Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
chi thường xuyên của NSNN qua KBNN Sầm Sơn.

chi thường xuyên của NSNN qua KBNN Sầm Sơn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

việc điều hoà tiền mặt để cung cấp đầy đủ kịp thời cho nhu cầu chi tiêu

thường xuyên của các đơn vị. Khi thực hiện việc kiểm soát chi đã kéo gần lại

sự chênh lệch số thực rút NS với số thực chi của đơn vị có điều kiện ngăn

chặn hiện tượng chạy dồn kinh phí cuối năm, cuối quỹ đồng thời góp phần

quản lý phương tiện thanh tốn, tăng cường sử dụng các hình thức thanh tốn

khơng dùng tiền mặt, thanh toán trực tiếp đến người cung cấp hàng hố dịch

vụ, từ đó làm lành mạnh hố hoạt động tiền tệ – thanh toán.

+ Đối với các khoản chi thường xuyên:

Như phần trên đã phân tích, thi thường xuyên chiếm tỷ trọng cao nhất

trong tổng số chi NSNN trên địa bàn.

Hầu hết các khoản chi cho đơn vị hành chính sự nghiệp được cấp thốt

bf phương thức cấp phát, hạn mức kinh phí theo từng cấp. Chương, loại,

nhóm, tiến nhóm mục, tiến mục cho các đơn vị chủ quản (Bộ, Sở) hay gọi là

đơn vị dự toán cấp 1 của NSNN.

Tiền lương, các khoản có tính chất lương, học bổng, sinh hoạt phí

chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách chi hạn mức kinh phí. Tuy vậy, từ

khi KBNN thực hiện kiểm soát chi khoản chi này đã được kiểm soát chặt chẽ.

Trước đây đối với khoản chi này, chỉ cần có kế hoạch tiền mặt được duyệt thì

kế tốn viên phải thực hiện xuất quỹ ngân sách, hiện nay hàng tháng, KBNN

chỉ chi tối đa bằng tổng quỹ lương, học bổng, sinh hoạt phí do cơ quan có

thẩm quyền phê duyệt và đã đăng ký tại các đơn vị KBNN.

Vậy ta thấy kết quả lớn nhất ở đây là KBNN Sầm Sơn không phải bận

rộn công việc cung ứng lần tiền mặt cho các đơn vị sử dụng NSNN rút về dự

tữ để chi tiêu dần như trước.

Đối với các khoản mua sắm dụng cụ, phương tiện làm việc, sửa chữa

TSCĐ KBNN Sầm Sơn tiến hành kiểm tra dự toán: hợp đồng mua bán, phiếu

báo giá của đơn vị cung cấp hàng hố dịch vụ, hóa đơn bán hàng... trước khi

xuất quỹ cho đơn vị thụ hưởng, với những khoản chi có giá trị lớn KBNN còn

kiểm tra cả hồ sơ biên bản đấu thầu. Toàn bộ số hạn mức kinh phí còn lại đến

SV: Ngơ Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



hết ngày 31/12 KBNN đều tiến hành huỷ bỏ trừ các trường hợp đặc biệt do cơ

quan tài chính được phép chuyển sang quý I năm sau để chi.

Đối với các cơ quan Đảng, Đoàn thể, Hội quần chúng, lực lượng vũ

trang được cơ quan tài chính cấp phát chủ yếu bằng lệnh chi tiền căn cứ vào

lệnh chi tiền, KBNN kiểm tra tính chất pháp lý của lệnh chi tiền và xuất quỹ

ngân sách đưa vào tài khoản tiền gửi của đơn vị mở tại KBNN, khi đơn vị thụ

hưởng có nhu cầu chi tiêu, đơn vị sẽ xin rút tiền mặt hoặc chuyển khoản từ tài

khoản tiền gửi của mình. Lúc này KBNN kiểm tra tính chất pháp lý của các

thủ tục chuyển khoản hay rút tiền mặt như mẫu dấu, chữ ký của người có

thẩm quyền đã đăng ký tại KBNN.

Đối với các khoản chi trả tiền thông tin, tuyên truyền liên lạc, dịch vụ

cơng cộng, KBNN đã tiến hành kiểm tra, kiểm sốt chứng từ, hồ sơ và điều

kiện chi theo quy định và thanh toán trực tiếp cho đơn vị cung cấp hàng hố.

+ Đối với đơn vị sử dụng kinh phí thường xuyên của NSNN:

KBNN Sầm Sơn thực hiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN đến

từng mục chi. Bước đầu đã sớm nắm các đơn vị thụ hưởng NSNN đi vào nề

nếp. Luật NSNN đã từng bước đi vào cuộc sống và làm thay đổi cách quản lý

quỹ NSNN của các đơn vị sử dụng NSNN. Các đơn vị luôn quan tâm đến sự

chi tiêu của mình theo đúng dự tốn chế độ, định mức, tiêu chuẩn của Nhà

nước trước khi ra lệnh chuẩn bị NSNN, là người chịu trách nhiệm đầy đủ và

sự chi tiêu của mình trước Nhà nước. Q trình kiểm sốt thanh tốn các

khoản chi ngân sách của hệ thống KBNN đơn vị đã chủ động và an tâm hơn

đối với những khoản chi đã được chấp nhận thanh toán.

+ Đối với NSNN:

Thực hiện nhiệm vụ kiểm sốt chi NSNN vốn NSNN khơng lãng phí

như trước, tồn quỹ NSNN ít bị phân tán và tồn đọng ở các đơn vị trong khi

ngân sách lại không đủ điều kiện thực hiện những nhiệm vụ chi tiêu khác phải

đi vay, rồi trả lại.. Đồng thời các khoản chi thường xuyên NSNN được rút ra

KBNN (khỏi quỹ NSNN) dù tạm ứng hay thực chi đều có mục tiêu rõ ràng,

SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



đều được xác định về định lượng và định tính, được cơ quan KBNN thay mặt

đối với đơn vị sử dụng NSNN thanh toán trực tiếp đến người cung cấp hàng

hoá, lao vụ hoặc người nhận thầu.

Mặt khác thơng qua kiểm sốt chi thường xun phát hiện được nguồn

thu NSNN. Góp phần vào cơng cuộc đổi mới kinh tế đất nước, góp phần

thắng lợi vào công cuộc xây dựng CNH – HĐH đất nước.

3.1.2. Những tồn tại trong cơng tác kiểm sốt chi thường xưn NSNN qua

KBNN Sầm Sơn.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong q trình kiểm sốt chi

theo luật, KBNN Sầm Sơn còn một số vướng mắc và tồn tại:

Thứ nhất, KBNN phải kiểm tra, đối chiếu các khoản chi với các cơ

quan được duyệt. Nhưng thực ra KBNN không được tham gia với các cơ quan

khác trong việc lập dự tốn chi NSNN. Mặt khác kế hoạch chi NSNN khơng

được lập chi tiết cho từng loại chi, từng đơn vị thụ hưởng nên khơng biết

những khoản chi phí nào nên duy trì, khoản chi phí nào tăng lên và cắt giảm

so với năm trước. Chính vì vậy khi cơ quan chủ quản làm nhiệm vụ phân khai

kế hoạch đến từng đơn vị sử dụng đã gặp nhiều khó khăn và ln trong tình

trạng bị ứ đọng. Đến lượt cơ quan sử dụng vốn ngân sách bị đọng trong việc

chi tiêu, có khoản cần chi nhiều hơn so với dự tốn được duyệt, có khoản thì

có trong dự tốn nhưng lại khơng chi hết. Vì vậy các đơn vị đã dchr các khoản

chi như trên được Bộ Tài chính cho phép nên bắt buộc các đơn vị KBNN phải

làm, không thể từ chối được. Như vậy do công tác lập dự tốn khơng tn

theo đúng quy trình mà KBNN phải tăng thêm công việc. Là đơn vị không

tham gia xây dựng dự toán chi NSNN làm nhưng vẫn phải theo dõi, kiểm tra

các khoản chi có trong dự tốn được duyệt. Nếu Sở tài chính vật giá sau khi

xây dựng dự tốn được duyệt mà khơng có gì đáng nói. Vì vậy để kiểm tra

được điều kiện có trong dự tốn các đơn vị KBNN phải xin bản dự toán được

phân bổ của các đơn vị thụ hưởng.



SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



Thơng thường thì bản dự tốn của các đơn vị thụ hưởng không khớp

về mục chi so với dự tốn của cơ quan tài chính cho nên khi quyết toán các

đơn vị KBNN phải tiến hành điều chỉnh lại cho đúng.

Thứ hai, Tồn tại về điều kiện dự toán chi NSNN được duyệt: Vấn đề

tồn tại lớn nhất hiện nay là dự toán của các đơn vị sử dụng ngân sách được

duyệt rất chậm, dự toán ban đầu các đơn vị lập không sát thực tế, chưa áp

dụng các chế độ, tiêu chuẩn, định mức làm căn cứ tính tốn, vì vậy dự tốn

được duyệt khơng đảm bảo làm căn cứ cấp phát, thanh toán. Việc thực hiện

cấp phát kinh phí của cơ quan gtài chính cho các đơn vị sử dụng ngân sách

chưa theo đúng dự toán được duyệt, về mặt thời gian xin rút tiền mặt hoặc

chuyển khoản từ tài khoản gửi của mình. Lúc này KBNN kiểm tra tính chất

pháp lý của các thủ tục chuyển khoản hay rút tiền mặt như mẫu dấu, chữ ký

của người có thẩm quyền đã đăng ký tại KBNN.

Thứ ba, Một số mục chi thông tư số 40/1998/KT/BTC về hướng dẫn

chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN. Cơ

quan KB chỉ kiểm tra trên bảng kê chứng từ thanh toán của đơn vị. Nội hàm

của bảng kê không thể thay thế chứng từ, bảng kê không chứa đầy đủ các

thông tin để Kho bạc Nhà nước căn cứ vào đó kiểm sốt các điều kiện về định

mức, tiêu chuẩn, chế độ, chính vì vậy việc kiểm soát trên bảng kê chỉ là thủ

tục hành chính khơng cần thiết làm rườm rà thêm các thủ tục về chi ngân

sách, xét đến cùng thực chất của sự kiểm sốt qua bảng kê chứng từ chính là

sự chối bỏ nhiệm vụ kiểm soát hết sức quan trọng mà Chính phủ giao cho

ngành KBNN đó là người chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát các khoản chi

NSNN bảo đảm phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức. Mặt khác một số

khoản chi như mua sắm tài sản, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ... KBNN mới chỉ

được phép kiểm tra trên các hợp đồng mua bán, hoá đơn, phiếu báo giá... mà

thôi. Nhưng trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán rất đa dạng và phong

phú nên đường, hoá đoan, phiếu báo giá chưa phải là căn cứ, cơ sở chính xác

chứng minh cho việc thực tế chi tiêu của đơn vị.

SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



Nhất là hiện nay hố đơn mua hàng đều khơng phải là hố đơn đỏ do

Bộ Tài chính ban hành. Cũng có những đơn vị khi mua bán chỉ viết hố đơn

tay, nhất là mua hàng của nơng dân, khơng đủ giá trị pháp lý để thanh toán

nhưng vẫn được thanh tốn. Ngồi ra do giá cả trên thị trường mỗi nơi mỗi

khác, mà Nhà nước thì chưa thể ban hành giá thống nhất cho tất cả các mặt

hàng, cho nên có nhiều đơn vị khi mua hàng hố, dịch vụ ghi hoá đơn cao hơn

giá thực tế và bằng những thủ thuật chỉ ghi phần thanh toán với đơn vị, còn

phần có cơ quan thuế quản lý thì lại ghi thấp hơn so với giá thực tế. Số tiền

chênh lệch trên chắc chắn các đơn vị, cá nhân bỏ túi dùng riêng. Và dù có biết

rằng còn rất nhiều sơ hở như trên, KBNN vẫn phải thanh toán cho đơn vị.

Thứ tư, Thẩm quyền của ngành tài chính chồng chéo ở phương diện

nào đã giảm hiệu lực về kiểm soát chi của KBNN. Khi thực hiện kiểm soát

chi trong q trình thanh tốn ngân sách, Kho bạc từ chối những khoản chi

khơng đúng dự tốn chế độ, tiêu chuẩn định mức, nhưng nếu cơ quan tài

chính chấp nhận vẫn được quyết toán. Trái lại, những khoản KBNN đã chấp

nhận thanh toán, hạch toán vào ngân sách cơ quan tài chính khơng đồng ý thì

đơn vị khơng được quyết tốn.

Thứ năm, Đội ngũ cán bộ kiểm sốt chi trình độ còn hạn chế, chưa

tinh thơng nghề nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác nghiệp

vụ kinh doanh chi.

Thứ sáu, Với khoản chi lương và mang tính chất lượng: chi lương

hiện nay về việc quản lý quỹ tiền lương tuy đã được tiến hành kiểm tra, kiểm

soát chặt chẽ qua chi trả trực tiếp đến từng đối tượng thụ hưởng, nhưng vẫn

còn một số đơn vị khi được duyệt quỹ lương do được tăng biên chế, tăng

lương, nâng bậc thì u cầu KBNN điều chỉnh, trong khi đó nếu giảm quỹ

lương thì lại thơng báo cho cơ quan Kho bạc Nhà nước biết để điều chỉnh

giảm. Một số đơn vị phụ cấp ca ba, độc hại, phẫu thuật... là những khoản cố

định nhưng tài chính lại cấp, kế hoạch tiền lương không duyệt những khoản

phụ cấp này mà thường duyệt riêng cho từng thời điểm nên KBNN thiếu căn

SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



cứ chi trả, kế hoạch tiền lương phải lập ngay từ đầu năm, phải gửi cho KBNN

làm căn cứ chi trả nhưng có nhiều nguyên nhân, có nơi gửi sớm, có nơi gửi

muộn, do vậy KBNN phải chi theo số kế hoạch năm trước, nên hiện tượng

thừa thiếu lương do kế hoạch thay đổi để xảy ra việc theo dõi chi trả thực hiện

thiếu căn cứ đối chiếu, kiểm tra do việc vào số liệu chưa thống nhất, mặc dù

chưa được duyệt kế hoạch chi lương mới, nhưng có đơn vị đã lấy khoản chi

khác để truy lĩnh lương trước hàng tháng, nguồn chi này lấy chi cho nguồn

chi khác gây xáo trộn trong tổ chức chi trả và tiền lương thất thoát xảy ra là

điều dĩ nhiên. Cũng có trường hợp cơ quan tài chính do tinh thần làm việc

thiếu trách nhiệm đã lập thơng báo hạn mức kinh phí khơng đủ đơn vị chi

lương cho cán bộ cơng đồn nhân viên cuối tháng, từ đó đã làm cho KBNN

khó khăn trong việc chi trả.

Thứ bảy, Do cơ chế quản lý đang trong thời kỳ hoàn thiện và sửa đổi

cho nên căn cứ để thực hiện việc kiểm sốt chi cũng còn có những điểm bất

cập cần phải hồn thiện: Phân ơng trách nhiệm giữa các cơ quan trong cơng

tác kiểm sốt chi, về hệ thống tiêu chuẩn, định mức, về lập dự toán...

3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại.



Nhng tn ti trờn õy do rất nhiều nguyên nhân, nhưng có những

nguyên nhân cơ bản sau:

- Hệ thống pháp luật về ngân sách Nhà nước hiện hành tuy đã có nhiều

sửa đổi, bsu nhưng vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chắp vá khơng đồng bộ.

Có nhiều văn bản sửa đổi, bổ xung. Chính vì vậy mà các cơ quan tài chính,

KBNN, cơ quan chủ quản và đơn vị thụ hưởng đều cảm thấy lúng túng khi thi

hành những quy định của Nhà nước về quản lý, cấp phát, kiểm soát chi

NSNN.

- Hệ thống tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu quá xa rời thực tế, khơng có cơ

sở thực hiện. Do đó làm cho người thi hành phải khai gian, nói dối để có đủ

kinh phí chi tiêu, làm cho việc kiểm sốt chi của KBNN thêm khó khăn.



SV: Ngơ Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



- Nhận thức của các ngành, các cấp về công tác kiểm soát chi của

NSNN chưa nhiều nên gây cản trở cho KBNN khi thực hiện nhiệm vụ kiểm

soát chi NSNN.

- Do ở nước ta hình thức thanh tốn bằng tiền mặt vẫn là hình thức chủ

yếu và số cá nhân mở tài khoản, cá nhân tại ngân hàng của Kho bạc Nhà nước

vẫn chưa nhiều nên trong công tác kiểm soát chi NSNN các đơn vị KBNN

vẫn phải chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt cho các đơn vị thụ hưởng để đơn

vị thụ hưởng tự thanh toán với đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ.



3.2. Một số giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác kiểm sốt chi thường

xuyên của NSNN qua KBNN Sầm Sơn.

3.2.1. Một số giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác kiểm sốt chi thường

xun NSNN qua KBNN nói chung.

Với mục tiêu từng bước mở rộng phạm vi kiểm soát chi theo hướng

tăng cường kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước chỉ thanh

tốn các khoản chi phí hợp lệ, đúng chế độ, đúng dự toán được duyệt, thực

hiện thanh toán chuyển khoản, hạn chế mức thấp nhất việc chi bằng tiền mặt

và căn cứ vào nội dung kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước đã đề cập ở phần

trước trong những năm trước mắt, việc đổi mới và hồn thiện cơng tác kiểm

soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn cần tập trung

giải quyết những vấn đề sau:

3.2.1.1. Kiểm soát chặt chẽ các điều kiện cấp phát thanh toán.

Việc kiểm soát điều kiện cấp phát là việc kiểm sốt 4 điều kiện: đã có

trong dự tốn chi Ngân sách Nhà nước năm được duyệt; đúng chế độ tiêu

chuẩn, định mức chi tiêu Ngân sách Nhà nước do Chính phủ hoặc cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền quy định: Đã được cơ quan Tài chính hoặc thủ

trưởng đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước hoặc người uỷ quyền

chuẩn chi: Có đầy đủ các chứng từ liên quan.

* Về điều kiện có trong dự tốn được duyệt:



SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn có ý kiến để cơ quan Tài chính, các Bộ,

Sở, Ngành và các đơn vị có thẩm quyền cần xây dựng và phê duyệt dự toán

chi cho các đơn vị ngay từ đầu năm chậm nhất là đầu quý hai hàng năm,

trường hợp đến ngày 01/04 đơn vị nào chưa có dự tốn được cấp có thẩm

quyền phê duyệt, Kho bạc Nhà nước sẽ đình chỉ việc cấp phát các khoản chi

cho đơn vị, trừ lương và các khoản có tính chất lương. Dự tốn chi Ngân sách

được lập phải sát với thực tế chi tiêu tại đơn vị.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra với Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn nói riêng và

các đơn vị Kho bạc Nhà nước nói chung có cần kiểm tra điều kiện có trong dự

tốn được duyệt hay khơng. Đối với biện pháp kinh doanh điều kiện dự toán

được duyệt cơ quan tài chính căn cứ dự tốn được duyệt để cấp thơng báo hạn

mức kinh phí cho đơn vị sử dụng ngân sách, nói cách khác cơ quan Tài chính

trước khi cấp thơng báo hạn mức phí Nhà nước tiếp nhận thơng báo hạn mức

kinh phí của cơ quan Tài chính giữa số liệu trong thơng báo HMKP mà cơ

quan Tài chính cấp có trong thực chất của sự kiểm sốt đó ld Kho bạc Nhà

nước kiểm tra việc cơ quan Tài chính cấp HMKP trên cơ sở dự tốn được

duyệt hay khơng. Vấn đề phương pháp kiểm sốt khoản chi có trong dự tốn

được duyệt hay khơng một cách khoa học, có hiệu quả hơn và để tránh trùng

lặp, tốn kém khơng cần thiết.

Theo tơi cần nhìn nhận lại phương pháp kiểm sốt điều kiện có trong

dự tốn được duyệt theo hướng:

- Cơ quan Tài chính còn cấp hạn mức kinh phí có nghĩa là cơ quan Tài

chính là người chịu trách nhiệm kiểm sốt điều kiện có trong dự toán được

duyệt tại đầu dự chi, thực hiện nhiệm vụ kiểm soát trước (tiền kiểm) để khống

chế mức chi tiêu trên bình diện định lượng, định tính, Kho bạc Nhà nước là

người chịu trách nhiệm kiểm soát điều kiện có trong dự tốn trong giai đoạn

hậu kiểm (sau khi đơn vị đã chi tiêu) qua việc Kho bạc định vị được nội dung

mục lục ngân sách của khoản chi đã được chủ ngân sách chuẩn chi khi thanh

toán những khoản chi tieeu qua Kho bạc Nhà nước.

SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



- Tiến dần tới việc các cơ quan có thẩm quyền phân bổ và phê duyệt

dự tốn ngân sách năm cho từng đơn vị sử dụng ngân sách chi tiết tới từng nội

dung chi, cơ quan tài chính khơng phải lập thơng báo hạn mức kinh phí Kho

Nhà nước là cơ quan tài chính chuyên ngành duy nhất thực hiện chức năng

kiểm soát đầy đủ điều kiện dự toán được duyệt đối với tất cả các khoản chi

ngân sách cả trước lẫn trong và sau khi chủ ngân sách chuẩn chi.

* Về điều kiện được chuẩn chi:

Kiểm soát điều kiện được chuẩn chi là việc kiểm tra tư cách của người

chuẩn chi, kiểm tra mẫu dấu, chữ ký của thủ trưởng đơn vị quyết định chuẩn

chi, kiểm tra nội dung chi và hồ sơ chứng từ xem có đúng quy định khơng.

- Hiện nay kiểm sốt điều kiện được chuẩn chi thực chất mới chỉ dừng

lại ở việc kiểm tra mẫu dấu, chữ ký trên chứng từ, là công việc liên quan đến

giấy tờ. Do vậy kiểm soát điều kiện này ở Kho bạc Nhà nước chưa nâng cao

hiệu quả cơng tác kiểm sốt chi. Ở Sầm Sơn quy mô các đơn vị thụ hưởng

Ngân sách Nhà nước khơng lớn, đội ngũ cán bộ Kho bạc còn mỏng, Kho bạc

Nhà nước Sầm Sơn có thể phối hợp với các cấp có thẩm quyền để phân loại

các đơn vị thụ hưởng Ngân sách theo tính chất hoạt động hoặc theo địa bàn.

Trên cơ sở phân loại đó có thể bố trí cán bộ làm cơng tác kiểm tra lệnh chuẩn

chi của đơn vị. Các cán bộ này phải có tinh thần trách nhiệm với cơng việc,

nắm vững pháp luật, hiểu biết về tình hình thực tế, về tính chất hoạt động, nhu

cầu và đạo của Kho bạc Nhà nước và phải xem xét kỹ nội dung chi tiêu của

từng khoản chi. Chỉ khi các lệnh chi có đủ chữ ký của thủ trưởng đơn vị thụ

hưởng Ngân sách và của cán bộ Kho bạc thì các thủ tục thanh tốn cấp phát

đối với các khoản chi đó mới được tiếp tục thực hiện. Kho bạc Nhà nước cũng

nên bố trí người kiểm tra hoạt động của các cán bộ này, có chế độ thưởng phạt

cụ thể về hành chính và tài chính dựa trên số kinh phí mà cán bộ đó tham gia

chuẩn chi.

* Về điều kiện có đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan.



SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



Trong điều kiện trước mắt, khi hệ thống tiêu chuẩn, định mức chi tiêu

chưa hồn chỉnh thì chỉ những khoản chi có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên

mới có quy định đấu thầu. Vì vậy đối với những khoản chi này các đơn vị thụ

hưởng chi tiêu đã tương đối sát với dự toán và đúng với thực tế. Trong khi đó

đối với những khoản chi chưa tới 100 triệu đồng thì hiện nay chưa phải thực

hiện đấu thầu (điều đó là hợp lý) nhưng hồ sơ, chứng từ của Nhà nước. Ngoài

một số mục mà Kho bạc Nhà nước có thể kiểm sốt đến chứng từ đó là các

khoản chi sửa chữa lớn, mua sắm tài sản, tiền lương còn các khoản chi khác

chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu của đơn vị cũng như trong tỷ trọng chi Ngân

sách Nhà nước thì Kho bạc Nhà nước chỉ kiểm soát trên bảng kê chứng từ của

đơn vị. Như thế Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn sẽ khơng thể xem xét tình hình

chi tiêu và tính chất pháp lý của từng khoản chi cũng như khơng thể xem xét

khoản chi đó có đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ hay không. Để hạn chế

được việc các đơn vị thụ hưởng cung cấp giấy báo giá của người cung cấp

hàng hoá, dịch vụ để làm một trong những căn cứ cấp phát thanh toán. Các

giấy báo giá sẽ được tiếp tục gửi cho cơ quan thuế để làm cơ sở tính thuế

doanh thu thuế lợi tức, thuế, cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Trong trường hợp đó

các chứng từ, hố đơn sẽ được ghi sát với thực tế phát sinh, có tác dụng ngăn

chặn những tiêu cực gây thất thốt kinh phí Ngân sách Nhà nước. Như vậy

muốn thực hiện sự kiểm soát điều kiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ một cách

thực chất, muốn vậy, Kho bạc Nhà nước phải thực hiện sự kiểm soát của

mình. Có thể xác định rõ nhất của cơng tác kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà

nước phụ thuộc chủ yếu vào kết quả của sự kiểm soát điều kiện này của Kho

bạc Nhà nước đến mức độ nào, vậy khơng thể dừng lại sự kiểm sốt như hiện

nay mà hệ thống Kho bạc Nhà nước cần tiếp tục triển khai phù hợp hơn.

Theo ý kiến tôi: Thứ nhất để tiết kiệm thời gian, thanh tốn đúng,

nhanh chóng cho khách hàng nên chia nhỏ các khoản chi để Kho bạc Nhà

nước kiểm soát trực tiếp trên các chứng từ chi Ngân sách Nhà nước. Thứ hai

là trực tiếp các đơn vị xin thanh toán phải mang chứng từ đến Kho bạc Nhà

SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



nước để Kho bạc Nhà nước kiểm soát trực tiếp trên chứng từ hoặc Kho bạc

Nhà nước phải trực tiếp đến đơn vị kiểm soát trên chứng từ chi Ngân sách

Nhà nước đối với đơn vị có nguồn chi lớn, xem xét đánh giá cụ thể rồi đưa ra

quyết định thanh toán khoản chi đó. Làm như vậy kiểm sốt chi Ngân sách

Nhà nước mới thực sự đạt chất lượng và có hiệu quả.

3.2.1.2. Về hình thức cấp phát thanh tốn các khoản chi ngân sách

Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn.

Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm xuất quỹ ngân sách Nhà nước để

chi trả cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển khoản. Kho bạc án Sầm

Sơn cần thực hiện chi trả trực tiếp đến tận tay người hưởng và hạn chế chi

bằng tiền mặt.

Việc chi trả trực tiếp cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ phải đảm

bảo nguyên tắc trả tiền sau khi việc cung cấp hàng hố, dịch vụ đã hồn

thành. Điều này đảm bảo tránh rủi ro có thể xảy ra trong q trình sử dụng

công quỹ, đồng thời thúc đẩy người cung cấp hàng hoá dịch vụ cung cấp theo

cam kết. Nguyên tắc này đòi hỏi đơn vị thụ hưởng ngân sách chỉ sau khi tiếp

nhận hàng hoá, dịch vụ mới làm thủ tục kèm chứng từ gốc chứng minh việc

chi tiêu đã được thực hiện và gửi chứng từ đến các đơn vị Kho bạc Nhà nước

để Kho bạc Nhà nước làm thủ tục trả tiền cho người cung cấp hàng hoá, dịch

vụ.

Khi nhận được lệnh chi trả do bộ phận chuẩn chi gửi đến, kế toán viên

sau khi kiểm tra lại tính hợp pháp của lệnh chi, kiểm tra tồn quỹ ngân sách

của các cấp có liên quan và tuỳ theo từng trường hợp mà thực hiện chi trả.

* Đối với khoản chi lương, phụ cấp lương, học bổng, sinh hoạt phí:

Khi các cơng chức đã mở tài khoản cá nhân tại Kho bạc Nhà nước

hoặc Ngân hàng thì Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn thực hiện chi trả tiền lương

trực tiếp cho từng người bằng cách chuyển tiền vào tài khoản cá nhân và

thông báo cho người được hưởng biết. Nếu tài khoản cá nhân được mở tại

Kho bạc Nhà nước Sầm Sơn thì số dư trên tài khoản cá nhân phải được hưởng

SV: Ngô Thị Hồng



Lớp: K39 – 01.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

chi thường xuyên của NSNN qua KBNN Sầm Sơn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×