Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



1.2. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GDĐH giai

đoạn 2001-2010.

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 –2010) của nước ta

đã nêu lên rõ các quan điểm phát triển chung là:

 Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực

hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho

một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết.

 Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và huy động mọi

nguồn lực.

Theo quan điểm này, phát triển GDĐH ở nước ta trong giai đoạn trước

mắt phải coi trọng vần đề chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, phải thu hút mạnh mẽ

các nguồn vốn đầu tư. Mặt khác trong tương lai chúng ta sẽ có những bước nhảy

vọt về kinh tế và cơng nghệ, do đó phải đặc biệt chú trọng vốn đầu tư cho việc

đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – cơng nghệ.

Trong q trình xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật đáp

ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH phải chú trọng đến kết cấu hạ tầng kinh

tế xã hội, trong đó có GDĐH để góp phần phát triển mạnh nguồn lực con người

với yêu cầu ngày càng cao. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết

hợp các nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế

xã hội nói chung, phát triển GDĐH nói riêng là tất yếu khách quan phù hợp với

điều kiện và hoàn cảnh đất nước.

GDĐH cần phát triển nhiều loại hình đào tạo, chú trọng phát triển loại

hình giáo dục ngồi cơng lập, đồng thời tăng cường vai trò chủ đạo của hệ thống

giáo dục cơng lập. Việc tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút mạnh mẽ và



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ngoài nước đầu tư cho GDĐH là rất quan

trọng.

Bên cạnh quan điểm trên, một số quan điểm chỉ đạo đối với phát triển

GDĐH cũng được chỉ ra trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đó là:

Thứ nhất, phát triển giáo dục-đào tạo nói chung và phát triển GDĐH nói

riêng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH,

là điều kiện cần thiết để phát huy nguồn nhân lực – yếu tố cơ bản để phát triển

xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Thực hiện quan điểm này, trong những năm trước mắt cần ưu tiên đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đào tạo lực

lượng lao động có trình độ đại học với cơ cấu ngành nghề thích hợp đáp ứng yêu

cầu cải biến cơ cấu lao động và cơ cấu ngành kinh tế.

Thứ hai, tăng ngân sách cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ phát triển

kinh tế.

Ngân sách Nhà nước được coi là nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho giáo dục

đào tạo, đặc biệt là đối với giáo dục phổ thông. Đối với GDĐH, Nhà nước sẽ tập

trung đầu tư bằng nhiều nguồn vốn cho xây dựng lại các đại học quốc gia, các

trường đại học trọng điểm. Mặt khác, các trường đại học, cao đằng phải tự thân

vận động, tăng cường mở rộng các nguồn vốn đầu tư bằng nhiều hoạt động

hướng tới đa dạng hố các kênh tạo nguồn.

Thứ ba, thực hiện cơng bằng trong GDĐH và tạo điều kiện phát triển tài

năng.

Trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế và xu thế hội nhập quốc tế, GDĐH

Việt Nam cần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này thể hiện

chủ yếu trong hai mặt: Thứ nhất, GDĐH có mục tiêu, giáo dục những con người



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



có lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội; Thứ hai, GDĐH phải tạo ra sự

bình đẳng về cơ hội học tập đại học cho mọi người. Chống lại khuynh hướng

thương mại trong GDĐH.

Có thể có nhiều cách thức để thực hiện công bằng xã hội trong GDĐH.

Một trong số đó là thực hiệu chính sách học phí kết hợp với chính sách hỗ trợ

sinh viên đặc biệt là những sinh viên nghèo hoặc sinh viên thuộc diện chính sách

xã hội thơng qua các chương trình cho vay, học bổng, trợ cấp.

Đa dạng hố các hình thức, phương thức đào tạo đại học nhằm vừa mở

rộng GDĐH, vừa tạo cơ hội cho mọi người lựa chọn con đường thích hợp nhất

cho riêng mình để có học vấn cao phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cũng là biện

pháp để thực hiện công bằng. Đi đôi với việc đa dạng hoá cần thống nhất quản lý

GDĐH theo tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng đạo tạo. Những người giỏi và tài

năng được xã hội và nhà trường khuyến khích học cao hơn, những cơ sở đào tạo

đại học có chất lượng cao, có uy tín và mạnh về cơ sở vật chất, trang thiết bị và

đội ngũ giảng viên được giao nhiệm vụ thực hiện những chức năng đầu tầu trong

hệ thống GDĐH.

Thứ tư, thực hiện xã hội hố giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức

đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng.

Cần tiếp tục phát triển các đại học dân lập phù hợp với định hướng của hệ

thống GDĐH, đồng thời phải đảm bảo cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên…

Trong thời đại ngày nay, công nghệ, kỹ thuật thường làm biến đổi rất mau lẹ,

người lao dộng muốn làm việc tốt cần phải thường xuyên cập nhật tri thức mới.

Hệ thống các trường đại học, cao đẳng phải quan tâm thích đáng đến nhiệm vụ

giáo dục thường xuyên. Trường đại học giữ vai trò là trung tâm văn hố, khoa

học của các vùng, địa phương, góp phần hình thành một xã hội học tập.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Thứ năm, phát triển GDĐH phải coi trọng cả ba mặt: quy mô, chất lượng

và hiệu qủa. Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với

lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội.

Mối quan tâm hàng đầu đối với việc phát triển GDĐH trong những năm

tới là phải nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Nhân tố quyết định chất lượng

đào tạo là đội ngũ giáo viên. Do vậy, cần triển khai nhanh các biện pháp cấp

bách xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đại học, xác lập cơ chế tạo điều

kiện cho những người có trình độ cao ở bên ngồi trường đại học (Viện nghiên

cứu, các nhà khoa học là người Việt Nam định cư nước ngoài, chuyên gia, giáo

sư quốc tế…) tham gia giảng dạy ở các trường đại học ở Việt Nam nhằm bồi

dưỡng thêm trình độ cho đội ngũ giáo viên trẻ.

2. Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho đào

tạo đại học .

Giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng đựơc Đảng và

Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu, vì thế trong những năm qua đã có

những chính sách ưu tiên về đầu tư cho giáo dục. Công tác quản lý chi NSNN

cho đào tạo đại học trong thời gian qua đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự

phát triển đào tạo đại học, vì thế sự nghiệp đào tạo đại học đã đạt dược những kết

quả khả quan như trên. Tuy nhiên mơ hình quản lý hiện nay của chúng ta vẫn

còn nhiều thiếu sót như đã đề cập ở chương II. Mặt khác, do nguồn kinh phí NS

còn hạn hẹp, trong khi đó nhu cầu phát triển giáo dục đại học đòi hỏi vừa phải

tăng qui mô vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo.Vì thế việc khắc phục những

thiếu sót, hạn chế và tìm ra giải pháp tăng cường cơng tác quản lý và sử dụng NS

cho đào tạo đại học là vấn đề cấp bách hiện nay.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



2.1. Thay đổi phương thức cấp phát NSNN cho đào tạo đại học

Hiện nay, Ngân sách Nhà nước cấp vốn cho các trường đại học công lập

theo phương thức dựa vào yếu tố đầu vào của các trường đại học (chỉ tiêu tuyển

sinh hàng năm) và mức chi phí chuẩn theo đầu sinh viên tuyển vào đối với từng

ngành. Cách phân bổ ngân sách như vậy còn rất nhiều bất cập: đó là khó có thể

xác định chính xác định mức chi cho từng ngành sao cho hợp lý nhất, mặt khác

nếu lấy chỉ tiêu sinh viên tuyển sinh hàng năm để làm căn cứ cho việc cấp Ngân

sách Nhà nước cho các trường đại học công lập là chưa đủ căn cứ bởi vì số

lượng sinh viên được tuyển là do quy định của Bộ GD&ĐT. Hơn nữa, cách cấp

vốn này tỏ ra kém hiệu quả trong việc khuyến khích nâng cao hiệu quả và đẩy

mạnh chất lượng đào tạo của các trường đại học. Trong điều kiện Việt Nam hiện

nay, thì chúng ta nên chuyển sang phương thức cấp phát vốn Ngân sách Nhà

nước cho các trường đại học dựa vào đầu ra, tức là dựa trên số lượng sinh viên ra

trường, có thể nói sử dụng chất lượng đầu ra làm thước đo để cấp vốn sẽ đem lại

hiệu quả cao hơn, hợp lý hơn cho các trường đại học trong việc nhận nguồn vốn

đầu tư từ Ngân sách Nhà nước. Cách cấp vốn Ngân sách Nhà nước dựa trên chất

lượng đầu ra sẽ khắc phục được yếu điểm hiện nay ở các trường đại học là chỉ

chạy theo chỉ tiêu số lượng, kiểm soát chặt đầu vào song nới lỏng đầu ra, một

hình thức làm giảm nhẹ đi hiệu quả đào tạo.

Đồng thời, cần nhanh chóng đổi mới nội dung, phương pháp và kế hoạch

đào tạo đại học, phải tiến hành cải tiến cơ chế phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh và

cung cấp tài chính trong GDĐH hiện nay. Việc sử dụng hai loại chỉ tiêu trong

phần giao kế hoạch bị chi phối bởi cơ chế phân bổ Ngân sách cho các trường đại

học hiện nay là một trong những lý do làm mất hiệu lực của cơng cụ kế hoạch

hố. Cơ chế phân bổ Ngân sách Nhà nước theo mức chi tính trên đầu sinh viên



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



cần thiết phải được thay đổi để hướng tới việc thực hiện mục tiêu phân cấp quản

lý trong hệ thống giáo dục đại học, tăng cường tính chủ động và tính tự chịu

trách nhiệm của nhà trường cũng chính là nội dung của cơ chế tự chủ tài chính

áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu.

2.2. Xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn cho giáo dục đại học

Trong thời gian qua, dự tốn chi NSNN nói chung và chi NSNN cho đào

tạo đại học nói riêng được lập cho từng năm một. Do đó chi NSNN chỉ mới tính

đến khả năng của NS trong từng năm riêng rẽ chứ chưa tính đến cả một thời kỳ.

Cách quản lý này làm cho q trình chi NSNN thiếu tính chiến lược, làm quá

trình đầu tư cho đào tạo đại học thiếu trọng điểm, khơng liền mạch. Để khắc

phục tình trạng này, chúng ta nên chuyển từ lập kế hoạch ngân sách theo từng

năm sang lập kế hoạch ngân sách trong một giai đoạn 3 năm. Theo đó kế hoạch

chi tiêu của sự nghiệp đào tạo đại học sẽ được lập cho cả một giai đoạn 3 năm.

Giả sử năm nay là năm 2005 thì kế hoạch chi tiêu được lập cho cả giai

đoạn 3 năm 2006,2007,2008. Tuy nhiên kế hoạch NS vẫn đựơc lập cụ thể cho

từng năm riêng nhưng phải nằm trong kế hoạch chung của cả giai đoạn. Do đó,

trong năm 2005 này sẽ vẫn lập kế hoạch chi cho năm 2006 nhưng phải trong mối

liên hệ của cả 3 năm. Sang tới năm 2006, chúng ta lai lập kế hoạch chung cho

giai đoạn 2007 đến 2009, đồng thời lại lập kế hoạch chi cho năm 2007.

Theo cách xây dựng kế hoạch chi như trên sẽ giúp cho quá trình quản lý

chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo đại học đựơc chủ động hơn về nguồn NS, đầu

tư có tính chiến lược hơn, hiệu quả cao hơn.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



2.3. Đổi mới cơ cấu chi thường xuyên cho đào tạo đại học

Việc sắp xếp các khoản chi thường xuyên cho đào tạo đại học là giải pháp

cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí. Tuy nhiên với nguồn

kinh phí NS còn hạn hẹp như hiện nay,việc bố trí sử dụng các khoản kinh phí đó

như thế nào để đạt được hiệu quả đào tạo và hiệu quả sử dụng một cách tối ưu lại

là vấn đề không hề đơn giản.

Để nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường chất lượng đào tạo trong thời

gian tới thì cần phải đổi mới cơ cấu giữa các khoản mục chi trong chi thường

xuyên. Vì đây là khoản chi lớn nhất cho đào tạo đại học và cung là khoản chi dễ

dẫn tới tiêu cực nhất, bởi vậy cơ cấu chi thường xuyên trong thời gian tới cần

được bố trí theo hướng :

 Nhóm chi cho con người :

Trong nhóm này bao gốm các khoản lương, phụ cấp lương, phúc lợi,

BHXH cho giáo viên, học bổng sinh viên…Hiện nay, đây là khoản chi chiếm tỷ

trọng lớn nhất gần 50%, khoản chi này quá lớn sẽ làm ảnh hưởng đến số chi cho

các nhóm khác.Vì thế trong thời gian tới cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp

hơn. Tuy nhiên việc giảm tỷ trọng nhóm chi này lại mâu thuẫn với yêu cầu thực

tế về đảm bảo không ngừng tăng thu nhập cho giáo viên hiện có và nhu cầu mở

rộng đội ngũ giáo viên trong tương lai,vì tỷ lệ sinh viên trên 1 giáo viên hiện nay

ở nước ta còn rất cao khoảng xấp xỉ 30SV/GV trong khi đó ở các nước tỷ lệ này

là 10/1- 15/1.

Để giải quyết được mâu thuẫn này, một mặt các trường cần phải sắp xếp

lại đội ngũ cán bộ phục vụ theo hướng tinh giản, mặt khác phải tăng cường huy

động các nguồn tài chính khác như thu về tham gia nghiên cứu khoa học, giảng

dạy thêm…trên cơ sở đó có thể tạo thêm nguồn tài chính đảm bảo chi trả cho đội



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



ngũ giảng viên, thực sự khuyến kkhích họ đầu tư cơng sức cho nghiên cứu và

giảng dạy. Nhóm chi này nên giảm dần tỷ trọng trong tổng chi thường xuyên

xuống còn khoảng 32-35% trong giai đoạn 2005-2010.

 Nhóm chi cho cơng tác quản lý hành chính :

Nhóm chi này bao gồm các khoản: chi về cơng tác phí, nghiệp vụ phí, hội

nghị phí… nhằm đảm bảo các nhu cầu vật chất phục vụ cho cơng tác quản lý

hành chính trong các cơ sở đào tạo đại học-cao đẳng. Thời gian qua mặc dù tỷ

trọng nhóm chi này có xu hướng giảm xuống, song tỷ lệ này trên thực tế vẫn cao

hơn so với kế hoạch ( thực trạng nhóm chi này chiếm 15-20% trên tổng chi

thường xuyên, trong khi theo kế hoạch nó chỉ chiếm khoảng 8% ). Trong những

năm tới các trường nên tiếp tục giảm nhóm chi này bởi nó khơng trực tiếp quyết

định tới chất lượng đào tạo, mặt khác đây cũng là nhóm chi dễ dẫn tới tiêu cực.

Để thực hiện mục tiêu này một mặt phải tinh giảm bộ máy, mặt khác phải thực

hiện biện pháp khoán chi hành chính theo qui định của Nhà nước, đồng thời phải

xây dựng được hệ thống các định mức chi cho hoạt động này ở mức tiết kiệm

triệt để có thể được. Tỷ trọng này nên giữ ổn định ở mức 7%-8% trong giai đoạn

2005-2010 là hợp lý.

 Nhóm chi cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học

Đây là nhóm mục chi có vị trí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp và quyết định

chất lượng đào tạo vì nó đáp ứng kinh phí cho việc mua sắm tài liệu,sách giáo

khoa,giáo trình,thực tập,kiến tập ngồi trường. Vì vậy trong những năm tới nhóm

chi này phải được tăng lên cả về tỷ trọng và tốc độ. Thực tế trong thời gian qua,

nhóm chi này có xu hướng tăng lên nhưng khơng đáng kể. Đồng thời với việc

giảm tỷ trọng của nhóm chi cho con người và quản lý hành chính, chúng ta có



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



thể tăng chi cho nhóm này. Tỷ trọng của nhóm này nên chiếm khoảng 33%-35%

trong tổng chi thường xuyên trong giai đoạn 2005-2010 là hợp lý

 Nhóm chi mua sắm sửa chữa

Mức độ các khoản chi này phụ thuộc vào thực trạng nhà cửa, trang thiết

bị của nhà trường và chính sách chế độ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Tỷ

trọng của nhóm chi này có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Đây

cũng là nhóm chi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Trong thời gian

qua do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong chính sách đầu tư nên hệ

thống các trường lớp tương đối đồng bộ và đầy đủ, nhưng các trang thiết bị còn

lạc hậu và đơn giản chưa đáp ứng được yêu cầu của phương pháp giảng dạy mới

trong các trường ĐH-CĐ. Do đó, q trình học tập và nghiên cứu chủ yếu chỉ

trên lý thuyết nên hầu hết các SV khi ra trường thường bỡ ngỡ với thực tế, phải

mất thời gian khá lâu mới thích nghi được. Để khơng ngừng nâng cao chất lượng

đào tạo thì việc đảm bảo nguồn tài chính cho các khoản chi mua sắm, sửa chữa

trang thiết bị…hiện nay là hết sức cần thiết.

Trong giai đoạn từ 2005-2010 nhóm chi này nên chiếm tỷ trọng từ 2527% trong tổng chi thường xuyên là hợp lý.

2.4. Hoàn thiện định mức chi cho đào tạo đại học

Trong thời gian qua, định mức chi cho đào tạo đại học vẫn theo thông tư

số 38 TC/NSNN do Bộ tài chính ban hành. Qua thực tế thực hiện phân bổ các

nhiệm vụ chi NSNN theo định mức qui định tại thông tư 38 đã đạt được một số

kết quả nhưng bên cạnh đó cũng phát sinh những tồn tại.

Định mức phân bổ chi NSNN theo thông tư 38 đã quy định nhưng tiêu chí

nhất định như là phân bổ theo học sinh, theo ngành nghề, theo cấp đào tạo, chi



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



quản lý hành chính phân bổ theo biên chế… đã giúp cho cơng tác xây dựng,

phân bổ dự tốn NSNN tương đối hợp lý.

Tuy nhiên, như đã phân tích ở chương II, định mức phân bổ đó vẫn còn

một số điểm bất hợp lý như: chưa gắn với nguồn thu của đơn vị, định mức giữa

các nhóm ngành đào tạo chưa phù hợp với chi phí thực tế phát sinh, định mức đã

qua lạc hậu do chưa tính đến yếu tố trượt giá của đồng tiền…Như vậy hệ thống

định mức ban hành theo thơng tư 38 có nhiều điểm khơng còn phù hợp với tình

hình hiện nay.Do đó, cần phải xây dựng và ban hành định mức phân bổ NSNN

cho đào tạo đại học phù hợp với thực tế hơn.

Sau đây là định mức phân bổ được xác định lại cho từng nhóm ngành sau

khi đã có sự đánh giá nghiên cứu thực trạng chi NSNN cho đào tạo đại học hiện

nay:

Bảng 10: Dự kiến định mức chi NS cho đào tạo đại học

Loại hình đào tạo

1.Khối nghệ thuật, TDTT

2.Khối sư phạm

3.Khối tổng hợp

4.Khối y tế, dược

5.Khối nông, lâm, thuỷ sản

6.Khối kỹ thuật - cơng nghệ

7.Khối kinh tế hành chính



Định mức chi đào

tạo(Tr.đ/1SV/1 năm)

2,8

3,2

1,9

2,7

2,6

2,2

1,8



2.5. Thực hiện phân cấp quản lý hợp lý cho các trường đại học.

Hiện nay chúng ta đang đối mặt với một khó khăn là khả năng chi của

NSNN là có hạn, trong khi đó nhu cầu về phát triển đào tạo đại học lại đang tăng

mạnh cả về số lượng và chất lượng,để phục vu cho sự nghiệp phat triển kinh tế

xã hội của đất nước. Đứng trước thực trạng đó,muốn huy động thêm nguồn vốn



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí cho đào tạo đại học, Nhà nước cần

phải tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý cho các trường đại học. Coi việc phân

cấp là một nhân tố trung tâm của chiến lược nhằm cải tiến khả năng đứng vững

được về tài chính ổn định hơn và ít phụ thuộc hơn vào nguồn Ngân sách Nhà

nước. Muốn vậy, các trường phải tiến hành cải cách cơ bản khung chính sách cho

các hoạt động tăng thu nhập. Các nguồn thu nhập khai thác thêm được ngồi

Ngân sách Nhà nước có giá trị đáng kể cho các trường đại học cơng lập thì

khơng nên đưa vào cân đối Ngân sách Nhà nước để từ đó giảm khoản chi Ngân

sách Nhà nước cấp cho các trường mà thay vào đó để cho các trường nộp vào

kho bạc, sau đó lấy ra để chi tiêu. Khuyến khích các trường sử dụng các khoản

thu nhập ngoài Ngân sách Nhà nước vào các hoạt động phát triển chuyên môn,

trợ cấp thiết bị và nghiên cứu thí điểm, mua tài liệu…và một phần bù vào lương

cho đội ngũ giáo viên nếu mức lương Nhà nước trả cho họ là thấp.

2.6. Tăng cường thanh tra,kiểm sốt q trình sử dụng kinh phí chi

cho đào tạo đại học.

Cơng tác thanh tra, kiểm sốt chi NS là rất quan trọng vì nguồn ngân sách

của nước ta còn eo hẹp, huy động nội lực chưa cao, trong khi đó hiện tượng sử

dụng ngân sách lãng phí và nạn tham nhũng còn tồn tại. Vì thế cơng tác kiểm

sốt chi khơng những có tác dụng tiết kiệm các khoản chi mà còn làm tăng hiệu

quản của các khoản chi cho đào tạo đại học.

Để thực hiện tốt cơng tác kiểm sốt chi NSNN cần phân cơng trách nhiệm

kiểm soát chi cho 3 cơ quan chủ yếu:

 Đối với đơn vị thụ hưởng:



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×