Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



- Vốn lưu động chu chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vào giá trị sản phẩm

và được hoàn lại toàn bộ sau doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung ứng

được dịch vụ, thu được tiền bán hàng về.

- Vốn lưu động tuần hồn liên tục và hồn thành một vòng tuần hồn sau một chu

kỳ sản xuất.

Từ khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động ta có nội dung quản lý đối với

vốn lưu động như sau:

- Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vào giá trị sản phẩm

và được hòan lại tồn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung

ứng dịch vụ, thu tiền bán hàng về. Do vậy nhiệm vụ công tác quản lý của vốn lưu

động là phải thu hồi lại lượng vốn lưu động đó. Ngay khi có tiền thu bán hàng về ở

cuối kỳ phải trích ngay một lượng vốn để tái lập vốn lưu động ban đầu đảm bảo sức

mua, đảm bảo cho chu kỳ sản xuất tiếp theo.

- Do vốn lưu động tuần hoàn liên tục và hồn thành một vòng tuần hồn sau một

chu kỳ sản xuất. Nên trong quản lý vốn lưu động phải tổ chức đảm bảo vốn lưu

động sao cho vốn lưu động tồn tại ở tất cả các hình thái một cách hợp lý, đảm bảo

sự đồng bộ và cân đối tạo điều kiện cho vốn lưu động chu chuyển nhịp nhàng. Đây

là công tác tổ chức quản lý hết sức quan trọng đã được nâng lên tầm nghệ thuận

quản lý.

- Không những quản lý về công tác tổ chức đảm bảo vốn lưu động mà còn đi sâu

quản lý trọng điểm vốn lưu động, xác định thành phần nào là thành phần vốn chủ

yếu của vốn lưu động nhằm đưa ra biện pháp quản lý phù hợp cho mỗi thành phần

đó nhằm nâng cao tốc độ chu chuyển vốn lưu động.

1.1.2. Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp

1.1.2.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động

Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn lưu động, vốn lưu động được chia

thành :

- Vốn vật tư hàng hóa: Là các khoản vốn lưu động có hình thái vật chất biểu hiện

bằng hiện vật. Đối với doanh nghiệp sản xuất thì vốn vật tư hàng hóa là hàng tồn

kho như nguyên liệu, nhiên liệu, công cụ dụng cụ; sản phẩm sản xuất dở dang, bán

thành phẩm; thành phẩm. Đối với doanh nghiệp thương mại thì Vốn vật tư hàng hóa

chủ yếu là hàng hóa dự trữ phục vụ cho việc bán ra.



Luận văn tốt nghiệp



-4-



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: Là những khoản vốn lưu động biểu hiện

bằng tiền như: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền Séc, tiền đang chuyển các

khoản phải thu (chủ yếu khoản phải thu từ khách hàng; các khoản thu tạm ứng).

Cách phân loại này giúp người quản lý xem xét, đánh giá được cơ cấu vốn lưu

động theo hình biểu hiện, xem xét đánh giá cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp

xem đã hợp lý hay chưa, xem tỷ trọng vốn vật tư hàng hóa và vốn bằng tiền lớn hay

nhỏ áp dụng vào doanh nghiệp mình: Đối với doanh nghiệp sản xuất thường thì tỷ

trọng vốn vật tư hàng hóa lớn, còn đối với doanh nghiệp thương mại tỷ trọng vốn

vật tư hàng hóa là nhỏ. Mặt khác cách phân loại này còn giúp nhà quản lý biết được

tác dụng của từng bộ phận vốn. Giúp đảm bảo vật tư cho quá trình hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp tiến hành liên tục, góp phần sản xuất tiết kiệm đảm bảo

hiệu quả kinh doanh.

1.1.2.2. Phân loại vốn lưu động theo vai trò

Căn cứ vào vai trò của vốn lưu động trong q trình sản xuất kinh doanh,

vốn lưu động có thể được chia làm ba loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất kinh doanh (vốn lưu động dự trữ): đây là

bộ phận vốn lưu động cần thiết nhằm thiết lập nên các khoản dự trữ về vật tư hàng

hóa đảm bảo cho q trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành một

cách thường xuyên, liên tục, bao gồm: giá trị của các loại nguyên, nhiên, vật liệu,

phụ tùng thay thế, các công cụ lao động nhỏ,..

- Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất: là số vốn lưu động dự trữ kể từ khi

xuất vật tư dùng vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm hồn chỉnh. Thuộc vốn lưu

động sản xuất có các bộ phận: các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm

tự chế, các khoản chi phí trả trước.

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông : Là số vốn lưu động chiếm dụng kể từ khi Sản

phẩm nhập kho tới khi tiêu thụ được Sản phẩm và thu được tiền bán hàng về. Bao

gồm các bộ phận : các khoản vốn bằng tiền; các khoản giá trị của thành phẩm chờ

tiêu thụ; các khoản vốn trong thanh toán; các khoản vốn đầu tư ngắn hạn; các khoản

thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.

Cách phân loại này giúp cho người quản lý biết được kết cấu vốn lưu động

theo vai trò của từng loại vốn, thấy được mức độ đầu tư vốn lưu động vào các giai



Luận văn tốt nghiệp



-5-



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



đoạn quá trình sản xuất hợp lý hay khơng, để có định hướng điều chỉnh kịp thời.

Thêm vào đó nó giúp cho người quản lý biết được vai trò của từng bộ phận vốn lưu

động đối với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; giúp cho việc xác

định cơ cấu vốn lưu động cho từng khoản mục, từng khâu kinh doanh; là cơ sở để

xác định tính chất đặc thù về cơ cấu vốn của mỗi ngành; là cơ sở để xác định nhu

cầu vốn lưu động theo phương pháp trực tiếp.

1.2 . Tổ chức đảm bảo vốn lưu động trong doanh nghiệp.

1.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.2.1.1 Chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.



 Khái niệm:

Hoạt động của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên hằng ngày, từ ứng vốn

tiền tệ hình thành nên dữ trữ vật tư sản xuất, đến xuất dùng vật tư cho sản xuất, sản

xuất, bán sản phẩm hàng hố và thu tiền bán hàng. Q trình diễn ra này tạo ra chu

kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp: là thời gian trung bình cần thiết để

thực hiện việc mua sắm vật tư hàng hoá cần thiết dự trữ cho sản xuất, sản xuất ra

Sản phẩm và tiêu thụ Sản phẩm thu được tiền bán hàng về.

Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành ba giai đoạn:

-



Giai đoạn một: Mua sắm dự trữ vật tư, hàng hoá.



Giai đoạn này hoạt động của doanh nghiệp phát sinh luồng vật tư đi vào doanh

nghiệp: nếu doanh nghiệp trả tiền ngay thì sẽ có các luồng tiền gắn liền và ngược

chiều với luồng vật tư đi vào; nếu doanh nghiệp thực hiện tín dụng của người cung

ứng thì một thời gian sau khi có các luồng đi vào doanh nghiệp mới xuất hiện một

lượng tiền đi ra khỏi doanh nghiệp làm xuất hiện Nợ phải trả nhà cung cấp.

-



Giai đoạn hai: Sản xuất.



Giai đoạn này vốn lưu động chuyển từ hình thái hiện vật này (vật tư) sang hình

thái khác (sản phẩm dở dang, thành phẩm). Để thực hiện quá trình này doanh

nghiệp phải ứng ra một lượng vốn lưu động nhất định trả cho dịch vụ th ngồi

( như lương cơng nhân, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại,…).

-



Giai đoạn ba: bán sản phẩm và thu tiền bán hàng .



Luận văn tốt nghiệp



-6-



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



Nếu doanh nghiệp bán mà thu tiền ngay thì đồng thời với sự vận động của sản

phẩm hàng hố ra khỏi doanh nghiệp thì cũng có sự vận động ngược chiều là dòng

tiền đi vào doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng thì khi đó

mặc dù sản phẩm hàng hoá đã xuất ra rồi nhưng phải sau một thời gian nhất định

doanh nghiệp mới thu được tiền, và chỉ khi nào doanh nghiệp thu được tiền bán

hàng đó thì doanh nghiệp mới thu hồi được số vốn lưu động đã ứng ra, nếu chưa thu

hồi được thì một bộ phận vốn lưu động chưa thực hiện được một vòng tuần hồn,

làm xuất hiện các khoản nợ phải thu từ khách hàng.

Như vậy trong chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh nhu cầu

vốn lưu động của doanh nghiệp.

Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp: là thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết

doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho

(vật tư các loại, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hoá) và khoản tiền khách

hàng nợ sau khi đã sử dụng tín dụng của người cung ứng vật tư hàng hố.

Ta có công thức xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp như sau:

Nhu cầu vốn



u

độ



=



Mức dự trữ

hàng tồn kho



+



Các khoản nợ phải

thu từ khách hàng



-



Các khoản nợ phải

trả nhà cung cấp



ng



Căn cứ vào tính chất cũng như thời gian sử dụng vốn lưu động, người ta chia nhu

cầu vốn lưu động thành 2 loại:

- Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết: là nhu cầu vốn lưu động tính ra

phải đủ đảm bảo cho q trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục, nhưng

đồng thời phải thực hiện được nguyên tắc tiết kiệm một cách hợp lý. Nghĩa là tương

ứng với mỗi quy mô kinh doanh, với điều kiện về mua sắm dự trữ hàng hoá, vật tư

và tiêu thụ sản phẩm đã được xác định đòi hỏi doanh nghiệp thường xun phải có

một lượng vốn lưu động nhất định. Nhu cầu về vốn lưu động đó gọi là nhu cầu vốn

lưu động có tính chất thường xun.

- Nhu cầu vốn lưu động có tính chất tạm thời: trong quá trình hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp thường có thể phát sinh những nhu cầu cần thiết phải tăng thêm



Luận văn tốt nghiệp



-7-



Mai văn Việt



Lớp K39_11.08



dự trữ vật tư hàng hoá hoặc sản phẩm dở dang, như tăng thêm do tính chất thời vụ,

do nhận thêm đơn đặt hàng đột xuất, do biến động tăng giá vật tư, …Điều đó đòi

hỏi doanh nghiệp phải tăng thêm lượng vốn lưu động ứng vào cho quá trình hoạt

động kinh doanh .

 Doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết bởi vì:

- Xác định được nhu cầu vốn lưu động đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp đáp ứng

kịp thời đầy đủ vốn thường xuyên cần thiết cho yêu cầu hoạt động sản xuất kinh

doanh, giúp doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường liên tục.

- Xác định nhu cầu vốn lưu động đúng đắn là một trong những căn cứ để tổ chức tốt

những nguồn vốn tài trợ, xem xét đánh giá nên khai thác huy động vốn từ nguồn

nào cho có lợi.

- Đối với những doanh nghiệp nhà nước mới thành lập việc xác định vốn lưu động

thường xuyên cần thiết là căn cứ để nhà nước giao vốn cho những doanh nghiệp

này.



 Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp:

- Những yếu tố về tính chất ngành nghề kinh doanh và mức độ hoạt động của doanh

nghiệp:

+ Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ: nhân tố này tác

động thuận chiều tới nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

+ Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp: chu kỳ kinh doanh càng dài nhu cầu

vốn lưu động thường xuyên cần thiết càng lớn.

+ Tính chất thời vụ: khi chưa đến vụ thì nhu cầu vốn lưu động chỉ ở mức tối

thiểu cần thiết ở mức thấp nhất đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra bình

thường, khi thời vụ đến thì huy động vốn lưu động tạm thời.

+ Sự thay đổi khoa hoc công nghệ: khi doanh nghiệp trang bị tài sản cố định

càng hiện đại thì nhu cầu vốn lưu động sẽ càng giảm.

- Những yếu tố mua sắm vật tư, hàng hoá:

+ Giá cả vật tư hàng hoá: Giá vật tư tăng sẽ gia tăng nhu cầu vốn lưu động

thường xuyên cần thiết.

+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng vật tư hàng hoá: nếu khoảng

cách đó là xa thì thường số lần cung ứng ít và lượng vật tư cung ứng mỗi lần



Luận văn tốt nghiệp



-8-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x