép các loại, vòng bi, săm lốp, nông

sản.. Công ty nên mua theo lô

+ Lựa chọn nhà cung cấp. Công ty nên mua hàng của nhiều nhà cung cấp để



hạn chế rủi ro, tuy nhiên cũng phải giữ mối làm ăn với những bạn hàng lâu năm và

uy tín, đồng thời giữ thế chủ động đối với các nhà cung cấp.



Luận văn tốt nghiệp



- 64 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Đối với công tác dự trữ. Các kho dự trữ đều là do Công ty thuê nên

Cơng ty phải càng tối thiểu hố được lượng vật tư hàng hoá dự trữ càng tốt. Mặt

khác, các kho này đều ở xa (như ở Lạng Sơn, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh ), vì vậy

định kỳ Cơng ty phải cho người đi kiểm tra, kiểm kê lại hàng hố nắm vững cả về

số lượng và chất lượng.

Cơng ty nên trích lập khoản Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, điều này sẽ

giúp cho Công ty rất nhiều trong việc khắc phục thiệt hại do hàng tồn kho bị giảm

giá. Khơng như năm vừa qua khi tình trạng giảm giá cao su nguyên liệu và sắn lát

bị rớt giá Cơng ty khơng có quỹ dự phòng này để bù đắp. Đồng thời Cơng ty có thể

mua bảo hiểm cho hàng hố của mình.

Thực hiện một cách hiệu quả các giải pháp trên đòi hỏi các nhà quản lý cần

phải nắm bắt được đặc điểm của từng loại hàng hoá kinh doanh của Công ty, và sự

biến động của các loại hàng hố đó trên thị trường.

3.2.4 Quản lý chặt chẽ các khoản nợ phải thu đồng thời xác định chính sách tín

dụng thương mại hợp lý:

Các khoản phải thu của công ty trong thời gian qua chiếm tỷ trọng tương đối

lớn trong tổng vốn lưu động, do vậy nó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu

động của công ty. Trong xu thế hiện nay, bán hàng trả chậm đã trở nên phổ biến và

thành một tập quán chung. Việc tiêu thụ này chỉ có ý nghĩa khi thu hồi được vốn

thực hiện tái sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Qua nghiên cứu thực trạng tình hình quản lý khoản phải thu cho thấy Cơng

ty chưa có chính sách tín dụng thương mại đối với khách hàng. Việc xây dựng chính

sách tín dụng thương mại có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của công ty. Một chính sách tín dụng thương mại hợp lý

sẽ đảm bảo được sự ổn định, tự chủ về mặt tài chính, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển

của vốn lưu động. Vì vậy, công ty cần thực hiện một số biện pháp sau đây:

- Thứ nhất, Công ty cần xác định bán chịu và mức độ nợ phải thu. Xác định

chính sách bán chịu phải hợp lý đối với từng loại khách hàng trên cơ sở đã thẩm

định kỹ uy tín cũng như khả năng thanh toán của họ:

+ Đối với khách hàng lớn và có uy tín Cơng ty có thể bán nhiều hàng và

chấp nhận thanh toán chậm nhưng vẫn có chính sách tín dụng khuyến khích trả

sớm.



Luận văn tốt nghiệp



- 65 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



+ Đối với khách hàng mới Công ty chưa nắm bắt được nhiều về khả năng

thanh tốn của họ, hay chưa có uy tín và mức độ tin cậy khơng cao, thì Cơng ty cần

tiến hành phương thức thanh tốn ngay, hoặc có thể bán với một lượng hàng hoá

vừa phải để tạo mối quan hệ với đối tác. đồng thời Cơng ty cần có những biện pháp

phòng ngừa rủi ro như yêu cầu đặt cọc, trả trước một phần giá trị đơn hàng, giới hạn

giá trị tín dụng.

+ Đối với những khách hàng nợ khơng có hoặc khả năng thanh tốn q

thấp, Cơng ty có thể từ chối nhằm tránh rủi ro về khả năng thanh tốn của khách

hàng.

Khi xác định chính sách bán chịu Công ty cần chú ý tới các yếu tố chủ yếu

ảnh hưởng tới cơng tác xác định chính sách bán chịu của mình: như mục tiêu mở

rộng thị trường tiêu thụ, tăng Doanh thu hay tăng lợi nhuận, tình trạng cạnh tranh,

tình trạng Tài chính của Cơng ty

Vấn đề khó khăn nhất trong xác định chính sách tín dụng là xác định điều

kiện thanh toán (thời hạn thanh toán và chiết khấu thanh tốn), làm sao để vừa có

tác dụng khuyến khích khách hàng mua hàng và thanh tốn sớm lại vừa không ảnh

hương tới mục tiêu của Công ty.

Để có thể xác định tỷ lệ chiết khấu hợp lý Cơng ty cần phải dặt nó trong mối

quan hệ với lãi suất vay vốn hiện hành của Ngân hàng. Bởi vì khi bán hàng trả

chậm Cơng ty phải vay vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh được

tiến hành liên tục. Do đó việc Cơng ty giảm giá cho khách hàng một tỷ lệ nhất định

trên tổng số tiền hàng mà tỷ lệ đó nhỏ hơn lãi suất vay ngắn hạn để thu hồi được

tiền ngay vẫn có lợi hơn là khơng chiết khấu để cho khách hàng nợ một thời gianvà

trong thời gian đó Công ty lại phải vay vốn chịu lãi suất để phục vụ cho các hoạt

động kinh doanh của mình.

Khi ký kết hợp đồng thương mại, Công ty cần phải chú ý chặt chẽ đến từng

câu chữ, đảm bảo lợi ích và tính pháp lý cao của hợp đồng thương mại, từ đó dễ

dàng giải quyết những bất đồng, tranh chấp, và vi phạm hợp đồng.

- Thứ hai, Công ty phải kiểm sốt chặt chẽ Nợ phải thu và có các biện pháp

cụ thể thu hồi công nợ:

+ Công ty phải mở sổ theo dõi các khoản nợ: chi tiết tới từng khách hàng, có

tên địa chỉ khách hàng, thời hạn nợ, số tiền nợ và cả tỷ lệ nợ (bởi từ tỷ lệ nợ ta biết



Luận văn tốt nghiệp



- 66 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



được trọng tâm quản lý đối với khoản Nợ phải thu của khách hàng này). Đồng thời

phân ra thành các loại: Nợ trong hạn, nợ đến hạn, và nợ quá hạn và có biện pháp

quản lý phù hợp đối với từng loại:

Đối với các khoản nợ trong hạn và đến hạn: khi còn là các khoản nợ trong

hạn Công ty cần phải theo dõi liên tục,đến khi đến hạn thanh tốn Cơng ty cần có

biện pháp đốc thu: thông báo nợ đến hạn cho khách hàng, Công ty chuẩn bị giấy tờ

chứng từ thanh toán, thực hiện kịp thời thủ tục thanh toán để rút ngắn thời gian và

chủ động trong thanh toán.

Đối với những khoản nợ q hạn thanh tốn, Cơng ty phải tiến hành phân

tích rõ ngun nhân vì sao khách hàng khơng thanh tốn đúng hạn, do nguyên nhân

khách quan hay chủ quan (nếu là ngun nhân khách quan thì Cơng ty có thể ra hạn

thêm) từ đó đưa ra những biện pháp thích ứng tuỳ từng thời kỳ giai đoạn: Nếu mới

phát sinh thì nên áp dụng biện pháp mềm mỏng, mang tính chất yêu cầu. Sau một

thời gian không tiến chuyển, Công ty cử người xuống tận nơi, dùng biện pháp cứng

rắn hơn, đưa ra những cơ sơ pháp lý buộc khách hàng trả nợ. Nếu khách hàng vẫn

dây dưa không trả Cơng ty u cầu và đệ đơn Tồ án kinh tế xem xét giải quyết.

Các biện pháp mà Công ty đưa ra phải vừa có lý vừa có tình, khơng được

dùng những biện pháp tiêu cực không đúng pháp luật, gây tai tiếng xấu cho Cơng ty

làm mất uy tín.

Đồng thời Công ty cần phân loại thành Nợ quá hạn có khả năng đòi được (thì

có biện pháp như trên) và Nợ q hạn khơng có khả năng đòi, với khoản Nợ q

hạn khơng có khả năng đòi nghĩa là đã mất vốn, Cơng ty cần trích quỹ dự phòng các

khoản phải thu khó đòi để bù đắp. Cũng chính vì vậy mà bắt đầu từ năm tới Cơng ty

cần trích lập Khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi.

3.2.5 Sử dụng hiệu quả vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi:

Thực tế cho thấy, lượng tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng của Công ty

không phải là nhỏ. Vì thế, nếu để lượng tiền này tại ngân hàng thì khả năng sinh lời

là rất thấp. Hiện nay, thị trường tài chính của Việt Nam đã ra đời và đi vào hoạt

động được một vài năm, tuy chưa thực sự ổn định nhưng nó đã tạo thuận lợi trong

việc huy động vốn cho các cơng ty. Đồng thời, nó cũng mang lại triển vọng và

những cơ hội cho công ty có thể đầu tư vốn nhàn rỗi nhằm mục đích sinh lời cao

hơn thơng qua việc đầu tư mua bán các chứng khốn có khả năng thanh khoản cao



Luận văn tốt nghiệp



- 67 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



như thương phiếu, hối phiếu, tín phiếu kho bạc và cổ phiếu. Hiện tại, cơng ty chưa

có khoản đầu tư vào chứng khốn ngắn hạn. Vậy nên cơng ty có thể sử dụng số vốn

bằng tiền tạm thời để mua các chứng khoán ngắn hạn để có thể dễ dàng chuyển đổi

thành tiền khi cần thiết mà vẫn đem lại mức sinh lời cao hơn lãi suất ngân hàng.

3.2.6 Chú trọng công tác tìm kiếm mở rộng thị trường và đẩy mạnh tiêu thụ

hàng hoá:

Trong điều kiện canh tranh gay gắt việc điều tra, nghiên cứu thị trường có ý

nghĩa rất quan trọng đối với q trình tiêu thụ sản phẩm. Nó giúp Cơng ty có thể

nắm bắt được nhu cầu thị trường, sức mua của thị trường cũng như tình hình cạnh

tranh trên thị trường đó. Từ đó Cơng ty mới có thể tổ chức hoạt động kinh doanh và

tiêu thụ hàng hố của mình ngày càng chủ động và phát triển, giúp luồng vốn kinh

doanh vận động và luân chuyển nhịp nhàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh

doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng.

Qua tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng Hà Nội cho thấy

cơng tác tìm kiếm mở rộng thị trường và tiêu thụ sản phẩm còn chưa được chú

trọng đúng mức, chưa phát huy được tác dụng hiệu quả của cơng tác này, khiến cho

lượng vật tư hàng hố còn tồn đọng rất lớn.

Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, không thể coi nhẹ công tác này. Công

ty cần phải có một giải pháp hữu hiệu để tăng cường công tác điều tra nghiên cứu

thị trường. Trước hết công tác này phải trở thành hoạt động chính thức và thường

xuyên của Công ty. Công ty cần phải tổ chức được đội ngũ cán bộ điều tra, nghiên

cứu thị trường nắm vững các nghiệp vụ kinh doanh, thu thập, phân tích, tổng hợp

thơng tin tiếp cận khách hàng… Trước mắt để tránh cồng kềnh cho bộ máy hành

chính, Cơng ty có thể cử ra một số nhân viên của phòng kinh doanh đảm nhân cơng

việc này, hoặc có thể tuyển dụng thêm. Về lâu dài đội ngũ nhân viên nghiên cứu thị

trường phải được tách riêng thành phòng Maketing chỉ chuyên thực hiện nhiệm vụ

thu thập xử lý thông tin về thị trường để có các dự đốn, quyết định chính xác.

Đối với việc đẩy mạnh tiêu thụ hàng hố, trong thời gian tới Công ty cần

phải thiết lập hệ thống cửa hàng, chi nhánh đại lý phân phối tiêu thụ hàng hố trên

diện rộng. Đồng thời tích cực tìm kiếm nghiên cứu thị trường để đẩy mạnh hàng

hoá (nhất là đối với những hàng hố trong nước có lợi thế so sánh) xuất khẩu tiêu

thụ ra nước ngoài.



Luận văn tốt nghiệp



- 68 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Để làm được những điều đó bên cạnh cơng tác điều tra nghiên cứu thị trường

Công ty phải chủ động mở rộng danh mục các mặt hàng xuất nhập khẩu. Đồng thời

cần phải tích cực tham gia vào các hội trợ triển lãm thương mại trong nước (Như

hội chợ thiết bị máy công nghiệp vừa diễn ra tại Hà Nội) và quốc tế nhằm giới thiệu

sản phẩm và tìm kiếm đối tác.

3.2.7 Các biện pháp khác.

Tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động khơng thể nằm ngồi tổng thể hoạt

động kinh doanh của Cơng ty, vì vậy muốn nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử

dụng vốn lưu động phải đặt nó trong một mơi trường tổng qt như vậy.

Thương mại là một lĩnh vực rất nhạy cảm với môi trường của nền kinh tế.

Trạng thái của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nó. Với xu hướng

tồn cầu hố, đất nước ta đang từng ngày hội nhập với nền kinh tế thế giới, cùng rất

nhiều những cơ hội và thách thức. Để tồn tại và phát triển Công ty Cổ phần Thiết bị

Phụ tùng Hà Nội cần phải có những bước tiến vượt bậc, những bước đi cụ thể trong

sự hội nhập kinh tế đất nước.

Cơng ty cần nhanh chóng và liên tục cập nhật sự thay đổi các chính sách

kinh tế của nhà nước, tham gia các hội thảo đối thoại giữa Nhà nước và Doanh

nghiệp, thăm dò thị trường nước ngồi thơng qua các đồn ngoại giao, các chuyến

viếng thăm, giúp Cơng ty có được những nguồn tin chính thống, những mối quan hệ

an tồn mà hiệu quả.

Đồng thời có những chính sách hợp lý để có thể giữ vững được thị trường

tiêu thụ trong nước khi có sự cạnh tranh hội nhập, tham gia ồ ạt của các sản phẩm

hàng hoá của Cơng ty nước ngồi. Cơng ty có thể cộng tác, liên doanh hoặc làm đại

lý phân phối uỷ quyền của các Cơng ty nước ngồi. Mặt khác cơng tác quản lý của

Cơng ty cần phải được tiêu chuẩn hố, cán bộ công nhân viên làm việc theo tác

phong công nghiệp, tinh giảm bộ máy quản lý và hoạt động, có những chính sách

thưởng phạt, đãi ngộ hợp lý mang tính khuyến khích và tạo động lực cho người

quản lý cũng như người lao động.

Một biện pháp tổng thể cho một cho một hoạt động cụ thể hơn (tổ chức quản

lý và sử dụng vốn lưu động) sẽ mang lại những hiệu quả ngoài mong đợi.



Luận văn tốt nghiệp



- 69 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



KẾT LUẬN

Nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động là vấn đề hết

sức khó khăn phức tạp cả trong nhận thức lý luận và thực tiễn. Nhưng khơng còn là

vấn đề xa lạ đối với các Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường; là vấn đề cần

thiết, cấp bách đồng thời cũng là mục tiêu phấn đấu lâu dài của các Doanh nghiệp.

Trong những năm qua Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng Hà Nội đã có

nhiều nỗ lực tích cực phấn đấu trong hoạt động kinh doanh, từng bước nâng cao

hiệu quả tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động. Tuy nhiên hiệu quả tổ chức,

quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty còn chưa tương xứng khả năng và

tiềm lực có thể, và vẫn còn có những hạn chế nhất định.

Xuất phát từ thực tế hoạt động của Công ty, tác giả luận văn đã đi sâu phân

tích thực trạng, tìm ra nguyên nhân, chỉ ra những hạn chế đồng thời đưa ra những

kiến nghị đề suất. Mặc dù chỉ là những ý kiến đề suất đưa ra qua thời gian thực tập,

nghiên cứu tại Cơng ty nhưng với mong muốn đóng góp phần nào vào sự phát triển

và thịnh vượng của Công ty, tác giả luận văn hy vọng rằng, đề tài “ Vốn lưu động

và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu

động tại Công ty Cổ phần Thiết Bị Phụ Tùng Hà Nội “ sẽ được nghiên cứu triển

khai, áp dụng tại Công ty, và sẽ mang lại những kết quả đáng mong đợi.

Với vốn kiến thức, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn khơng thể

tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả luận văn rất Mong sự giúp đỡ, góp ý của

các thầy cơ giáo, cán bộ trong công ty và các bạn để luận văn được hồn thiện hơn,

thực sự có ý nghĩa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Vũ

Thị Yến – Thạc sỹ – Giảng viên khoa Tài chính Doanh nghiệp – Học viện Tài chính

cùng tập thể cán bộ CNV phòng Tài chính – Kế tốn, các phòng ban liên quan của

Cơng ty Cổ phần Thiết Bị Phụ Tùng Hà Nội đã tạo điều kiện cho tác giả luận văn

hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.



Luận văn tốt nghiệp



- 70 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm

2005

Tác giả luận văn



Mai văn Việt



Luận văn tốt nghiệp



- 71 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

SỐ DƯ BÌNH QUÂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x