Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhu cầu vốn lưu động

Nhu cầu vốn lưu động

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



dự trữ vật tư hàng hoá hoặc sản phẩm dở dang, như tăng thêm do tính chất thời vụ,

do nhận thêm đơn đặt hàng đột xuất, do biến động tăng giá vật tư, …Điều đó đòi

hỏi doanh nghiệp phải tăng thêm lượng vốn lưu động ứng vào cho quá trình hoạt

động kinh doanh .

 Doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết bởi vì:

- Xác định được nhu cầu vốn lưu động đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp đáp ứng

kịp thời đầy đủ vốn thường xuyên cần thiết cho yêu cầu hoạt động sản xuất kinh

doanh, giúp doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường liên tục.

- Xác định nhu cầu vốn lưu động đúng đắn là một trong những căn cứ để tổ chức tốt

những nguồn vốn tài trợ, xem xét đánh giá nên khai thác huy động vốn từ nguồn

nào cho có lợi.

- Đối với những doanh nghiệp nhà nước mới thành lập việc xác định vốn lưu động

thường xuyên cần thiết là căn cứ để nhà nước giao vốn cho những doanh nghiệp

này.



 Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp:

- Những yếu tố về tính chất ngành nghề kinh doanh và mức độ hoạt động của doanh

nghiệp:

+ Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ: nhân tố này tác

động thuận chiều tới nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

+ Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp: chu kỳ kinh doanh càng dài nhu cầu

vốn lưu động thường xuyên cần thiết càng lớn.

+ Tính chất thời vụ: khi chưa đến vụ thì nhu cầu vốn lưu động chỉ ở mức tối

thiểu cần thiết ở mức thấp nhất đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra bình

thường, khi thời vụ đến thì huy động vốn lưu động tạm thời.

+ Sự thay đổi khoa hoc công nghệ: khi doanh nghiệp trang bị tài sản cố định

càng hiện đại thì nhu cầu vốn lưu động sẽ càng giảm.

- Những yếu tố mua sắm vật tư, hàng hoá:

+ Giá cả vật tư hàng hoá: Giá vật tư tăng sẽ gia tăng nhu cầu vốn lưu động

thường xuyên cần thiết.

+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng vật tư hàng hố: nếu khoảng

cách đó là xa thì thường số lần cung ứng ít và lượng vật tư cung ứng mỗi lần



Luận văn tốt nghiệp



-8-



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



nhiều, như vậy mức dự trữ hàng tồn kho sẽ lớn đồng nghĩa với nhu cầu vốn lưu

động cũng sẽ lớn. Khoảng cách giữa doanh nghiệp và khách hàng cũng ảnh

hưởng tương tự như vậy.

+ Điều kiện phương tiện lưu thông vận tải: nếu trong điều kiện doanh nghiệp

thiếu phương tiện vận tải, phải đi thuê dịch vụ vận chuyển, sẽ làm tăng nhu cầu

vốn lưu động của doanh nghiệp.

- Những yếu tố về chính sách của doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm, trong

tín dụng hay trong tổ chức thanh tốn và chính sách chi trả tiền lương cũng ảnh

hưởng khơng nhỏ tới nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.2.1.2 Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

a> Phương pháp trực tiếp:

Phương pháp này căn cứ vào những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn

lưu động ứng ra để xác định vốn lưu động thường xuyên cần thiết.

Trình tự tiến hành của phương pháp như sau:

-



Xác định lượng hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh

của Doanh nghiệp.



-



Xác định chính xác lượng sản phẩm hàng hố tiêu thụ và khoản tín dụng

cung cấp cho khách hàng.



-



Xác định khoản nợ phải trả cho người cung ứng.



-



Tổng hợp nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của Doanh nghiệp.



Công thức tổng quát của phương pháp này như sau:

k



n



Vnc   Mij x Nij

i 1 i 1



Trong đó: Vnc : Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của Doanh nghiệp.

M : Mức tiêu dùng bình quân một ngày của loại vốn được tính tốn.

N : Số ngày ln chuyển của loại vốn được tính tốn.

i

xuất



: các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh: Dự trữ - sản

- tiêu thụ (k = 3).



j : Loại vốn sử dụng trong từng khâu (j = 1,n ).

b> Phương pháp Gián tiếp :



Luận văn tốt nghiệp



-9-



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Dựa vào số vốn lưu động bình quân năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh

doanh năm kế hoạch và khả năng tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm kế

hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động cuả Doanh nghiệp năm kế hoạch.

Ta có cơng thức tổng qt của phương pháp này như sau:

Vnc



=



hoặc Vnc =



VLĐO



x



M



M1

Mo



x



(1 ± t%)



1

L1



Trong đó: M1, Mo : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch và

năm báo cáo.

VLĐO : Số dư bình quân vốn lưu động năm báo cáo.

t%



: Tỷ lệ tăng (hoặc giảm) số ngày luân chuyển vốn lưu

động năm kế hoạch so với năm báo cáo.



c> Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động theo tỷ lệ % trên doanh thu thuần:

Nội dung tóm tắt của phương pháp này qua các bước như sau:

Bước 1 : Tính số dư bình quân của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán kỳ

báo cáo.

Bước 2 : Chọn ra những khoản mục chịu sự tác động trực tiếp và có mối quan hệ

chặt chẽ với doanh thu và tính tỷ lệ phần trăm của các khoản mục đó so với doanh

thu thực hiện được trong kỳ.

Bước 3 : Dùng tỷ lệ phần trăm đó để ước tính nhu cầu vốn lưu động tăng thêm

cho năm kế hoạch trên cơ sở doanh thu dự kiến năm kế hoạch.

Bước 4 : Định hướng nguồn trang trải nhu cầu tăng vốn kinh doanh trên cơ sở

kết quả kinh doanh kỳ kế hoạch.

Nhu cầu vốn lưu động tăng thêm được tính theo cơng thức:



Vnc = ( M1 - M0 ) x Tđ



Trong đó: Tđ = tổng cộng tỷ lệ % bên tài sản – tổng cộng tỷ lệ % bên nguồn vốn.



Luận văn tốt nghiệp



- 10 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



1.2.2. Nguồn tài trợ vốn lưu động

Để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, và nhu cầu vốn

lưu động tạm thời, tương ứng có hai nguồn tài trợ đảm bảo cho hai nhu cầu trên:

- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn có tính chất ổn định nhằm đảm bảo

cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, hình thành nên tài sản lưu động

thường xuyên cần thiết, bao gồm: Nguồn vốn chủ sở hữu và Nguồn vốn huy động

dài hạn.Trong đó:

Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm:

+ Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệ

ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất

kinh doanh cuả doanh nghiệp.

+ Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung từ lợi nhuận

hoặc quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp

Nguồn vốn huy động dài hạn bao gồm:

+ Nguồn vốn liên doanh liên kết: được hình thành từ vốn góp liên doanh của các

bên tham gia liên doanh, có thể bằng tiền hoặc vật tư, hàng hoá.

+ Nguồn vốn vay dài hạn: vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng hay doanh

nghiệp phát hành trái phiếu dài hạn để huy động vốn.

- Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn có tính chất ngắn hạn dưới một năm, chủ

yếu là để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong

quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các

khoản vay ngắn hạn của ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn,

vốn chiếm dụng hợp pháp, các khoản phải nộp Nhà nước nhưng chưa đến hạn nộp,

nợ khách hàng chưa đến hạn trả, nợ cán bộ cơng nhân viên chưa đến kỳ thanh tốn,

….

Để doanh nghiệp tiến hành được liên tục thì doanh nghiệp phải có một lượng tài

sản lưu động thường xuyên ở mức độ nhất định, và nó được hình thành từ nguồn

vốn lưu động thường xuyên. Còn những tài sản lưu động có thời gian sử dụng ngắn

được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời hay nguồn vốn ngắn hạn.



Luận văn tốt nghiệp



- 11 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Tuỳ theo từng doanh nghiệp khác nhau và từng giai đoạn phát triển khác nhau

của doanh nghiệp mà cách thức phối hợp các nguồn tài trợ để đáp ứng nhu cầu vốn

lưu động doanh nghiệp là khác nhau. Vấn đề đặt ra có tính chiến lược là cần tạo ra

sự phù hợp chặt chẽ giữa thời hạn nguồn vốn tài trợ và thời gian sử dụng tài sản

được tạo ra. Và việc tổ chức nguồn tài trợ đảm bảo nhu cầu vốn lưu động cho hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp cần được xem xét trong tổng thể chiến lược

chung về tổ chức hoạt động vốn của doanh nghiệp .

1.3 Nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh

nghiệp

1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu

động trong doanh nghiệp

a> Vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp:

- Vốn lưu động có vai trò rất quan trọng, nó là điều kiện vật chất khơng thể thiếu

được trong q trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong cùng một lúc

vốn lưu động được phân bổ khắp ở các hình thái biểu hiện của nó, để đảm bảo sản

xuất kinh doanh được tiến hành bình thường liên tục doanh nghiệp phải có đầy đủ

vốn lưu động để đầu tư vào tất cả các hình thái khác nhau đó, giúp cho chúng tồn tại

một cách hợp lý đồng bộ với nhau tạo điều kiện cho sự chuyển hố giữa các hình

thái của vốn lưu động trong quá trình luân chuyển một cách thuận lợi, khiến cho

quá trình kinh doanh diễn ra thuận lợi trơi chảy và bình thường.

Nếu doanh nghiệp khơng có đủ vốn lưu động đầu tư cho các hình thái tồn tại

của vốn lưu động sẽ ảnh hưởng tới quy mô sản xuất dự kiến. Nếu thiếu vốn lưu

động trầm trọng sẽ gây ra ách tắc đình đốn, hoặc khơng đủ vốn lưu động đầu tư

quảng cáo thúc đẩy bán hàng sẽ bán chậm hoặc không bán được hàng, hoặc trong

trường hợp có các hợp đồng đột suất sẽ mất đi cơ hội kinh doanh cơ hội gia tăng lợi

nhuận cho doanh nghiệp. Trong trường hợp khác, có thể khơng thiếu vốn lưu động

nhưng tổ chức vốn lưu động không tốt, khâu này ít, khâu kia nhiều, khơng đảm bảo

tính đồng bộ ở các giai đoạn gây khó khăn sản xuất, khiến cho sự chuyển hố hình

thái vốn lưu động khó khăn. Mặt khác khơng phát huy được vai trò vốn lưu động,

thừa trong thiếu, thiếu mà lại thừa, gây lãng phí và mất vốn.



Luận văn tốt nghiệp



- 12 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Như vậy vốn lưu động tác động trực tiếp hàng ngày hàng giờ có mặt ở khắp

mọi nơi trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tác động trực tiếp

tới hiệu quả sản xuất, tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.

_ Vốn lưu động là cơng cụ phản ánh đánh giá q trình vận động của vật tư. Với

một lượng vốn lưu động chi ra của doanh nghiệp thì bao giờ cũng có sự vận động

ngược chiều tương ứng đi vào doanh nghiệp, hoặc xuất một giá trị sản phẩm ra

ngồi doanh nghiệp sẽ có một lượng tiền thu tương ứng đi vào doanh nghiệp. Từ đó

sự vận động của vốn lưu động sẽ phản ánh sự vận động của vật tư, qua đó sẽ đánh

giá được chất lượng hoạt động mua sắm vật tư đã đáp ứng được nhu cầu kinh doanh

hay chưa. Đồng thời qua tốc độ vận động của vốn lưu động nhà quản lý có thể biết

được sự vận động khơng bình thường của vốn lưu động, để từ đó tìm ra nguyên

nhân và đề ra những giải pháp phù hợp; ví như khi các yếu tố khác khơng đổi, tốc

độ luân chuyển vốn lưu động càng chậm, đó là dấu hiệu chứng tỏ ở một giai đoạn

nào đó, một khoản vốn lưu động nào đó có ứ đọng, để từ đó nhà quản lý biết được

và tìm ra ngun nhân cùng với những giải pháp tương ứng phù hợp nhằm cải thiện

và thay đổi tình hình theo chiều hướng tốt hơn.

b> Ý nghĩa của việc tổ chức đảm bảo vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn lưu động.

Tổ chức đảm bảo vốn lưu động kịp thời, đầy đủ, tạo ra sự tồn tại hợp lý ở mỗi

hình thái của vốn lưu động và sự đồng bộ giữa các hình thái, giữa các khâu của quá

trình sản xuất sẽ tạo điều kiện thuận lợi để vốn lưu động luân chuyển nhịp nhàng

cân đối, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu suất sử dụng

vốn lưu động, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

(vốn lưu động của doanh nghiệp quay vòng càng nhanh, số lần tính lãi của doanh

nghiệp càng tăng theo).

Nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa rất lớn

đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó giúp

doanh nghiệp có thể tiết kiệm vốn, giảm được một số lượng vốn lưu động nhất định

mà vẫn đảm bảo được khối lượng sản xuất kinh doanh như cũ. Doanh nghiệp có thể

mở rộng quy mô kinh doanh, tăng doanh thu mà không phải tăng vốn lưu động.

Hoặc doanh nghiệp có thể phải tăng vốn lưu động nhưng tốc độ tăng vốn lưu động

nhỏ hơn tốc độ tăng doanh thu. Như vậy việc nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và



Luận văn tốt nghiệp



- 13 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa trong việc góp phần làm giảm chi phí lưu thơng,

chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn lưu động sẽ mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ

cho doanh nghiệp mà còn cho tồn xã hội. Doanh nghiệp có đủ điều kiện trang trải

chi phí, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm sẽ tạo được chỗ

đứng vững chắc trong nền kinh tế và hồn thành nghĩa vụ đóng góp cho Ngân sách

Nhà nước.

c> Xuất phát từ thực tế hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các Doanh nghiệp hiện

nay:

Thực tế hiện nay, các Doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng tới hiệu quả sử dụng

vốn lưu động, sự quan tâm của các Doanh nghiệp chưa tương xứng với tầm quan

trọng và vị trí của nó trong Doanh nghiệp. Điều này đặc biệt rõ ràng đối với các

Doanh nghiệp Nhà Nước, ở các Doanh nghiệp này hiệu quả sử dụng vốn lưu động

là rất thấp.

1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh

nghiệp.

a> Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn lưu động.

 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (L).

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là tỷ lệ giữa tổng mức luân chuyển vốn lưu

động trong kỳ và số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ của doanh nghiệp .

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được xác định theo công thức:

L



=



M

VLĐ



Trong đó:

L :Số lần luân chuyển vốn lưu động trong năm (số vòng quay của

vốn lưu động)

M : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ (doanh thu thuần

đạt được trong kỳ của doanh nghiệp)

VLĐ : Số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay vốn lưu động của doanh nghiệp trong một

kỳ nhất định (tính theo năm tài chính). Chỉ tiêu này càng cao nghĩa là tốc độ luân



Luận văn tốt nghiệp



- 14 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



chuyển vốn lưu động càng cao, nó phản ánh trình độ tổ chức vốn lưu động càng tốt,

hiệu suất vốn lưu động càng lớn.

 Kỳ luân chuyển vốn lưu động (K):

Kỳ luân chuyển vốn lưu động là tỷ lệ giữa số ngày trong kỳ và số lần luân

chuyển vốn lưu động trong kỳ.

Kỳ luân chuyển vốn lưu động xác định theo cơng thức:

K



=



N

L



=



360



=



L



360 . VLĐ

M



Trong đó:

K : Kỳ ln chuyển vốn lưu động

N : Số ngày trong kỳ (thống nhất N = 360 ngày)

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện

một lần luân chuyển vốn (phản ánh độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu

động trong kỳ của doanh nghiệp) Kỳ luân chuyển càng ngắn, chứng tỏ tốc độ luân

chuyển vốn lưu động càng nhanh, hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao

 Mức đảm nhiệm vốn lưu động

Mức đảm nhiệm vốn lưu động là tỷ lệ giữa số vốn lưu động bình quân sử

dụng trong kỳ và doanh thu thuần đạt được trong kỳ.

Mức đảm nhiệm vốn lưu động được xác định như sau:

Mức đảm nhiệm

vốn lưu động



=



VLĐ

Doanh thu thuần đạt được trong kỳ



Phản ánh để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ cần bao nhiêu vốn lưu động.

Mức đảm nhiện vốn lưu động càng thấp bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn lưu

động càng cao bấy nhiêu.

 Mức tiết kiệm vốn lưu động ( VTK ) :

Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp

có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng

không đáng kể quy mô vốn lưu động.

Mức tiết kiệm vốn lưu động được xác định theo công thức:



Luận văn tốt nghiệp



- 15 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08

VTK =



M1



 ( K1 – K0 )



360



Hoặc

VTK



=



M1

L1



-



M1



=



L0



VLĐ1 -



M1

L0



Trong đó:

VTK



: Mức tiết kiệm vốn lưu động



VLĐ1 : Vốn lưu động bình quân kỳ kế hoạch.

K0, K1 : Lần lượt là kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo .

L0, L1 : Lần lượt là vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo

Phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn

lưu động ở kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo. (V TK < 0 : tiết kiệm vốn. V TK > 0 : lãng

phí vốn).

b> Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán:

 Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là tỷ lệ giữa tài sản lưu động và đầu

tư ngắn hạn với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả).

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được xác định như sau:

Hệ số khả năng

thanh toán nợ ngắn hạn



=



TSLĐ và ĐTNH

Tổng nợ ngắn hạn



Hệ số này cao thể hiện khả năng sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn

của doanh nghiệp ở mức độ cao và ngược lại.

 Hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là tỷ lệ giữa hiệu của tài sản lưu động và vốn

vật tư hàng hoá, với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả).

Hệ số khả năng thanh toán nhanh được xác định như sau:

Hệ số khả năng

thanh toán nhanh



Luận văn tốt nghiệp



=



TSLĐ - Vốn vật tư hàng hoá

Tổng nợ ngắn hạn



- 16 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ trong một thời

gian ngắn, không dựa vào việc bán vật tư hàng hóa, là một đặc trưng tài chính quan

trọng của doanh nghiệp. Độ lớn hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và

kỳ hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kỳ.

 Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời là tỷ lệ giữa tiền và các khoản tương đương

tiền, với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả).

Hệ số khả năng thanh toán nhanh được xác định như sau:

Hệ số khả năng

thanh toán tức thời



=



Tiền + Các khoản tương đương tiền

Tổng nợ ngắn hạn



Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán ngay các

khoản nợ bằng tiền và chứng khốn ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền.

c> Các chỉ tiêu hệ số hoạt động kinh doanh:

 Số vòng quay hàng tồn kho:

Số vòng quay hàng tồn kho là tỷ lệ giữa Tổng giá vốn hàng bán và Hàng tồn

kho bình qn

Số vòng quay hàng tồn kho được xác địnhnhư sau:

Số vòng quay hàng tồn kho



=



Tổng giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình qn



Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân

luân chuyển trong kỳ. Hệ số này cao làm cho doanh nghiệp củng cố lòng tin vào

khả năng thanh tốn. Ngược lại, hệ số này thấp có nghĩa là doanh nghiệp bị ứ đọng

vật tư, hàng hóa vì dự trữ quá mức hoặc sản phẩm tiêu thụ chậm.

 Số ngày một vòng quay hàng tồn kho:

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho là tỷ lệ giữa số ngày trong kỳ (thường

là 360 ngày) và số vòng quay hàng tồn kho.

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho được xác định như sau:



Luận văn tốt nghiệp



- 17 -



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Số ngày một vòng



=



quay hàng tồn kho



Số ngày trong kỳ ( 360 )

Số vòng quay hàng tồn kho



Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một

vòng quay hàng tồn kho.

 Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu là tỷ lệ giữa doanh thu bán hàng (có thuế) và số

dư bình qn các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu được xác định như sau:

Vòng quay các

khoản phải thu



=



Doanh thu bán hàng (có thuế)

Số dư bình quân các khoản phải thu



Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ thu hồi các khoản phải thu của

doanh nghiệp.

 Kỳ thu tiền trung bình:

Kỳ thu tiền trung bình là tỷ lệ gữa số ngày trong kỳ (360) và số vòng quay các

khoản phải thu

Kỳ thu tiền trung bình được xác định như sau:

Kỳ thu tiền trung bình



Số ngày trong kỳ (360)



=



Số vòng quay các khoản phải thu



Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu.

c> Chỉ tiêu hệ số sinh lời:

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế (sau thuế) vốn lưu động là tỷ lệ giữa lợi nhuận

trước thuế (sau thuế) với số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ của doanh

nghiệp. Lợi nhuận ở đây là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của

doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế (sau thuế) vốn lưu động được xác định như sau:

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế

(sau thuế) vốn lưu động



Luận văn tốt nghiệp



=



Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)

Vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ



- 18 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhu cầu vốn lưu động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x