Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo Đại học

Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo Đại học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



- Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính

Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng, vốn từ quĩ

NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hện các nhiệm vụ thường

xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.

Chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu

chi thường xun của NSNN, đó là q trình phân phối lại nguồn vốn từ quĩ tiền

tệ tập trung của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi để duy trì và phát triển sự

nghiệp đào tạo theo ngun tắc khơng hồn trả trực tiếp.

Chi NSNN cho đào tạo Đại học là quá trình phân phối lại quỹ NSNN

nhằm đáp ứng nhu cầu chi và phát triển sự nghiệp đào tạo đại học theo ngun

tắc khơng hồn trả trực tiếp.

Chi NSNN cho đào tạo đại học bao gồm: Chi thường xuyên; chi chương

trình mục tiêu; chi đầu tư XDCB

Chi chương trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tạo là khoản chi để giải

quyết những những vấn đề cấp bách mang tính chiến lược trong sự nghiệp đào

tạo ( Các khoản chi cho chương trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tạo mới chỉ

xuất hiện từ năm 1990 ). Như vậy nội dung chi chương trình mục tiêu phát sinh

khơng thường xun mà chỉ phát sinh trong một thời gian nhất định, khi các

chương trình mục tiêu đó đạt được thì các nội dung chi đó cũng kết thúc.

Chi đầu tư XDCB nhằm từng bước mở rộng và tăng cường cơ sở vật chất

kỹ thuật cho sự nghiệp đào tạo đại học. Do đặc điểm riêng của hoạt động XDCB

và sản phẩm của XDCB cho nên công tác quản lý chi đầu tư XDCB thường được

tách riêng với chi thường xuyên và chi chương trình mục tiêu cho sự nghiệp đào

tai đại học.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Với đặc thù như vậy, trong phạm vi đề tài này không đi sâu nghiên cứu 2

khoản chi trên, chỉ xin đi sâu phân tích về mức độ và cơng tác quản lý chi thường

xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học.

Chi thường xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học nhằm đáp ứng những nhu

cầu chi gắn chặt với hoạt động thường xuyên của sự nghiệp đào tạo đại học.

Trong công tác quản lý chi thường xuyên của NSNN nói chung và chi thường

xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học nói riêng, người ta phân loại nội dung chi

này thành 4 nhóm theo đối tượng sử dung kinh phí :

 Nhóm 1 : Chi cho con người :

Bao gồm các khoản: chi lương, phụ cấp,các khoản phúc lợi, BHXH,

BHYT cho giáo viên, cán bộ quản lý và phục vụ, học bổng cho học sinh, sinh

viên .

 Nhóm 2: Chi cho quản lý hành chính :

Thuộc nhóm chi này bào gồm các khoản chi về cơng tác phí,nghiệp vụ

phí,hội nghị phí,cơng vụ phí đảm bảo phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính

của nhà trường và các cơ sở đào tạo.

 Nhóm 3: Chi cho giảng dạy,học tập và nghiên cứu khoa học:

Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm tài liệu, sách

giáo khoa,giáo trình,đồ dùng học tập, hố chất thí nghiệm,phấn viết bảng… chi

nghiên cứu khoa học,chi kiến tập, chi thực tập ngồi trường

 Nhóm 4; Chi cho mua sắm,sửa chữa trang thiết bị học tập:

Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm, sủa chữa máy

móc, thiết bị học tập, thực hành cho sinh viên. Các khoản chi này phát sinh

không thường xuyên,mức độ chi phụ thuộc vào nhu cầu, thực trạng nhà cửa,

trang thiết bị.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Chi NSNN cho đào tạo ĐH được phân bổ tính theo đầu sinh viên tuyển

theo chi tiêu kế hoạch Nhà nước có ngân sách.

Tổng số chi NSNN cho đào tạo ĐH thay đổi qua các năm. Điều này phụ

thuộc vào các nhân tố sau :

Một là : Định hướng và chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nói chung

và đào tạo đại học nói riêng của Đảng và nhà nước ta trong từng thời kỳ.

Với ý nghĩa là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế hiện đại và ngày

càng được coi là yếu tố đứng hàng đầu tạo ra động lực bên trong cho phát triển

kinh tế, giáo dục đào tạo nói chung và sự nghiệp đào tạo đại học nói riêng ln

được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cả về định hướng phát triển cũng như

nguồn kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ khác nhau do thực

trạng nền kinh tế xã hội và nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn lao

động thì chiến lược giáo dục đào tạo của Nhà Nước thay đổi cho phù hợp. Điều

đó kéo theo sự thay đổi của nguồn kinh phí cho giáo dục đào tạo nói chung và

đào tạo đại học nói riêng.

Hai là : Khả năng của NSNN trong từng thời kỳ.

Đây là nhân tố quyết định đến cơ cấu và mức độ chi NSNN cho đào tạo

đại học. Với quan điểm “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu ” Đảng và nhà nước

ta luôn tạo mọi đIều kiện thuận lợi về chính sách, chế độ, tài chính… cho sự

phát triển của giáo dục đào tạo. Tuy nhiên với một NS hạn hẹp, thu NSNN tăng

chậm, trong khi nhu cầu chi luôn tăng nhanh cả về phạm vi và mức độ chi, do

đó dù cố gắng đến mấy thì NSNN cũng chi giành một phần nhất định trong

tổng chi NSNN cho giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng.Do

đó tuỳ thuộc vào khả năng của NSNN mà tổng chi NSNN cho đào tạo đại học



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



trong từng thời kỳ là khác nhau,theo nguyên tắc chú trọng tới các khoản mục

chi nhằm nâng cao hiệu quả của đồng vốn Ngân Sách.

2.2. Vai trò của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo

Đại học.

Giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng hiện đang là mối

quan tâm lớn của toàn xã hội,bất cứ một quốc gia nào trên thế giơí muốn trở nên

giàu mạnh và phát triển một cách bền vững thì việc đầu tiên phải chú trọng là

nhân tố con người.Đào tạo đại học vừa là nơi hoàn thiện nhân cách con người,

vừa là nơi cung cấp đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực,bồi dưỡng nhân tài cho

sự phát triển đất nước.Ngày nay, tiến bộ của loài người đã chuyển sang thời đại

văn minh hậu công nghiệp với đặc trưng là khoa học công nghệ và trí tuệ đã trở

thành động lực trực tiếp của sự phát triển.Do đó phát triển giáo dục đào tạo nói

chung và đào tạo đại học nói riêng là một điều hết sưc cần thiết hiện nay.Tuy

nhiên đào tạo đại học là một hoạt động không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nên

nó khơng thể tự đảm bảo cho mình một nguồn tài chính để hoạt động.

Hiện nay, các nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo đại học bao gồm: nguồn

NSNN, nguồn đóng góp của nhân dân, các tổ chức xã hội, nguồn vốn tài trợ …

nhưng trong đó nguồn vốn NSNN là nguồn vốn ổn định và giữ vai trò chủ đạo

chiếm khoảng 85%-90% trong các nguồn vốn đầu tư cho đào tạo đại học. Vì vậy

muốn duy trì và phát triển hệ thống đào tạo đại học cơng lập thì vai trò của chi

NSNN là vơ cùng quan trọng và đóng vai trò quyết định.Sở dĩ NSNN cần đầu tư

cho đào tạo đại học là do những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất: Giáo dục không phải là hàng hố cơng cộng thuần t. Nó

mang đặc trưng của hàng hố cơng cộng khơng thuần t và tạo ra những ảnh



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



hưởng ngoại lai tích cực mà cơ chế thị trường khơng phản ảnh được. Vì vậy, nhà

nước cần dẫn đầu trong việc đầu tư vào giáo dục nói chung và giáo dục đại học

nói riêng.

Thứ hai : Đầu tư của nhà nước sẽ thúc đẩy đầu tư của tư nhân. Như chúng

ta đã biết, lợi ích của giáo dục không chỉ dành cho những người được giáo dục

trực tiếp mà còn cho cả xã hội nói chung. Tuy nhiên, các cá nhân có thể khơng

tính đến những tác động này trong việc quyết định liệu có nên đầu tư vào việc

học tập cho bản thần họ hay con cái họ hay không. Hoặc trong một số trường

hợp họ đơn giản khơng biết đến những tác động bên ngồi của việc giáo dục.

Trong những trường hợp khác, họ có thể biết song thiếu sự khuyến khích để đi

đến quyết định. Nếu khơng có sự hỗ trợ của Chính phủ, các chi phí cho giáo dục

sẽ thấp hơn mức mong muốn. Do vậy, những khuyến khích của Chính phủ đối

với giáo dục và đầu tư của Chính phủ vào giáo dục sẽ thúc đẩy sự đầu tư của tư

nhân, hướng tư nhân vào các loại hình đào tạo cần thiết.

Thứ ba: Đầu tư của Nhà nước vào giáo dục nhằm giảm bất bình

đẳng.Trong xã hội khơng phải tất cả các nhóm dân cư đều có khả năng trả các

khoản chi phí trực tiếp liên quan đến việc đầu tư vào giáo dục. Nếu giáo dục

được cung cấp như một dịch vụ trong nền kinh tế thị trường thì chỉ những người

có khả năng trả các loại chi phí mới được vào học.Vì vậy, cần phải có sự đầu tư

của Nhà nước vào giáo dục.Và đầu tư của nhà nước suy cho cùng là để tăng

thêm hiệu quả của đầu tư xã hội vào giáo dục và tạo ra sự công bằng về cơ hội

giáo dục. Khi công bằng trong phân bố giáo dục được giải quyết thì sẽ dẫn đến

cơng bằng trong phân bổ thu nhập.

Thứ tư: Đầu tư của Chính phủ là nhằm khắc phục khiếm khuyết của thị

trường vốn.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Trên thực tế ở hầu hết các nước thì thì trường vốn cho đầu tư vào nguồn

vốn con người là khơng hồn hảo. Nguồn vốn này còn nhiều rủi ro cho cả người

vay lẫn người cho vay khi đầu tư vào giáo dục. Do đó, các nhà đầu tư thường rất

khó quyết định để đi đến đầu tư như đầu tư vào vốn vật chất. Trong trường hợp

này, sự can thiệp của Chính phủ là nhằm giảm bớt sự hạn chế về khả năng đầu

tư.

Có thể nói, vốn ngân sách nhà nước ln phải coi là nguồn vốn quan trọng

để phát triển giáo dục. Ở Việt nam, Luật GD có ghi rõ: “Nhà nước dành ưu tiên

hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tỷ lệ NSNN chi cho giáo

dục tăng dần theo yêu cầu của sự nghiệp giáo dục”.Vai trò của chi NSNN cho sự

nghiệp đào tạo đại học được nhìn nhận trên các khía cạnh sau :





Trước hết NSNN là nguồn tài chính cơ bản, chủ dạo nhất để duy trì



và phát triển sự nghiệp đào tạo đại học ở nước ta theo đúng chủ truơng, đường

lối của Đảng và Nhà nước.

Trong hệ thống tài chính nước ta thì Tài chính Nhà nước chiếm một tỷ

trọng lớn mà trong tài chính Nhà nước ( Ngân sách Nhà nước và tín dụng Nhà

nước) thì ngân sách Nhà nước có tỷ trọng lớn nhất. Ngân sách Nhà nước bảo

đảm nhu cầu tiêu dùng chung của xã hội theo chủ trương đường lối của Đảng và

Nhà nước trong đó nhu cầu đào tạo đại học đứng hàng đầu.

Do nền kinh tế nước ta phát triển chậm, năng suất lao động xã hội thấp,

thu nhập theo đầu người dân ở mức thấp, đời sống khó khăn, nhất là đời sống

của những người dân ở nơng thơn (mà ở nước ta có tới 80% dân số sống ở nông

thôn) nên người dân chưa có điều kiện đóng góp học phí một cách đầy đủ và

thoả đáng khi con em họ đến trường học tập.Do đó,NSNN phải đầu tư để bù đắp

cho khoản thiếu hụt đó.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Hệ thống các trường đại học nước ta phần lớn là các trường đại học công

lập (chiếm tới 90-95%) nên sự đầu tư của NSNN là rất lớn.NSNN phải đảm bảo

tồn bộ chi phí cho độ ngũ giáo viên và cán bộ công nhân viên chức như lương,

phụ cấp,BHXH,BHYT, chi học bổng và sinh hoạt phí cho sinh viên và cán bộ đi

học, chi đầu tư xây dựng cơ bản cho cơ sở vật chất như xây dựng trường lớp,

mua sắm thiết bị…





Thứ hai: Đầu tư của NSNN cho các trường như là một “cú hích”



ban đầu để khuyến khích nhân dân đóng góp, xây dựng và sửa chữa trường lớp,

đồng thời thu hút các nguồn đầu tư từ lao động sản xuất, hợp đồng nghiên cứu

ứng dụng khoa học cơng nghệ của các trường, thu hút sự đóng góp của các

doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, đây còn là nguồn tài

chính để phát huy nguồn viện trợ và vay của nước ngoài để đầu tư cho các

trường.





Thứ ba: NSNN bảo đảm từng bước ổn định đời sống đội ngũ cán bộ



giảng dạy cho các trường. Tuy đời sống của giáo viên còn ở mức thấp nhưng

Ngân sách Nhà nước vẫn đảm bảo mức lương chính cho họ, hiện nay thang bậc

lương của đội ngũ cán bộ giảng dạy là một trong những thang bặc lương cao nhất

trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp của Nhà nước. Ngoài ra,

Ngân sách Nhà nước còn dành một phần để phụ cấp ưu đãi riêng như phụ cấp

giảng dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm. Họ được hưởng phụ cấp ưu

đãi với mức thấp nhất là 20% và cao nhất là 70% tiền lương.





Thứ tư: Ngân sách Nhà nước có vai trò điều tiết cơ cấu của các



trường cũng như hệ thống giáo dục đào tạo tồn ngành, điều đó có nghĩa là thông

qua các định mức chi Ngân sách Nhà nước hàng năm đã góp phần định hướng

sắp xếp cơ cấu mạng lưới các trường nhằm phát huy tiềm lực của đội ngũ cán bộ



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



giảng dạy, cơ sở vật chất của mỗi trường và của toàn hệ thống, tạo ra chất lượng

cao và hiệu quả lớn trong hệ thống cá trường đại học. Ngoài ra, còn góp phần

phân biệt ngành nghề đào tạo theo các khối trường: y – dược, kinh tế - tài chính,

pháp lý, văn hóa - nghệ thuật - thể dục thể thao. Điều chỉnh giáo dục giữa các

vùng ( thành phố, đồng bằng, vùng núi, trung du, vùng sâu), tập trung Ngân sách

Nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia.

3. Những vấn đề cơ bản về quản lý chi NSNN cho đào tạo Đại học

3.1. Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý chi NSNN cho đào tạo

Đại học

Chi NSNN cho đào tạo đại học là một bộ phận trong cơ cấu chi của

NSNN,vì vậy việc quản lý cơng tác chi NSNN cho đào tạo đại học cũng phải

tuân chủ theo một số nguyên tắc nhất định như sau :

 Nguyên tắc quản lý theo dự toán :

Lập dự tốn là khâu mở đầu của một chu trình quản lý ngân sách.Những

khoản chi một khi đã được ghi vào trong dự tốn chi và được cơ quan có thẩm

quyền xét duyệt thì được coi như là chi tiêu pháp lệnh. Trên góc độ quản lý, các

khoản chi đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức

năng. Vì thế việc quản lý chi NSNN nói chung và chi NSNN cho đào tậo đại

học nói riêng phải theo dự tốn là xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn

sau:

Thư nhất: Hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập

phụ thuộc phần lớn vào sự quyết định của cơ quan Nhà nuớc có thẩm quyền và

ln chịu sự kiểm sốt của các cơ quan quyền lực đó.Do vậy các khoản chi cho



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



đào tạo đại học chỉ được thực hiện khi các khoản chi đó đã được ghi trong dự

tốn và được cơ quan có thẩm quyền thơng qua.

Thứ hai: Nội dung chi cho đào tạo đại học liên quan đến nhiều lĩnh vực

lĩnh vực hoạt động khác nhau, có nhiều định mức chi theo từng đối tượng

riêng…Vì vậy để quản lý tốt hoạt động chi NSNN cho đào tạo đại học thì phải

dựa vào dự tốn ngân sách đã được duyệt.

Thứ ba: Việc quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu về cân đối

thu chi nguồn tài chính, hạn chế sự tuỳ tiện về nguyên tắc sử dụng nguồn kinh

phí ở các đơn vị sự nghiệp đào tạo đại học.

Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học phải tuân

theo dự toán được thể hiện qua các giác độ sau:

Mọi nhu cầu chi tiêu dự kiến trong năm kế hoạch cho sự nghiệp đào tạo

đại học nhất thiết phải được xác định trong dự tốn, thơng qua các bứoc xét

duyệt của các cơ quan có thẩm quyền. Chỉ sau khi được cơ quan có thẩm quyền

xét duyệt và thơng qua, dự tốn chi mới trở thành căn cứ chính thức để phục vụ

cho công tác quản lý và điều hành công tác chi NSNN cho đào tạo đại học.

Trong quá trình thực hiện dự toán, ở mỗi đơn vị sự nghiệp đào tạo phải

căn cứ vào dự tốn kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng cho các

khoản, mục và hạch toán theo đúng mục lục ngân sách đã quy định.

 Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả :

Có thể nói rằng tiết kiệm hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan

trọng hàng đầu trong quản lý sử dụng NSNN nói chung và chi NSNN cho đào

tạo đại học nói riêng.Điều này xuất phát từ nguyên nhân sau :

Trong thực tế nguồn lực tài chính ln có giới hạn nhưng nhu cầu chi thì

ngày một tăng.Đặc biệt trong sự nghiệp đào tạo đại học, khi mà nhu cầu về



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo Đại học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×