Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các khoản phải thu

Các khoản phải thu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Như vậy, sự gia tăng của khoản Phải thu của khách hàng trong Công ty là điều

hợp lý phù hợp với điều kiện tình hình cụ thể của Cơng ty. Tuy nhiên Cơng ty cũng

cần phải có những biện pháp quản lý khoản Phải thu của khách hàng một cách chặt

chẽ. Đồng thời Công ty cũng không nên dựa và phụ thuộc quá nhiều vào phương

thức bán hàng này để thu hút khách hàng, bởi đó là một con dao hai lưỡi, nếu không

cẩn thận sẽ phương hại đến lợi ích của chính Cơng ty.

Khoản Trả trước cho người bán tiếp sau khoản Phải thu của khách hàng,

cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong Các khoản phải thu. Không như năm 2003,

với tỷ trọng cao nhất 64,54%, năm 2004 này khoản Trả trước cho người bán đã

giảm xuống chỉ còn 25,73% Các khoản phải thu. Theo đó so với năm 2003, năm

2004 số tiền Trả trước cho người bán đã giảm 17.769.725.804(đồng) tương ứng với

tỷ lệ giảm là 56,36%. Đây là thành tích và là nỗ lực rât lớn của doanh nghiệp. Bởi

trong khi tăng Doanh thu, tăng khối lượng hàng hoá dịch vụ bán ra, đồng thời với

nó là tăng khối lương hàng hố dịch vụ mua vào, thì khoản Trả trước cho người bán

lại khơng tăng, ngược lại nó giảm, mà giảm với mức khá lớn, lớn hơn cả số tiền

tăng trong kỳ của khoản Phải thu của khách hàng. Điều này chứng tỏ sự tín nhiệm

của nhà cung cấp đối với Cơng ty, tin tưởng vào khả năng thanh tốn của Cơng ty.

Hơn thế nữa nó có tác động tích cực tới tình hình tài chính của Cơng ty, giúp giảm

được rất lớn lượng vốn Cơng ty bị chiếm dụng.

Còn hai khoản là Thuế GTGT được khấu trừ và Các khoản phải thu khác

chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong Các khoản phải thu. Trong đó Thuế GTGT được khấu

trừ chiếm 6,94%, còn Các khoản phải thu khác chiếm 4,20%. Tuy nhiên tốc độ tăng

qua hai năm 2004 và năm 2003 của chúng lại rất lớn, tốc độ tăng Thuế GTGT được

khấu trừ là 722,40%, của Các khoản phải thu khác là 795,99%. Sở dĩ khoản Thuế

GTGT được khấu trừ tăng lên là do trong kỳ có sự gia tăng của khối lương hàng hố

dịch vụ. Còn chênh lệch tăng của hàng hố, tài sản đánh giá lại và thu bồi thường vi

phạm hợp đồng của khách hàng là nguyên nhân khiến cho Các khoản phải thu khác

tăng lên trong kỳ.

Chiếm dụng vốn là điều khó tránh khỏi khi doanh nghiệp tham gia hoạt động

kinh doanh mua bán trên thị trường. Công ty Cổ phần Thiết Bị Phụ Tùng Hà Nội

cũng như các doanh nghiệp khác là người đi chiếm dụng vốn nhưng đồng thời cũng



Luận văn tốt nghiệp



- 46 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



là người bị chiếm dụng vốn. Để xác định lượng vốn bị chiếm dụng nhiều hơn hay ít

hơn vốn Cơng ty đi chiếm dụng ta phải so sánh khoản nợ phải thu với nợ phải trả.

Dựa vào Bảng cân đối kế tốn năm 2004 ta có: Tỷ lệ giữa khoản phải thu và

khoản phải trả của Công ty như sau :

Các khoản phải thu

Năm 2003



=



48.782.742.917

=



Các khoản phải trả



= 70,89%

68.814.927.731



53.476.974.534

Năm 2004



=



= 35,95 %

148.731.290.484



Từ kết quả trên ta thấy: Năm 2003 tỷ lệ giữa Nợ phải thu và Nợ phải trả là 70,89%

có nghĩa là các khoản phải thu chiếm tới 70,89% các khoản phải trả. Chứng tỏ số

vốn Công ty đi chiếm dụng lớn hơn không nhiều với số vốn bị chiếm dụng, với số

tuyệt đối là:

68.814.927.731 – 48.782.742.917 = 20.032.184.814 (đồng)

Năm 2004 tỷ lệ này giảm từ 70,89% xuống 35,95 % chứng tỏ tỷ lệ tăng khoản vốn

đi chiếm dụng lớn hơn tỷ lệ tăng khoản vốn bị chiếm dụng, số vốn Công ty đi chiếm

dụng tăng lên. Cụ thể là:

148.731.290.484 – 53.476.974.534 = 95.254.315.950 (đồng)

Như vậy trong năm 2004 số vốn Công ty đi chiếm dụng so với số vốn bị chiếm

dụng đã tăng lên. Đây là một trong những nguồn tài trợ tạm thời cho nhu cầu VLĐ,

nhưng việc chiếm dụng phải hợp lý và phải đảm bảo khả năng thanh toán các khoản

nợ đến hạn, tránh để ảnh hưởng đến uy tín của Cơng ty nếu khơng hồn trả nợ đúng

hạn.

 Tình hình quản lý vốn bằng tiền :

Tiền là khoản khá quan trọng trong vốn lưu động, là tài sản linh hoạt nhất dễ

dàng chuyển đổi thành loại tài sản khác. Nó là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng

thanh tốn của Cơng ty. Đảm bảo được Tiền, Công ty tận dụng được các thời cơ



Luận văn tốt nghiệp



- 47 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



thuận lợi trong hoạt động kinh doanh, tự chủ trong thanh toán. Song, nếu có nhiều

tiền mặt cũng khơng phải là tốt bởi khả năng sinh lời của nó rất thấp. Do vậy, Cơng

ty phải tối ưu hoá mức dự trữ ngân quỹ để tránh rủi ro và đảm bảo khả năng thanh

toán kịp thời, cần thiết. Là một Công ty tự chủ về tài chính, Cơng ty Cổ phần Thiết

Bị Phụ Tùng Hà Nội có quỹ riêng, có tài khoản riêng tại ngân hàng nên thường chủ

động về tình hình thu chi tiền mặt. Việc thu chi được thực hiện thơng qua phòng Tài

chính kế tốn. Để nắm rõ vấn đề quản lý vốn bằng tiền của Công ty ta xem bảng sau

:

BẢNG 10 : TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN.

(Đơn vị: đồng)

31/12/2003



Vốn bằng tiền



Số tiền



1.Tiền mặt tại quỹ

(gồm cả ngân phiếu)



31/12/2004



Chênh lệch



%



Số tiền



%



Số tiền



%



156.968.130



11,29



32.227.491



0,86



-133.740.638



-80,58



2.Tiền gửi ngân hàng



1.304.306.65

6



88,71



3.694.271.98

7



99,14



2.389.965.331



183,24



Tổng cộng



1.470.274.78

6



100,00



3.726.499.47

8



100,00



2.256.224.693



153,46



Qua bảng số liệu trên ta thấy: vốn bằng tiền của Công ty bao gồm Tiền mặt

tại quỹ (trong đó bao gòm cả ngân phiếu) và Tiền gửi ngân hàng. Phần lớn vốn

bằng tiền của Công ty đều ở dạng Tiền gửi ngân hàng, trong năm 2004 chiếm tới

99,14%. Cơng ty duy trì một lượng vốn bằng tiền tương đối nhiều để đáp ứng nhu

cầu thanh toán.

Tại thời điểm 31/12/2004 vốn bằng tiền của Công ty là 3.726.499.478(đồng),

tăng 2.256.224.693(đồng) với tỷ lệ tăng tương ứng 153,46% so với cùng kỳ năm

2003. Trong đó chủ yếu là tiền gửi ngân hàng tăng lên với số tuyệt đối là

2.389.965.331(đồng) với tỷ lệ tăng tương ứng là 183,24%. Tiền mặt tại quỹ giảm

133.740.638(đồng) với tỷ lệ giảm tương ứng là 80,58%.

Trên cơ sở xem xét luồng xuất nhập ngân quỹ năm 2003 và 2004 cho thấy

vốn bằng tiền của Công ty tăng lên như vậy là do trong kỳ tăng Doanh thu hàng

bán, vì vậy tiền thu bán hàng theo đó cũng tăng lên; đồng thời cũng thu hồi được



Luận văn tốt nghiệp



- 48 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



nợ; chủ yếu để đáp ứng việc thanh toán khoản vay ngắn hạn và để trả cho nhà cung

cấp và trả cho cơng nhân viên. Việc Cơng ty duy trì lượng tiền gửi ngân hàng nhiều

hơn ở quỹ tiền mặt có lợi cho Cơng ty bởi Cơng ty vừa đáp ứng nhu cầu chi trả

khách hàng bằng chuyển khoản tại ngân hàng lại vừa có lãi tiền gửi.

Tình hình Tài sản Lưu động khác :

Tài sản Lưu động khác bao gồm: khoản Tạm ứng và Chi phí trả trước. Trong

đó khoản Tạm ứng năm 2004 là 45.672.082(đồng) (chiếm phần lớn trong Tài sản

Lưu động khác), tăng lên so với cùng kỳ năm 2003 là 27.236.282(đồng) tương ứng

với tỷ lệ tăng 147,74%. Khoản Chi phí trả trước là khơng đổi. Vì vậy sự gia tăng

của Tài sản Lưu động khác ở đây chính là sụ gia tăng của khoản Tạm ứng.

2.2.3.4.



Đánh giá hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động tại

Công ty qua các chỉ tiêu :



Bao giờ cũng vậy, khi đánh giá một hoạt động Tài chính ln có những hệ

thống chỉ tiêu theo đó đi kèm và gắn liền với hoạt động Tài chính đó. Thơng qua

các chỉ tiêu này người phân tích có thể nhìn nhận và thấy được những vấn đề được

coi là cốt lõi và là bản chất của của hoạt động Tài chính cần đánh giá. Hoạt động sử

dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Thiết Bị Phụ Tùng Hà Nội cũng vậy –

cũng là một hoạt động Tài chính trong tổng thể các hoạt động Tài chính của Công

ty. Để đánh giá được rõ ràng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Cơng ty, ta phân

tích các hệ thống chỉ tiêu dưới đây, các chỉ tiêu đánh giá này đã được giới thiệu ở

Chương I, sau đây là những con số cụ thể tính được từ các cơng thức đó:



 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn lưu động tại Công ty.

Qua Bảng 11, ta thấy rằng các chỉ tiêu năm 2004 đều thấp hơn năm 2003, điều

này hiệu suất sử dụng vốn lưu động của Công ty trong năm 2004 đã giảm xuống. So

với năm 2003,năm 2004:

BẢNG 11: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG

TẠI CÔNG TY .



Chỉ tiêu

1. Tốc

(vòng)



độ



luân



chuyển



Luận văn tốt nghiệp



vốn



2003

lưu



động



(L)



3,57



2004

3,26



Chênh lệch







%



- 0,31 - 8,68



- 49 -



Mai văn Việt

2. Kỳ

(ngày)



luân



chuyển



Lớp K39_11.08

vốn



lưu



động



(K)



101



3. Mức tiết kiệm vốn lưu động (của 2004 so với 2003)(VTK)

(đồng)

4. Mức

(đồng)



đảm



nhiệm



vốn



lưu



động



(MĐN)



9



8,9

1



0,02



7,1

4



110

9.764.042.809



0,28



0,30



Tốc độ luân chuyển vốn lưu động đã giảm xuống 0,31 (vòng) tương ứng với tỷ

lệ giảm 8,68%; sở dĩ có sự sụt giảm này là do tốc độ tăng của Vốn lưu động bình

quân cao hơn tốc độ tăng của Doanh thu thuần. Theo đó Kỳ luân chuyển vốn lưu

động đã tăng lên 9,58 (ngày), nghĩa là để thực hiện 1 vòng quay vốn lưu động phải

mất 110(ngày). Điều này đã khiến cho Cơng ty bị lãng phí mất 9.764.042.809

(đồng) trong năm 2004 vừa qua. Đây là một con số đáng kể bởi so với Lợi nhuận

trong kỳ nó gấp hơn 3 lần. Và để có thể tạo ra 1 (đồng) Doanh thu thuần trong kỳ

Công ty phải cần tới 0,3 (đồng) vốn lưu động, tăng 0,02 (đồng) so với năm 2003.

Như vậy, năm 2004 hiệu suất sử dụng vốn lưu động đã giảm xuống so với năm

2003, tuy giảm với con số khơng lớn và khơng có đột biến nhưng đó là dấu hiệu cho

biết sự kém hiệu quả trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động của Công ty.



 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán.

BẢNG 12 : CÁC CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG THANH TỐN TẠI CƠNG TY .



Chỉ tiêu



2003



2004



Chênh lệch







%



1. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn

hạn



1,062



1,069



0,007



11,29



2. Hệ số khả năng thanh toán nhanh



0,756



0,396



- 0,36



- 47,61



3. Hệ số khả năng thanh toán tức thời



0,022



0,025



0,00

3



13,63



Qua các chỉ tiêu tính tốn ở trên, ta thấy rằng:

Hệ số khả năng thanh tốn nợ ngắn hạn của cơng ty năm 2004 giảm so với

năm 2003, nhưng cả hai năm đều lớn hơn 1 là một dấu hiệu tương đối tốt. Nghĩa là,

năm 2004 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì Cơng ty có 1,069 (đồng) vốn lưu động để đảm

bảo. Khả năng thanh toán này tăng là do qua hai năm tốc độ tăng của

TSLĐ&ĐTNH (118,55%) lớn hơn tốc độ tăng của Tổng nợ ngắn hạn (117,06%).



Luận văn tốt nghiệp



- 50 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Hệ số khả năng thanh tốn nhanh của cơng ty cả hai năm đều nhỏ hơn 1

(năm 2003 là 0,756; năm 2004 là 0,396). Trong năm 2004 hệ số này đã giảm khá

lớn giảm tới 47,61% so với năm 2003, và hệ số này chỉ còn là 0,396. Do trong năm

có sự gia tăng đột biến của Hàng tồn kho cả về tỷ trọng và tốc độ tăng. Trong khi đó

thì tỷ lệ tăng của Tổng nợ ngắn hạn qua hai năm là không lớn bằng. Vì vậy, khả

năng thanh tốn nhanh của Cơng ty đã giảm xuống chỉ có 0,396 (đồng) để sẵn sàng

trả nợ ngay cho 1 đồng nợ ngắn hạn khi không dựa vào việc bán vật tư hàng hoá

trong kho.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời đã tăng 0,003 so với năm 2003 lên mức

0,025. Hệ số này tăng là do trong kỳ tốc độ tăng của Khoản Tiền (153,46%) lớn hơn

tốc độ tăng của Tổng nợ ngắn hạn (117,06%).

Nhìn chung, tình hình thanh tốn của cơng ty là tương đối tốt. Công ty luôn

dự trữ một lượng tiền mặt nhất định để đảm bảo thanh toán với ngân hàng và có thể

được coi là an tồn cho tình hình tài chính của cơng ty.



 Các chỉ tiêu hệ số hoạt động kinh doanh.

BẢNG 13 : CÁC CHỈ TIÊU HỆ SỐ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY .



Chỉ tiêu

1. Số

(vòng)



vòng



quay



2003



Hàng



tồn



kho



2004



Chênh lệch







%



10,99



5,99



-5



- 45,49



2. Số ngày một vòng quay Hàng tồn kho

(ngày)



33



60



27



81,82



3. Vòng quay các khoản nợ phải thu

(vòng)



5,35



7,18



1,83



34,15



67



50



-17



-25,37



4.

Kỳ

(ngày)



thu



tiền



trung



bình



Qua các tài liệu đã thu thập được, ta có Hàng tồn kho bình quân năm 2003 là

61.121.887.598,8 (đồng) của 2004 là 112.595.681.159 (đồng), như vậy ta tính được

tốc độ tăng của Hàng tồn kho bình quân qua hai năm là 84,21%, so với tốc độ tăng

của Tổng giá vốn hàng bán là 67,94% thì tốc độ tăng của Hàng tồn kho cao hơn.

Đây là lí do khiến cho Số vòng quay Hàng tồn kho năm 2004 giảm xuống 5 (vòng)



Luận văn tốt nghiệp



- 51 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



tương ứng với tỷ lệ giảm khá lớn 45,49%. Như vậy trong kỳ Hàng hoá tồn kho bình

qn chỉ ln chuyển được có 5,99 (vòng). Các con số trên đây một lần nữa minh

chứng cho tình trạng ứ đọng, và dự trữ quá mức vật tư hàng hố trong kỳ của Cơng

ty.

Theo đó Số ngày một vòng quay Hàng tồn kho cũng tăng lên 27(ngày) tương

ứng với tỷ lệ tăng khá cao là 81,82% để trở thành mức 60(ngày) _ Nghĩa là trong

năm 2004 để thực hiện một vòng quay Hàng tồn kho phải mất số ngày trung bình là

60(ngày).

Còn đối với Các khoản nợ phải thu, số Vòng quay các khoản phải thu của Cơng

ty năm 2004 đã tăng 1,83(vòng) so với năm 2003 làm cho Kỳ thu tiền trung bình

giảm 17(ngày). Đây là sự nỗ lực của Công ty trong việc giảm khoản Trả trước cho

người bán trong Các khoản nợ phải thu của Công ty trong năm 2004, đồng thời

cũng thu hồi được một số các khoản nợ. Tuy nhiên, số nợ phải thu trong Khoản phải

thu của khách hàng tại Công ty còn tăng. Nếu khơng có kế hoạch cung cấp tín dụng

cho khách hàng chặt chẽ, vốn lưu động của công ty sẽ bị chiếm dụng nhiều và sẽ trở

thành một khoản nợ khó đòi là giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.



 Chỉ tiêu hệ số sinh lời.

BẢNG 14 : CÁC CHỈ TIÊU HỆ SỐ SINH LỜI VỐN LƯU ĐỘNG TẠI

CÔNG TY.

Chỉ tiêu



200

3



1.Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn lưu

động



0,53



2.Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn lưu

động



0,36



200

4



Chênh lệch



Chú giải







%



5,43



1020,90



5,96



5,60



1555,55 Được miễn thuế



4,30



3,94



1094,44



5,96



Nếu không được miễn

thuế



Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn lưu động năm 2004 của công ty là 5,96%

có nghĩa là cứ 1(đồng) vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra được

0,0596(đồng) Lợi nhuận trước thuế, tăng 0,0543(đồng) với tỷ lệ tăng tương ứng rất

cao là 1020,90% so với năm 2003. Do được miễn thuế thu nhập nên Tỷ suất lợi

nhuận sau thuế vốn lưu động tăng này cao hơn, là 1555,55%, tuy nhiên tỷ lệ này

khơng phản ánh đúng thành tích của Cơng ty (nó được nâng lên bởi yếu tố khách



Luận văn tốt nghiệp



- 52 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



quan là miễn thuế thu nhập Doanh nghiệp). Khi khơng tính đến sự tác động khách

quan đó, tốc độ tăng của tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn lưu động sẽ là 1094,44%.

Dù vẫn còn nhiều hạn chế song đây là một bước tiến vượt bậc so với năm 2003 của

Công ty.

2.1.1 Một số tồn tại của Công ty trong công tác tổ chức quản lý và sử dụng

vốn lưu động :

Qua các bước phân tích từ thực tế cho tới các hệ thống chỉ tiêu phân tích ở

trên, chúng ta thấy những kết quả đạt được qua hai năm 2003 và 2004, điều đó thể

hiện những nỗ lực và cố gắng của Cơng ty trong hoạt động kinh doanh nói chung và

trong cơng tác tổ chức quản lý sử dụng vốn lưu động nói riêng. Tuy nhiên những

kết quả đạt được này còn chưa cao và chưa phản ánh được hết những tiềm lực và

khả năng có thể của Cơng ty. Sở dĩ như vậy, là vì tại Cơng ty vẫn còn một số những

tồn tại và hạn chế ảnh hưởng tới hiệu quả công tác quản lý và sử dụng vốn lưu

động. Cụ thể như sau:

Thứ nhất là: Công tác dự báo về mọi mặt tình hình tài chính nói chung và về

cơng tác xác định nhu cầu vốn lưu động nói riêng chưa hình thành nên những

phương pháp cụ thể phù hợp với tình hình và đặc điểm của Cơng ty. Tồn tại điều

này là do Cơng ty còn chưa chú trọng tới cơng tác dự báo nên chưa có những đầu tư

tìm hiểu thích đáng với tầm quan trọng của cơng tác này. Nếu khơng cải thiện tình

hình này trong những kỳ tới nó sẽ ảnh hưởng tồn diện tới tình hình tài chính của

Cơng ty, khiến cho Cơng ty phải bị động trong các hoạt động kinh doanh cũng như

hoạt động tài chính, và nhất là trong cơng tác đảm bảo vốn cho các hoạt động đó

được tiến hành thương xuyên liên tục và hiệu quả.

Thứ hai là: Công tác quản lý Hàng tồn kho _ Rõ ràng đây là vấn đề nổi cộm

của Công ty trong năm qua (nguyên nhân của vấn đề này đã được nêu lên ở phần

2.2.3.3 trong tiểu mục Tình hình Hàng tồn kho). Với một lượng lớn Hàng hoá găm

trong kho đã làm giảm tốc độ vòng quay Hàng tồn kho khiến cho Cơng ty bị lãng

phí một một lượng tiền rất lớn, trong khi Công ty phải đi vay và chịu một khoản lãi

vay rất cao (như năm 2004 vừa qua là 4.292.583.986 đồng). Lượng Hàng tồn kho

này là khoản “vốn chết” khá lớn mà Cơng ty chưa giải phóng và thu lại được. Đây

là vấn đề cấp thiết Công ty phải giải quyết càng sớm càng tốt. Bởi một mặt khoản



Luận văn tốt nghiệp



- 53 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



vốn ứ đọng trong kho Công ty phải trả tiền lãi vay, tiền trông coi và tiền thuê kho

(Công ty hầu như không có kho chứa hàng), mặt khác nguy cơ mất giá đối với Hàng

hoá trong kho là rất lớn.

Thứ ba là: Công tác quản lý Khoản phải thu của khách hàng. Công tác quản

lý các Khoản phải thu của công ty còn nhiều bất cập. Mặc dù trong năm Các khoản

phải thu tăng khơng lớn nhưng trong đó Khoản Phải thu của khách hàng lại vẫn

tăng với tốc độ rất cao (103,98%) tăng hơn gấp hai lần so với năm 2003. Chứng tỏ

số vốn lưu động còn ứ đọng trong các khách hàng còn lớn. Vốn lưu động của cơng

ty bị khách hàng chiếm dụng nhiều với tỉ trọng cao (63,13% Các khoản phải thu)

trong khi khả năng tài chính có hạn, công ty vẫn phải tiến hành vay ngắn hạn. Mặc

dù công ty cũng đi chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp và của khách hàng một

lượng vốn tương đối lớn song việc mua chịu sẽ làm tăng hệ số nợ và một vài rủi ro

khác và đây cũng chỉ là nguồn tài trợ trước mắt cho nhu cầu vốn lưu động.Việc

công ty bị chiếm dụng vốn nhiều là do:

- Cơng ty chưa có các hình thức hợp lý khuyến khích khách hàng thanh tốn

tiền hàng sớm và ngay khi giao hàng chẳng hạn như chính sách chiết khấu.

- Trong các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của công ty ký kết với khách hàng

chưa có các điều kiện ràng buộc chặt chẽ về mặt thanh toán, số tiền ứng trước

thường là rất nhỏ.

Thứ tư là: Công tác quản lý vốn bằng tiền của công ty đã đảm bảo tương đối

tốt khả năng thanh toán. Tuy nhiên, lượng tiền mặt khá lớn tương đối nhàn rỗi gửi

tại ngân hàng (trong năm 2004 là gần 4 tỷ đồng, đã tăng lên gần gấp 3 lần so với

năm 2003) với lãi suất thấp, giảm khả năng sinh lời. Có thể với số dư tiền gửi tại

ngân hàng của công ty không chỉ duy trì để đảm bảo khả năng thanh tốn mà còn

thể hiện là nguồn vốn chưa có cơ hội đầu tư. Cơng ty phải có những biện pháp kịp

thời để vừa đảm bảo được khả năng thanh toán lại vừa tạo khả năng sinh lời cho

đồng vốn tạm thời nhàn rỗi.

Thứ năm là: Về vấn đề đầu tư tài chính. Trong năm 2004 Cơng ty khơng hề

có hoạt động đầu tư Tài chính, khoản đầu tư Tài chính ngắn hạn và cả khoản đầu tư

Tài chính dài hạn đều là số không. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các hoạt



Luận văn tốt nghiệp



- 54 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



động liên doanh, liên kết đặc biệt là sự ra đời của Thị trường chứng khoán Việt Nam

tạo ra những điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp huy động vốn, mở rộng hoạt

động sản xuất kinh doanh và đầu tư ra cả bên ngoài doanh nghiệp. Nhất là đối với

những Cơng ty Cổ phần. Đó là một cơ hội thuận lợi mà Công ty Cổ phần Thiết Bị

Phụ Tùng Hà Nội chưa tận dụng được. Công ty chưa xây dựng cho mình đề án

riêng để tiến hành đầu tư tài chính. Trong năm 2004 Doanh thu hoạt động Tài chính

của Cơng ty giảm nghiêm trọng, giảm xuống gần 4 lần so với năm 2003. Đây cũng

là vấn đề tồn tại của Công ty cần giải quyết trong những năm tới.

Thứ sáu là: Cơng tác dự phòng. Cơng ty khơng hề có khoản dự phòng nào: từ

Dự phòng giảm giá Hàng tồn kho cho tới Dự phòng Các khoản phải thu khó đòi và

Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn (khơng có hai khoản dự phòng cuối

này có thể hiểu được là do Cơng ty chưa có hoạt động đầu tư ngắn hạn và dài hạn).

Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại những rủi ro và biến cố không thể lường

trước, về mặt kinh tế và tài chính việc tạo lập các khoản Dự phòng cho phép Cơng

ty sẽ giảm thiểu được những rủi ro, đồng thời tạo cho Công ty một quỹ tiền tệ để đủ

sức khắc phục trước mắt những tác động xấu, những thiệt hại có thể xảy ra trong

hoạt động kinh doanh. Vì vậy đây là thiếu sót của Cơng ty trong thời gian qua cần

phải khắc phục.

Thứ bảy là: Cơng ty còn thiếu chủ động về nguồn vốn lưu động. Vốn lưu

động của Công ty chủ yếu được đảm bảo bằng hai nguồn: Nguồn vốn lưu động tạm

thời (chiếm tới 89,34%) còn lại là Nguồn vốn lưu động thường xuyên. Công ty chưa

chủ động được trong kế hoạch tổ chức và sử dụng vốn lưu động dài hạn. Bên cạnh

đó, việc huy động nguồn vốn chưa thật hợp lý, chưa tận dụng được hết các nguồn

lực khác để tối ưu hoá hiệu quả. Khoản vay ngắn hạn ngân hàng khá lớn (chiếm

54,46% tổng Nợ ngắn hạn) và công ty phải trả lãi cho khoản vay này.

Thứ tám là: Công tác tìm kiếm, mở rộng thị trường và chính sách tiêu thụ sản

phẩm của cơng ty còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc nắm bắt thông tin thị

trường để đưa ra những quyết định kịp thời và đúng đắn. Cũng vì lẽ đó mà trong

năm 2004 số Hàng tồn kho của Công ty là cao su nguyên liệu rớt giá nhiều đến như

vậy.



Luận văn tốt nghiệp



- 55 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Tìm hiểu và thấy được những tồn đọng trên, việc đề ra phương hướng, biện

pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của Công ty là rất cần

thiết. Để vững mạnh và an tồn về tài chính, có hiệu quả cao trong việc sử dụng

Vốn lưu động, Cơng ty cần có những biện pháp kịp thời nhằm khắc phục các tồn

đọng trên, để đáp ứng và thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới, đưa Công ty ngày

càng phát triển.



CHƯƠNG III



MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN

THIẾT BỊ PHỤ TÙNG HÀ NỘI



Luận văn tốt nghiệp



- 56 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các khoản phải thu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x