Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 9: Định mức chi NSNN cho đào tạo đại học

Bảng 9: Định mức chi NSNN cho đào tạo đại học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Bộ tài chính



1



KBNN TW



1



3



Bộ chủ quản



2



KBNN tỉnh



2



4

Các trường thuộc TW quản lý



1a,1b : Lệnh cấp phát NSTW cho đào tạo đại học

2a,2b : Các bộ chủ quản thơng báo dự tốn chi thường xun cho các

trường

3 : Điều chuyển trong hệ thống KBNN

4 : Các trường rút dự toán về sư dụng

b./ Các trường hưởng NS địa phương



UBND tỉnh

(TP)



1a



KBNN tỉnh

(TP)



1b



Các trường ĐH-CĐ thuộc tỉnh (TP) quản lý



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



2



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



1a,1b : UBND thơng báo dự tốn cho các trường

2



: Các trường rút dự toán nơi đơn vị mở tài khoản



Quy trình cấp phát NS cho đào tạo đại học còn bộc lộ hạn chế sau:

- Chưa thực sự kết hợp giữa điều kiện đảm bảo NS với yêu cầu quản lý

q trình ĐT. Vai trò của Bộ GD - ĐT với tư cách quản lý Nhà nước về đào tạo

còn hạn chế trong q trình quản lý kính phí đào tạo. Hiện nay, bên cạnh Bộ GD

- ĐT còn có nhiều bộ ngành khác nhau trực tiếp tham gia quản lý các cơ sở đào

tạo. Kết quả khảo sát đào tạo và tài chính ở các trường ĐH, CĐ cho thấy:

ĐHQG có chế độ báo cáo độc lập, 57% số trường ĐH do Bộ GD - ĐT

trực tiếp quản lý (kể cả các trường dân lập), 37% số trường trực thuộc bộ ngành

khác. Hiện có 6,4% các trường CD trực thuộc UBND tỉnh, 12,3% trực thuộc Bộ

GD - ĐT, 23,3 trực thuộc các Bộ ngành khác.

Cấp phát NSNN cho đào tạo đại học hiện nay còn nhiều mục khơng phù hợp với

diễn biến đa dạng của quá trình đào tạo.k Điều đó nhiều khi dẫn đến việc giảm

quyền tự chủ tài chính của các cơ sở tham gia đào tạo.

- Quy trình cấp phát chưa thực sự là cơ chế tăịo động lực để tăng cường

chất lượng, hiệu quả của công tác đảm bảo Ngân sách cho đào tạo đại học nói

riêng và cơng tác đảm bảo Ngân sách cho GD - ĐT nói chung. Tách rời quyền

lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào tổ chức q trình đào tạo.

Cơng tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí ở các cơ sở

làm chưa nhiều. Cơ quan tài chính và cơ quan cấp trên nhiều năm cũng chỉ mới

dừng lại ở việc đi duyệt quyết tốn cho cơ sở, do đó đã nảy sinh các tồn tại: chi

vượt chế độ, sai mục đích, chứng từ thu chi còn thiếu chặt chẽ…



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Quản lý tài sản ở một số nơi còn nhiều chặt chẽ khơng đúng quy định như

không đảm bảo các thủ tục về mua sắm, xuất nhập, kiểm kê tài sản. Công tác bảo

quản, sử dụng một số nơi còn yếu, còn để xảy ra mất mát, chưa phát huy hiệu

quả.

2.2.2.3. Quy trình quyết tốn

Các trường được NSNN cấp phát kinh phí thực hiện quyết toán trực tiếp

với bộ chủ quản. Bộ chủ quản xét duyệt quyết toán cho các trường và tổng hợp

quyết toán với Bộ Tài chính.

Đối với các trường hưởng ngân sách địa phương quyết tốn với Sở Tài

chính vật giá. Sở Tài chính vật giá tổng hợp quyết tốn trình UBND tỉnh (thành

phố)

Ưu điểm: Đảm bảo tính tự chủ của các đơn vị hưởng NSNN, tăng cường

khả năng tham gia điều hành Ngân sách của các đơn vị thụ hưởng.

Nhược điểm: Về mặt thời gian: Thời điểm phê duyệt quyết toán cho các

trường thường kéo dài hơn so với thời điểm họp quốc hội thơng qua quyết tốn

năm ngân sách

Cơng tác quyết tốn còn nhiều mục chi tiết chưa thực sự phù hợp với tính

đa dạng, mềm dẻo của kinh tế thị trường, ảnh hưởng đến tính tự chủ của các cơ

sở tham gia đào tạo.

3. Đánh giá về công tác quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học

Qua phân tích tình hình đầu tư và mơ hình quản lý chi NSNN cho sự

nghiệp đào tạo đại học chúng ta nhận thấy: Bên cạnh những mặt tích cực như

nguồn vốn đầu tư NSNN tăng lên hàng năm, chất lượng và hiệu quả đào tạo có



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



sự cải biến rõ rệt, mạng lưới và quy mơ đào tạo ngày càng được mở rộng…thì

cơng tác quản lý chi NSNN vẫn còn một số tồn tại sau:

3.1. Về tình hình đầu tư cho đào tạo đại học

- Quy mơ nguồn tài chính cho đào tạo đại học còn nhỏ, phần cấp phát từ

NSNN tăng chậm đã ảnh hưởng đến phát triển quy mô và mạng lưới đào tạo.

Cơ cấu nguồn tài chính chưa hợp lý, chứa có chính sách thích hợp để huy

động nguồn tài chính ngồi ngân sách đặc biệt là học phí và kinh phí hỗ trợ từ

các hoạt động nghiên cứu khoa học, cơng nghệ.

Cơ cấu chi thường xun phân theo 4 nhóm đối tượng sử dụng chưa phù

hợp với đặc trưng của q trình đào tạo đại học. Nhóm chi quản lý hành chính

chiếm tỷ trọng lớn đã dẫn đến nhiều bất hợp lý trong việc phân bổ nguồn vốn

cho nghiên cứu khoa học thiết bị…vốn là điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo.

3.2. Về qui trình lập dự tốn chi NSNN cho đào tạo đại học

- Lập dự toán chi mang tính dàn trải và phụ thuộc nhiều vào nguồn thu

NSNN. Cơ sở của việc lập dự toán chi chưa vững chắc, định mức chi đào tạo

chưa phù hợp với thực tế. Lập dự tốn thường chưa tính đến khả năng thu của

mỗi địa phương, mỗi trường.

- Có nhiều cơ quan tham gia lập kế hoạch Ngân sách nhưng nhiệm vụ

không rõ ràng đã ảnh hưởng đến công tác lập dự toán. Lập kế hoạch chi theo tâm

lý chia đều gây tâm lý dựa vào NSTW. Hạn chế việc sáng tạo trong khai thác

nguồn lực địa phương.

- Việc phân bổ Ngân sách cho đào tạo (tồn tại 2 chỉ tiêu) hiện nay khơng

phù hợp với q trình đào tạo tại nhà trường. Định mức chi bình quân cho chỉ



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



tiêu được NSNN cấp kinh phí khơng phản ánh chi phí thực tế của quá trình đầu

tư, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học.

- Kế hoạch đào tạo phân tán chồng chéo (nhiều Bộ/ngành cùng quản lý

trường) giao chỉ tiêu tuyển sinh chưa tập trung vào đầu mối theo quy hoạch nên

lập kế hoạch chi thường không bám sát yêu cầu của Bộ, địa phương có trường

đào tạo.

3.3. Về qui trình cấp phát và quyết tốn chi NSNN cho đào tạo đại học

- Quy trình cấp phát và quyết toán chi NSNN chưa thực sự thống nhất

trong tồn ngành, còn chắp vá, chưa đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Bộ

GD - ĐT và BTC khó có số liệu tổng hợp để phản ánh một cách kịp thời, chính

xác về tình hình hiện NSĐP cho đào tạo đại học ở các địa phương, Bộ/ngành.

- Sử dụng nguồn tài chính từ NSNN hiện nay đòi hỏi đúng mục đích, cơ

cấu và nội dung chi. Nếu thủ tục thanh tốn còn rườm ra trong điều kiện tiến độ

cấp phát Ngân sách không ăn khớp với tiến độ triển khai thực hiện kế hoạch đào

tạo thì tình trạng tồn đọng kinh phí đến cuối năm vẫn còn là vấn đề nan giải.

- Việc cấp phát NSNN cho đào tạo đại học còn phân tán nhiều cấp, nhiều

ngành. Việc cấp phát kinh phí giữa TW và địa phương thường khơng thống nhất

nên bị chồng chéo, có khi gián đoạn và việc tổng hợp báo cáo hết sức kho khăn.

- Quy trình cấp phát kinh phí đào tạo đại học như hiện nay không tập trung

về một đầu mối quản lý là Bộ GD - ĐT đã ảnh hưởng đến việc thu thập thơng tin

về kinh phí đầu tư cho đào tạo đại học, Bộ GD - ĐT khó có số liệu tổng hợp tình

hình đầu tư NSNN cho tất cả các trường đào tạo Đại học.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



- Quản lý việc cấp phát, sử dụng, quyết tốn ngân sách cho đào tạo đại học

nói riêng và cho GD - ĐT nói chung hiện nay còn nhiều khoản mục chi tiết, cứng

nhắc khơng phù hợp với tính đa dạng của q trình đào tạo.

Những tồn tại trên đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu để tìm ra các giải pháp

thích hợp đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách cho đào tạo đại

học trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước. Trong điều kiện nguồn vốn NSNN hạn

hẹp, việc tổ chức quản lý , lập kế hoạch, phân bổ, cấp phát, sử dụng thanh quyết

toán các khoản chi NSNN cần phải được cải tiến phù hợp với yêu cầu phát triển

của GD - ĐT nói chung và sự nghiệp ĐTĐH nói riêng.

4. Kinh nghiệm quản lý chi cho đào tạo đại học của các nước :

Đối với nhiều nước trên thế giới, việc quản lý nguồn NS cho GD - ĐT

thực hiện theo cơ chế phân cấp khác nhau tuỳ theo mô hình kinh tế – xã hội

chính sách của mỗi nước.

 Quản lý tài chính cho Giáo dục Đại học ở Ausiralia :

Ở Ausiralia bộ máy chính quyền Nhà nước tổ chức theo kiểm liên bang.

Từ năm 1974 Chính phủ đó hồn tồn do các Bang quản lý. Nguồn tài chính từ

ngân sách cho Giáo dục Đại học do chính phủ liên bang. Bộ Tài chính, Bộ GD ĐT việc làm – các vấn đề thanh niên và trường ĐH thamg gia trong q trình

phân bổ, cấp phát. Vai trò của Bộ Tài chính trong q trình đó dừng lại khi quốc

hội phê chuẩn và chính phủ thơng báo chính thức mức chi ngân sách cho GD đại

học trong 3 năm tới. Các cơng việc còn lại của q trình phân bổ kinh phí cụ thể

cho các trường ĐH hồn tồn phụ thuộc Bộ GD - ĐT việc làm và các vấn đề

thanh niên. Kinh phí cho đào tạo đại học được cấp trọn gói cho các trường trong

3 năm - ngay khi bước vào năm đầu. Các trường định kỳ (2 tuần / lần) rút kinh



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



phí ở Ngân hàng và tự chủ với trách nhiệm và quyền hạn cao trong lĩnh vực đảm

bảo điều kiện về tài chính đáp ứng nhu cầu cơng việc theo chức năng nhiệm vụ

của mình.

 Quản lý tài chính cho Giáo dục Đại học ở Thái Lan :

Ở Thái Lan, cơ quan quản lý GD - ĐT bao gồm: Bộ GD chịu trách nhiệm

chính về Giáo dục tiểu học, trung học và phần lớn đào tạo giáo viên, dạy nghề.

Bộ ĐH quản lý các trường ĐH, học viện, trường CĐ của Nhà nước cũng như tư

nhân. Uỷ ban Giáo dục Quốc Gia trực thuộc Chính phủ giải quyết tồn bộ các

chính sách kế hoạch dài hạn cho các cấp giáo dục trên cơ sở đó cơ quan tài chính

lập kế hoạch cấp phát kinh phí.

Ngân sách của Chính phủ là nguồn chủ yếu đầu tư cho phát triển giáo dục

ở Thái Lan. Năm 1997 chi phí đào tạo đại học ở Thái Lan chiếm 15,39% trong

tổng ND đầu tư cho GD ĐT. Bên cạnh phần Ngân sách của Chính phủ dành cho

đào tạo đại học, chính phủ Thái Lan đặc biệt khuyến khích khu vực tư nhân đầu

tư cho đào tạo đại học thơng qua chính sách ưu đãi đầu tư; miễn thuế đào

tạo,giảm thuế cho các cơng trình xây dựng cơ sở hạ tầng cho GD.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO

DỤC ĐẠI HỌC

Những

1. Những căn cứ để tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho đào tạo

đại học.

1.1. Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Đào tạo đại học nói riêng và GDĐT nói chung ở nước ta đang phát triển

trong bối cảnh kinh tế xã hội mới là : Năm 2005 là năm cuối cùng của kế hoạch

5 năm 2001-2005 vì thế trong năm này các cấp các ngành đang gấp rút hoàn

thành các nhiệm vụ của mình, để có thể đạt được các chỉ tiêu kế hoạch đã đề

ra.Trong năm nay chỉ tiêu phát triển GDP là 8,5%,đây là một nhiệm vụ tương đối

nặng nề đối với các cấp các ngành liên quan; Chúng ta đang nỗ lực để đựoc gia

nhập WTO trong năm 2005 này; Bên cạnh đó nền kinh tế của chúng ta đang

trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bước sang nền kinh tế tri thức.Vì thế

vai trò của giáo dục đại học là vô cùng quan trong để đào tạo ra nguồn lao động

có kỹ năng, có trình độ cao; Luật giáo dục 1998 đang được các nhà làm luật

nghiên cứu để sửa đổi và bổ sung; …Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của đất

nước trong thời gian này có ảnh hưởng tới sự phát triển của đào tạo đại học và vì

thế cung ảnh hưởng đến các chính sách nhằm tăng cường quản lý chi NSNN cho

đào tạo đại học .



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



1.2. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GDĐH giai

đoạn 2001-2010.

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 –2010) của nước ta

đã nêu lên rõ các quan điểm phát triển chung là:

 Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực

hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho

một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết.

 Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và huy động mọi

nguồn lực.

Theo quan điểm này, phát triển GDĐH ở nước ta trong giai đoạn trước

mắt phải coi trọng vần đề chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, phải thu hút mạnh mẽ

các nguồn vốn đầu tư. Mặt khác trong tương lai chúng ta sẽ có những bước nhảy

vọt về kinh tế và cơng nghệ, do đó phải đặc biệt chú trọng vốn đầu tư cho việc

đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – cơng nghệ.

Trong q trình xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật đáp

ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH phải chú trọng đến kết cấu hạ tầng kinh

tế xã hội, trong đó có GDĐH để góp phần phát triển mạnh nguồn lực con người

với yêu cầu ngày càng cao. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết

hợp các nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế

xã hội nói chung, phát triển GDĐH nói riêng là tất yếu khách quan phù hợp với

điều kiện và hoàn cảnh đất nước.

GDĐH cần phát triển nhiều loại hình đào tạo, chú trọng phát triển loại

hình giáo dục ngồi cơng lập, đồng thời tăng cường vai trò chủ đạo của hệ thống

giáo dục công lập. Việc tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút mạnh mẽ và



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 9: Định mức chi NSNN cho đào tạo đại học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×