Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những căn cứ để tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học.

Những căn cứ để tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



1.2. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GDĐH giai

đoạn 2001-2010.

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 –2010) của nước ta

đã nêu lên rõ các quan điểm phát triển chung là:

 Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực

hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho

một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết.

 Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và huy động mọi

nguồn lực.

Theo quan điểm này, phát triển GDĐH ở nước ta trong giai đoạn trước

mắt phải coi trọng vần đề chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, phải thu hút mạnh mẽ

các nguồn vốn đầu tư. Mặt khác trong tương lai chúng ta sẽ có những bước nhảy

vọt về kinh tế và cơng nghệ, do đó phải đặc biệt chú trọng vốn đầu tư cho việc

đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – cơng nghệ.

Trong q trình xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật đáp

ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH phải chú trọng đến kết cấu hạ tầng kinh

tế xã hội, trong đó có GDĐH để góp phần phát triển mạnh nguồn lực con người

với yêu cầu ngày càng cao. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết

hợp các nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế

xã hội nói chung, phát triển GDĐH nói riêng là tất yếu khách quan phù hợp với

điều kiện và hoàn cảnh đất nước.

GDĐH cần phát triển nhiều loại hình đào tạo, chú trọng phát triển loại

hình giáo dục ngồi cơng lập, đồng thời tăng cường vai trò chủ đạo của hệ thống

giáo dục cơng lập. Việc tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút mạnh mẽ và



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ngoài nước đầu tư cho GDĐH là rất quan

trọng.

Bên cạnh quan điểm trên, một số quan điểm chỉ đạo đối với phát triển

GDĐH cũng được chỉ ra trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đó là:

Thứ nhất, phát triển giáo dục-đào tạo nói chung và phát triển GDĐH nói

riêng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH,

là điều kiện cần thiết để phát huy nguồn nhân lực – yếu tố cơ bản để phát triển

xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Thực hiện quan điểm này, trong những năm trước mắt cần ưu tiên đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đào tạo lực

lượng lao động có trình độ đại học với cơ cấu ngành nghề thích hợp đáp ứng yêu

cầu cải biến cơ cấu lao động và cơ cấu ngành kinh tế.

Thứ hai, tăng ngân sách cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ phát triển

kinh tế.

Ngân sách Nhà nước được coi là nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho giáo dục

đào tạo, đặc biệt là đối với giáo dục phổ thông. Đối với GDĐH, Nhà nước sẽ tập

trung đầu tư bằng nhiều nguồn vốn cho xây dựng lại các đại học quốc gia, các

trường đại học trọng điểm. Mặt khác, các trường đại học, cao đằng phải tự thân

vận động, tăng cường mở rộng các nguồn vốn đầu tư bằng nhiều hoạt động

hướng tới đa dạng hố các kênh tạo nguồn.

Thứ ba, thực hiện cơng bằng trong GDĐH và tạo điều kiện phát triển tài

năng.

Trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế và xu thế hội nhập quốc tế, GDĐH

Việt Nam cần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này thể hiện

chủ yếu trong hai mặt: Thứ nhất, GDĐH có mục tiêu, giáo dục những con người



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



có lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội; Thứ hai, GDĐH phải tạo ra sự

bình đẳng về cơ hội học tập đại học cho mọi người. Chống lại khuynh hướng

thương mại trong GDĐH.

Có thể có nhiều cách thức để thực hiện công bằng xã hội trong GDĐH.

Một trong số đó là thực hiệu chính sách học phí kết hợp với chính sách hỗ trợ

sinh viên đặc biệt là những sinh viên nghèo hoặc sinh viên thuộc diện chính sách

xã hội thơng qua các chương trình cho vay, học bổng, trợ cấp.

Đa dạng hố các hình thức, phương thức đào tạo đại học nhằm vừa mở

rộng GDĐH, vừa tạo cơ hội cho mọi người lựa chọn con đường thích hợp nhất

cho riêng mình để có học vấn cao phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cũng là biện

pháp để thực hiện công bằng. Đi đôi với việc đa dạng hoá cần thống nhất quản lý

GDĐH theo tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng đạo tạo. Những người giỏi và tài

năng được xã hội và nhà trường khuyến khích học cao hơn, những cơ sở đào tạo

đại học có chất lượng cao, có uy tín và mạnh về cơ sở vật chất, trang thiết bị và

đội ngũ giảng viên được giao nhiệm vụ thực hiện những chức năng đầu tầu trong

hệ thống GDĐH.

Thứ tư, thực hiện xã hội hố giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức

đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng.

Cần tiếp tục phát triển các đại học dân lập phù hợp với định hướng của hệ

thống GDĐH, đồng thời phải đảm bảo cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên…

Trong thời đại ngày nay, công nghệ, kỹ thuật thường làm biến đổi rất mau lẹ,

người lao dộng muốn làm việc tốt cần phải thường xuyên cập nhật tri thức mới.

Hệ thống các trường đại học, cao đẳng phải quan tâm thích đáng đến nhiệm vụ

giáo dục thường xuyên. Trường đại học giữ vai trò là trung tâm văn hố, khoa

học của các vùng, địa phương, góp phần hình thành một xã hội học tập.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Thứ năm, phát triển GDĐH phải coi trọng cả ba mặt: quy mô, chất lượng

và hiệu qủa. Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với

lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội.

Mối quan tâm hàng đầu đối với việc phát triển GDĐH trong những năm

tới là phải nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Nhân tố quyết định chất lượng

đào tạo là đội ngũ giáo viên. Do vậy, cần triển khai nhanh các biện pháp cấp

bách xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đại học, xác lập cơ chế tạo điều

kiện cho những người có trình độ cao ở bên ngồi trường đại học (Viện nghiên

cứu, các nhà khoa học là người Việt Nam định cư nước ngoài, chuyên gia, giáo

sư quốc tế…) tham gia giảng dạy ở các trường đại học ở Việt Nam nhằm bồi

dưỡng thêm trình độ cho đội ngũ giáo viên trẻ.

2. Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho đào

tạo đại học .

Giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng đựơc Đảng và

Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu, vì thế trong những năm qua đã có

những chính sách ưu tiên về đầu tư cho giáo dục. Công tác quản lý chi NSNN

cho đào tạo đại học trong thời gian qua đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự

phát triển đào tạo đại học, vì thế sự nghiệp đào tạo đại học đã đạt dược những kết

quả khả quan như trên. Tuy nhiên mơ hình quản lý hiện nay của chúng ta vẫn

còn nhiều thiếu sót như đã đề cập ở chương II. Mặt khác, do nguồn kinh phí NS

còn hạn hẹp, trong khi đó nhu cầu phát triển giáo dục đại học đòi hỏi vừa phải

tăng qui mô vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo.Vì thế việc khắc phục những

thiếu sót, hạn chế và tìm ra giải pháp tăng cường cơng tác quản lý và sử dụng NS

cho đào tạo đại học là vấn đề cấp bách hiện nay.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



2.1. Thay đổi phương thức cấp phát NSNN cho đào tạo đại học

Hiện nay, Ngân sách Nhà nước cấp vốn cho các trường đại học công lập

theo phương thức dựa vào yếu tố đầu vào của các trường đại học (chỉ tiêu tuyển

sinh hàng năm) và mức chi phí chuẩn theo đầu sinh viên tuyển vào đối với từng

ngành. Cách phân bổ ngân sách như vậy còn rất nhiều bất cập: đó là khó có thể

xác định chính xác định mức chi cho từng ngành sao cho hợp lý nhất, mặt khác

nếu lấy chỉ tiêu sinh viên tuyển sinh hàng năm để làm căn cứ cho việc cấp Ngân

sách Nhà nước cho các trường đại học công lập là chưa đủ căn cứ bởi vì số

lượng sinh viên được tuyển là do quy định của Bộ GD&ĐT. Hơn nữa, cách cấp

vốn này tỏ ra kém hiệu quả trong việc khuyến khích nâng cao hiệu quả và đẩy

mạnh chất lượng đào tạo của các trường đại học. Trong điều kiện Việt Nam hiện

nay, thì chúng ta nên chuyển sang phương thức cấp phát vốn Ngân sách Nhà

nước cho các trường đại học dựa vào đầu ra, tức là dựa trên số lượng sinh viên ra

trường, có thể nói sử dụng chất lượng đầu ra làm thước đo để cấp vốn sẽ đem lại

hiệu quả cao hơn, hợp lý hơn cho các trường đại học trong việc nhận nguồn vốn

đầu tư từ Ngân sách Nhà nước. Cách cấp vốn Ngân sách Nhà nước dựa trên chất

lượng đầu ra sẽ khắc phục được yếu điểm hiện nay ở các trường đại học là chỉ

chạy theo chỉ tiêu số lượng, kiểm soát chặt đầu vào song nới lỏng đầu ra, một

hình thức làm giảm nhẹ đi hiệu quả đào tạo.

Đồng thời, cần nhanh chóng đổi mới nội dung, phương pháp và kế hoạch

đào tạo đại học, phải tiến hành cải tiến cơ chế phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh và

cung cấp tài chính trong GDĐH hiện nay. Việc sử dụng hai loại chỉ tiêu trong

phần giao kế hoạch bị chi phối bởi cơ chế phân bổ Ngân sách cho các trường đại

học hiện nay là một trong những lý do làm mất hiệu lực của cơng cụ kế hoạch

hố. Cơ chế phân bổ Ngân sách Nhà nước theo mức chi tính trên đầu sinh viên



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những căn cứ để tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×